BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
********
NGUYỄN THỊ THANH MAI
LÝ NAM ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA CƯ DÂN VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI, 2017
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
********
NGUYỄN THỊ THANH MAI
LÝ NAM ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA CƯ DÂN VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62310640
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .....................................................................13
1.2. Cơ sở lý luận ...................................................................................................28
1.3. Không gian văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ với việc phụng thờ Lý Nam Đế. ....42
Tiểu kết ..................................................................................................................48
Chƣơng 2: VIỆC PHỤNG THỜ LÝ NAM ĐẾ TỪ TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH
ĐẾN DI TÍCH VÀ LỄ HỘI .......................................................................................49
2.1. Truyền thuyết, thần tích về Lý Nam Đế .........................................................49
2.2. Hệ thống di tích thờ Lý Nam Đế ....................................................................59
2.3. Lễ hội thờ Lý Nam Đế ....................................................................................68
Tiểu kết ..................................................................................................................77
Chƣơng 3: VAI TRÒ CỦA VIỆC PHỤNG THỜ LÝ NAM ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA CỦA CƢ DÂN VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ............................................. 78
3.1. Vai trò của việc phụng thờ Lý Nam Đế đối với chủ thể và nhu cầu văn hóa .78
3.2. Vai trò của việc phụng thờ Lý Nam Đế đối với các hoạt động văn hóa .............94
3.3. Vai trò của việc phụng thờ Lý Nam Đế đối với các sản phẩm văn hóa ...........109
Tiểu kết ................................................................................................................115
Chƣơng 4: XU HƢỚNG PHỤNG THỜ LÝ NAM ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN
NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA......................................................................117
4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phụng thờ Lý Nam Đế hiện nay .................117
4.2. Xu hướng vận động và biến đổi của việc phụng thờ Lý Nam Đế ................123
4.3. Việc phụng thờ Lý Nam Đế trong tương quan với tín ngưỡng thờ anh hùng
dân tộc của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ ....................................................141
4.4. Việc phụng thờ Lý Nam Đế trong đời sống văn hóa hiện nay: những vấn đề
đặt ra ....................................................................................................................146
Tiểu kết ................................................................................................................151
KẾT LUẬN ..............................................................................................................153
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
: Đời sống văn hóa
ĐTH
: Đô thị hóa
GS
: Giáo sư
GS.TS
: Giáo sư, Tiến sĩ
HN
: Hà Nội
KHXH
: Khoa học Xã hội
NCS
: Nghiên cứu sinh
Nxb
: Nhà xuất bản
: Tiến sĩ
UBND
: Ủy ban nhân dân
VHTT
: Văn hóa Thông tin
3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Stt
Nội dung bảng thống kê
Trang
1
Bảng 3.1: Thành phần, nghề nghiệp người dân tham dự lễ hội thờ
82
Lý Nam Đế
2
7
Biểu đồ 3.4: Vai trò của Lý Nam Đế trong đời sống tâm linh của cư
89
dân vùng châu thổ Bắc Bộ
8
Biểu đồ 3.5: Tần suất tham dự lễ hội thờ Lý Nam Đế
95
9
Biểu đồ 3.6: Hình thức đi lễ của người dân
106
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Những năm gần đây, trong tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước, với xu hướng quay về cội nguồn nhằm bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, không
khí sôi nổi của các hoạt động của nhiều tầng lớp dân cư trên mọi miền đất nước (như
tổ chức lễ hội, trùng tu tôn tạo di tích…) đang trở thành một hiện tượng văn hoá thu
hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu. Bên cạnh các hình thức tín ngưỡng
đang được phục hồi và ngày càng phát triển mạnh mẽ như: thờ cúng tổ tiên, thờ thành
nhiên, nếu như góc độ L Nam Đế - một vị tướng tài trong lịch sử được các nhà sử
học chú trọng nghiên cứu và ghi chép một cách trân trọng trong chính sử thì L
Nam Đế với tư cách một vị thần/thánh, một nhân vật với nhiều yếu tố huyền thoại
5
trong đời sống văn hoá cộng đồng lại là một lĩnh vực hầu như vẫn còn để trống,
chưa được lưu tâm nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu đi trước chưa phản
ánh được toàn diện sinh hoạt tín ngưỡng này một cách hệ thống, tổng thể mà mới
chỉ nhìn nhận nó như một hiện tượng văn hoá riêng lẻ. Như vậy, cần có một công
trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về việc phụng thờ Lý Nam Đế, tìm hiểu
vai trò cũng như quá trình vận động, biến đổi của hiện tượng văn hoá này trong đời
sống văn hóa từ xưa đến nay, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên - kinh tế xã hội tại vùng đất mà nó tồn tại cũng như cơ sở văn hóa xã hội – lịch sử cho sự
hình thành, tồn tại và phát triển của tín ngưỡng này.
1.3. Nghiên cứu về
ế và ảnh hưởng của việc phụng thờ Ông trong
đời sống văn hoá của người Việt ở Bắc Bộ là mảng đề tài mà NCS đã quan tâm từ
nhiều năm nay, đã có những nghiên cứu bước đầu trong luận văn thạc sĩ và một số
bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành. Quá trình nghiên cứu đã gợi
mở cho NCS nhiều băn khoăn, suy ngẫm. Với những vấn đề còn bỏ ngỏ, việc tiếp
tục triển khai đề tài này sẽ là cơ hội cho NCS được mở rộng, phát triển chuyên sâu
hơn đề tài mình tâm huyết với hy vọng sẽ làm rõ về hình tượng người anh hùng dân
tộc Lý Nam Đế qua các tài liệu folklore (truyền thuyết, thần tích…) và sức sống của
nhân vật trong tâm thức dân gian (lễ hội, phong tục…), góp phần hiểu thêm về một
vị vua mà thời gian đã làm cho mờ ảo đi nhiều, để từ đó biết trân trọng và giữ gìn
những giá trị lịch sử văn hóa mà cha ông để lại.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
hóa của việc phụng thờ Lý Nam Đế trong bối cảnh xã hội hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là: tín ngưỡng thờ Lý Nam
Đế và vai trò của tín ngưỡng thờ Lý Nam Đế đối với đời sống văn hóa của cư dân
vùng châu thổ Bắc Bộ. Khi tiếp cận nghiên cứu đối tượng trên, NCS sẽ không chú ý
nhiều tới khía cạnh Lý Nam Đế là một nhân vật lịch sử mà chủ yếu nhìn nhận Ông
7
như một nhân thần được phụng thờ trong tâm thức dân gian gắn liền với các thành
tố truyền thuyết, thần tích – di tích – lễ hội và phong tục thờ cúng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu là toàn vùng châu thổ Bắc
Bộ, trong đó NCS tập trung nghiên cứu, tìm hiểu hai địa bàn có nhiều địa danh lịch
sử và nhiều truyền thuyết/thần tích, lễ hội gắn liền với sự nghiệp dựng nước Vạn
Xuân của Lý Nam Đế là Hà Nội và Thái Bình, trong đó các địa điểm chính được lựa
chọn khảo sát và phát phiếu điều tra: làng Giang Xá, làng Lưu Xá, xã Đức Giang,
huyện Hoài Đức; làng Đại Tự, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức (Hà Nội); làng An
Để, Phương Tảo, xã Xuân Hòa, huyện Vũ Thư; làng Cổ Trai, xã Hồng Minh, huyện
Hưng Hà; làng Thượng Hộ, xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư; làng Tử Các, xã Thái Hòa,
huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình).
Ngoài ra luận án mở rộng khảo sát, tìm hiểu một số di tích, lễ hội khác có thờ
phụng Lý Nam Đế để nghiên cứu đối chứng nhằm tìm ra những giá trị tương đồng và
khác biệt: thôn Cổ Pháp, huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), huyện Lập Thạch (Vĩnh
Phúc), huyện Tam Nông (Phú Thọ), …
* Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu sự hình thành, tạo dựng
truyền thống và sáng tạo các di sản văn hóa, những ảnh hưởng của việc phụng thờ Lý
Nam Đế từ xưa cho đến nay, tuy nhiên sẽ tập trung hơn vào khoảng thời gian từ năm
trường vào lễ hội tín ngưỡng...trên cơ sở đó lên kế hoạch chi tiết cho việc đi khảo
sát thực địa tại địa bàn nghiên cứu. Đồng thời kế thừa và vận dụng quan điểm
nghiên cứu của những người đi trước vào trong quá trình triển khai, nghiên cứu
những nhìn nhận mới, cách tiếp cận mới trong luận án.
Phương pháp quan sát tham dự: đây là phương pháp đã được NCS sử dụng
trong quá trình khảo sát thực tế tại địa phương để có được những tư liệu chân thực,
phản ánh đúng thực trạng vấn đề nghiên cứu có sự trải nghiệm thực tế. Chính vì vậy
trong suốt thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến 2015 tác giả luận án đã tiến hành
nhiều đợt khảo sát khác nhau. Trong những đợt khảo sát đầu tiên để tiếp cận và có
những nhận định tổng quan về địa bàn nghiên cứu, NCS sử dụng phương pháp
chính là phương pháp quan sát (quan sát cảnh quan, không gian làng, đời sống vật
chất và tinh thần của người dân…). Những đợt khảo sát tiếp theo, NCS tiếp tục
quan sát, tham dự mô tả và trao đổi với người dân ở các làng xã để thu thập thông
tin tư liệu chủ yếu trên một số phương diện: truyền thuyết/thần tích, di tích và lễ
hội. Đặc biệt vào đúng dịp lễ hội, NCS quan sát toàn bộ tiến trình của lễ hội, các
9
hoạt động sửa sang, trang trí tại đình, đền, các ngõ xóm, đình làng và trực tiếp tham
dự vào một số cuộc họp bàn để chuẩn bị cho lễ hội, tham dự các công việc chuẩn bị
cho lễ hội, quan sát không gian văn hóa tinh thần của người dân dự lễ hội.
Ngoài những thời điểm quan trọng (lễ hội), NCS cũng tiến hành khảo sát, nghiên
cứu vào những thời điểm khác trong năm như ngày rằm, mồng một, dịp đầu năm, cuối
năm...Tất cả những lần quan sát tham dự đều được NCS ghi chép lại cẩn thận trong nhật
ký điền dã. Đó là những tư liệu định tính có giá trị thực được dùng để trích dẫn trong
luận án. Ngoài ra, trong mỗi lần xuống khảo sát thực tế tại địa phương NCS đã tìm kiếm
và sưu tầm những nguồn tài liệu chữ viết như văn bia, hương ước, câu đối, thơ văn, các
tài liệu viết tay do các cụ cao tuổi trong các làng lưu giữ.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Đối tượng phỏng vấn là các cụ cao tuổi những
Trong đó số phiếu hợp lệ là 687 phiếu, số phiếu không hợp lệ là 06 phiếu. Người
trả lời phiếu trưng cầu là các tầng lớp dân cư ở mọi lứa tuổi, giới tính, thành phần
khác nhau. Để triển khai thực hiện chương trình, tác giả luận án đã phối hợp với
các cán bộ quản lý ở địa phương, thành phần gồm lãnh đạo cấp xã, huyện và
trưởng các thôn xóm. Địa điểm thực hiện phát phiếu trưng cầu ý kiến: làng Giang
Xá, làng Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức; làng Đại Tự, xã Kim Chung,
huyện Hoài Đức (Hà Nội); làng An Để, Phương Tảo, xã Xuân Hòa, huyện Vũ
Thư; làng Cổ Trai, xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà; làng Thượng Hộ, xã Hồng Lý,
huyện Vũ Thư; làng Tử Các, xã Thái Hòa, huyện Thái Thụy (tỉnh Thái Bình). Sở
dĩ tác giả luận án lựa chọn hai địa bàn này bởi đây là hai nơi có nhiều di tích thờ
Lý Nam Đế, gắn liền với những dấu tích quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp
của Lý Nam Đế. Mặt khác, tại hai địa bàn này Lý Nam Đế có tầm ảnh hưởng và
vai trò nhất định trong đời sống văn hóa của cộng đồng. Kết quả điều tra với
những số liệu định tính kết hợp với các cuộc phỏng vấn sâu sẽ góp phần minh
chứng cho những nhận định trong luận án.
Phương pháp phân tích, diễn giải, so sánh: trên cơ sở những nguồn thông tin
thu thập được từ nghiên cứu điền dã, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và những số
liệu có được từ điều tra bằng bảng hỏi, những tài liệu như thư tịch, sách báo, bài
viết tạp chí đã công bố và các tài liệu thu thập được từ cộng đồng (hồ sơ di tích,
truyền thuyết/thần tích...) cùng với các cuộc phỏng vấn hồi cố sẽ được NCS phân
tích, diễn giải và so sánh nhằm làm sáng rõ việc phụng thờ Lý Nam Đế (chương 2);
11
Luận án tìm hiểu, phân tích, lý giải tình cảm, tâm lý, mong muốn của những người
đi lễ từ việc phân tích các số liệu điều tra qua bảng hỏi và những văn bản phỏng vấn
để thấy được vai trò của Lý Nam Đế trong đời sống văn hóa cộng đồng (chương 3).
Trên cơ sở phân tích những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về vấn đề văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, sự chuyển đổi kinh tế, xã hội của
5.4. Trên cơ sở phân tích những biến đổi trong đời sống văn hóa đương đại,
nhu cầu văn hóa của cộng đồng luận án khẳng định tín ngưỡng thờ Lý Nam Đế đang
tồn tại và vận động trong xã hội Việt Nam đương đại và chắc chắn vẫn còn cơ sở để
bảo tồn trong tương lai. Trong quá trình đó, cộng đồng đóng vai trò chủ đạo, do vậy,
cần nâng cao nhận thức, vai trò của cộng đồng phối kết hợp với Nhà nước, Chính
quyền địa phương trong công cuộc bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Lý Nam Đế.
6. Bố cục nội dung luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên
cứu của luận án được trình bày trong 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về
địa bàn nghiên cứu
Chƣơng 2: Việc phụng thờ Lý Nam Đế từ truyền thuyết/thần tích đến di tích
và lễ hội
Chƣơng 3: Vai trò của việc phụng thờ Lý Nam Đế trong đời sống văn hóa
của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ
Chƣơng 4: Xu hướng phụng thờ Lý Nam Đế trong đời sống hiện nay và
những vấn đề đặt ra
13
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu về Lý Nam Đế
Là một vị anh hùng dân tộc, vị vua khai sinh ra triều đại Tiền Lý vào thế kỷ
thứ VI, tên tuổi của Lý Nam Đế gắn liền với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân - một
giai đoạn quan trọng trong tiến trình lịch sử nước ta. Vì vậy, việc tìm hiểu về vị anh
hùng dân tộc này đã được đề cập đến ở nhiều công trình sưu tầm, biên soạn và nghiên
đề vua tên húy là Lý Bí hay Lý Bôn. Về tên gọi Lý Bí được khẳng định trong các
sách: Đại Việt sử ký toàn thư [74, tr.170], Việt sử cương mục tiết yếu [14, tr.40]. Các
sách giáo trình lịch sử Việt Nam đều ghi tên ông là Lý Bí. Tên gọi Lý Bôn được ghi
trong các sách: Đại Việt sử ký tiền biên [100, tr.101], Lịch triều hiến chương loại chí
[26, tr.222], Khâm định Việt sử thông giám cương mục [94, tr.167], Sử học bị khảo
[13, tr.349], Đại Nam dật sử, sử ta so với sử Tàu [122, tr.78]. Một số nhà nghiên cứu
thì cho rằng có thể dùng cả hai tên nói trên đều được bởi “chữ „Bí‟ còn có một âm
đọc khác là „Bôn‟. Tác giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược [66] viết tên Ông
là Lý Bôn và có thêm chú thích còn gọi là Lý Bí. Trong khi các nhà sử học Việt Nam
hiện nay khi viết sách về Ông đều ghi lẫn lộn khi thì Lý Bí, khi lại gọi Lý Bôn. Trong
một hội thảo khoa học năm 2012, tác giả Tạ Ngọc Liễn đã phân tích các tên gọi của
Lý Nam Đế và ông khẳng định nên thống nhất gọi tên Lý Bôn [137, tr.95]. Hiện nay
khi đi khảo sát NCS nhận thấy người dân ở các làng xã Thái Bình thường gọi Ông là
Lý Bôn, trong khi đó Hà Nội và các địa phương khác dùng tên gọi Lý Bí. Nhưng lại
có một thực tế là các địa phương có đền thờ Ông đều gọi quả bí là quả bầu có ý kiêng
tên húy của Ông. Do đó, trong luận án này NCS thống nhất một cách gọi: dùng tên
gọi Lý Bí khi Ông chưa xưng đế và Lý Nam Đế sau khi xưng đế.
Thứ hai, về gốc tích của Lý Nam Đế: Các bộ sử nước ta đều nói Lý Nam Đế
vốn gốc Trung Quốc. Tổ tiên Ông di cư sang Việt Nam từ cuối đời Hán và dần dần
được Việt hóa trở thành người Việt. Tuy nhiên, từ khi tổ tiên Ông sang Việt Nam
đến đời Lý Nam Đế là mấy đời và khi nào thì dòng họ Lý này được Việt hóa thành
người Việt thì cũng còn những tranh luận chưa thống nhất.
15
Thứ ba, về quê hương của Lý Nam Đế: đây là vấn đề được bàn luận khá sôi
nổi và gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu nhằm đi đến sự thống nhất về quê
hương của Ông. Cho đến trước hội thảo khoa học Một số vấn đề về vương triều Tiền
Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế [137], trong giới nghiên cứu vẫn tồn tại những
đến thế kỷ XIX được xuất bản lần đầu tiên năm 1955 cũng cho là “Lý Bôn là người
huyện Thái Bình (khoảng Ứng Hòa tỉnh Hà Đông và Quốc Oai tỉnh Sơn Tây ngày
nay), có tài văn võ” [5, tr.135]. Sau đó, năm 1975, trong sách Đất nước Việt Nam qua
các đời, Đào Duy Anh đã thu hẹp giới hạn phạm vi của huyện Thái Bình “vào
khoảng các huyện Quốc Oai, Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây” [6, tr.83]. Năm 1980, tác giả
Đỗ Đức Hùng trong một bài báo đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 191, tháng
3-4/1980 [53] đã bổ sung thêm cho nhận định của Đào Duy Anh là tên đất Thái Bình
là thuộc Hà Tây. Cụ thể là trên khu vực các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất
chứ không phải là tỉnh Thái Bình ngày nay. Tác giả đã dẫn các tài liệu cho thấy là tên
đất Thái Bình xuất hiện sau khi cuộc khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra. Cùng với đó, tác giả
đã đưa ra những chứng cứ cụ thể cho thấy ở thời Lý Nam Đế thì huyện Thái Thụy,
tỉnh Thái Bình vẫn còn là biển chứ chưa phải là đất liền. Ý kiến này đã được các tác
giả Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn tiếp nhận và đưa vào sách Lịch sử chế độ phong
kiến Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1963 [148].
Một số tác giả như Đinh Văn Nhật [79, 80], Minh Tú [131], Nguyễn Hữu
Khánh [60] đưa ra quan điểm huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mới là quê gốc của Lý
Nam Đế. Quan điểm này đã được nhiều tác giả trong hội thảo khoa học gần đây “Một
số vấn đề về vương triều tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế” [137] và “Vua Lý
Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão, xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”
đồng tình [138]. Trên cơ sở phân tích những sai sót của các bộ sử trước ghi chép về quê
hương của Lý Nam Đế, cùng với những tài liệu thu thập được thông qua các chuyến
điền dã, đặc biệt là bản thần tích “Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ
truyền” [18] được lưu giữ tại đình Giang Xá, huyện Hoài Đức, Hà Nội các nhà sử học
đã đi đến kết luận: quê hương gốc của Lý Nam Đế là làng Cổ Pháp thuộc xã Tiên Thù,
tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc xã Tiên Phong, huyện
Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Đồng thời theo kết quả nghiên cứu của giới sử học thì
hiện nay có ba địa phương gắn bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của Lý Nam Đế,
đó là xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là quê gốc của Lý Nam Đế;
tháng 3 năm 548). Tuy nhiên, gần đây, các nhà sử học phát hiện một số bằng chứng
18
cho thấy vua mất vào ngày 2 tháng 5 năm 548 chứ không phải ngày 20 tháng 3.
Điều này được ghi trong Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ truyền [18]
và tấm bia Giang Xá từ bi ký (soạn năm Tự Đức thứ 5 - 1852). Những tư liệu này đã
được các nhà sử học của Viện Sử học nghiên cứu kỹ và công bố trong hai cuộc hội
thảo gần đây vào năm 2013. Hiện nay, quan điểm của các nhà sử học ở viện Sử học
thống nhất là ngày mất của Lý Nam Đế là ngày 2/5/548 (âm lịch).
Về nơi mất của Lý Nam Đế được giới sử học thống nhất rõ ràng là ông mất ở
động Khuất Lão hay Khuất Liêu, Khuất Lạo (sở dĩ tồn tại các cách gọi khác nhau là
do cách phát âm khác nhau giữa các địa phương chứ thực ra nó là cùng một mặt chữ
Hán trên các văn bản). Động Khuất Lão được xác định nằm trên địa bàn xã Văn
Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay, vẫn còn di tích mộ và đền thờ
của Ông ở đây.
Ngoài ra, ở hầu hết các bộ sử nước ta, không sử gia nào không ca ngợi võ
công đánh giặc, cứu nước của đức vua Lý Nam Đế. Dưới con mắt của các nhà sử
gia, Lý Nam Đế được nhắc đến với tư cách là một vị anh hùng dân tộc, vị vua khai
sinh ra triều đại Tiền Lý vào thế kỷ thứ VI, tên tuổi của Lý Nam Đế gắn liền với sự
ra đời của nhà nước Vạn Xuân - một giai đoạn quan trọng trong tiến trình lịch sử
nước ta. Ông được coi là một nhân vật lịch sử quan trọng, đại diện cho một thời kỳ
lịch sử của dân tộc ta: thời Tiền Lý.
• Những ghi chép, nghiên cứu về Lý Nam Đế qua các thư tịch cổ Trung Quốc
Cùng những sự kiện liên quan đến Lý Nam Đế, trong các sách sử của Trung
Quốc cũng có ghi chép về Ông và cuộc khởi nghĩa do Ông lãnh đạo. Rất tiếc do đây
là nguồn tư liệu hiếm cho nên trong quá trình sưu tầm NCS chưa có được những
văn bản chính thức để đối sánh. Tuy nhiên trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu
của các nhà sử học Việt Nam, NCS đã tìm được một số bài viết liên quan đến vấn
nguyên)” [137, tr.95].
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về hệ thống di tích, truyền thuyết, nghi
thức thực hành tín ngưỡng thờ Lý Nam Đế
Trong quá trình sưu tầm tư liệu viết về Lý Nam Đế, NCS nhận thấy rằng
những nghiên cứu về Ông dưới góc nhìn văn hóa còn khá ít ỏi. Các công trình
nghiên cứu từ xưa đến nay mới dừng lại ở việc giới thiệu, khảo tả các di tích, lễ hội
ở một số địa phương riêng lẻ.
20
Năm 1938, với công trình Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt
Nam: Lý Phục Man [50, tr.289 - 401], tác giả Nguyễn Văn Huyên được coi là một
trong những người mở đầu cho việc nghiên cứu các di tích, truyền thuyết nhà Tiền
Lý qua việc nghiên cứu về tục thờ thành hoàng làng Việt Nam. Mở đầu chuyên
khảo, ông viết: “Việc thờ thành hoàng tồn tại ở tất cả các làng vùng châu thổ Bắc
Kỳ, trừ ở các làng theo đạo Thiên Chúa. Đó là vị thần bảo hộ làng xã” [50, tr.289].
Trong chuyên khảo này ông đã dẫn ý của nhà sử học người Pháp H. Maspero về
lịch sử của việc thờ thành hoàng và việc viết thần tích ở các mốc 1572 gắn liền với
tên tuổi của Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính và 1739 gắn liền với tên tuổi của
Nguyễn Hiền. H.Maspero khi nhắc đến việc viết thần tích đã nhắc đến ví dụ về
trường hợp Lý Bí như sau:
Nét đặc trưng của các tiểu sử này (tức thần tích) là người ta thường hay
đưa vào đấy những tư liệu lịch sử hay giả lịch sử thành văn để thay thế
hoặc chí ít pha trộn với các truyền thuyết miệng của địa phương. Hơn nữa,
việc pha trộn này thường lại không được kèm theo sự phê phán khiến cho
đôi khi người ta lại thấy xuất hiện trở lại cái truyền thuyết cũ với những
điều phi lí và sai lệch niên đại của nó. Thí dụ, trong thần tích của làng Hạ
Mỗ, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (hiện nay là tổng Thượng Hội, phủ
Hoài Đức, tổng Hà Đông - chú thích của Nguyễn Văn Huyên), Lý Bí được
Năm 1989, Tạ Chí Đại Trường xuất bản cuốn Thần, người và đất Việt [125]
tại Hoa Kỳ. Cuốn sách đã được các độc giả trong và ngoài nước hoan nghênh và
được nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá “đây là một công trình nghiên cứu
khoa học nghiêm túc về quá trình phát triển của tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ
thời cổ đại đến ngày nay” [125, tr.3]. Để rộng đường dư luận, nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin đã cho in nguyên văn công trình này. Trong cuốn sách, tác giả đã có một
cái nhìn lịch sử về việc thờ thần ở Việt Nam, trong đó, ông chỉ ra sự lẫn lộn thần
người ở những giai đoạn chưa có sử, trong đó có thời Tiền Lý. Ở đây, ông chỉ ra
bản chất nhiên thần, cụ thể là thủy thần của các nhân vật thời Tiền Lý như Triệu
Quang Phục và Trương Hống, Trương Hát. Về Lý Bí, Tạ Chí Đại Trường đã chỉ ra
tính chất lịch sử và đã nhìn nhận nhân vật này trong mối quan hệ chặt chẽ với các vị
thần sông nước. Những tư liệu và hướng nghiên cứu này của Tạ Chí Đại Trường đã
cung cấp một cái nhìn lý thú cho NCS khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Lý Bí với
22
các nhân vật liên quan với Ông trong truyền thuyết dân gian cũng như mối quan hệ
nào đó giữa tục thờ này với môi trường sinh thái vùng sông nước, với môi trường
văn hóa ở đây và lịch sử phát triển của vùng đất.
Với xu hướng tôn vinh lịch sử, ca ngợi người anh hùng dân tộc Lý Nam Đế
và quá khứ hào hùng, các tác giả về sau đã biên soạn lại các truyền thuyết và lưu
giữ trong các kho thư viện hiện nay. Những truyền thuyết này mang dấu ấn của
người biên soạn với kết cấu khá hoàn chỉnh, nội dung được trau chuốt, chọn lọc, lời
kể có hệ thống, mạch lạc. NCS đã thống kê được các truyền thuyết về Lý Nam Đế ở
các nguồn thư tịch sau: Truyền thuyết Việt Nam [2], Truyền thuyết anh hùng cứu
nước và truyền thuyết địa danh [69], Tổng tập Văn học dân gian người Việt [46]…
Nội dung các truyền thuyết theo dạng này thường dựa vào những sự kiện được chép
trong các bộ sử, đó đơn thuần là những sự kiện lịch sử khô khan và ít mang tính
thần kỳ, tuân thủ theo kết cấu của một thần tích: lai lịch - tài đức - sự nghiệp - chết