01 đề tài nghiên cứu về nghệ thuật hát quan họ trong đời sống văn hóa của người dân bắc ninh - Pdf 24

NGHỆ THUẬT HÁT QUAN HỌ XỨ KINH BẮC ( TỈNH BẮC NINH )
Bố cục của đề tài nghiên cứu:
A. Phần Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4. Đối tượng nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
B. Phần Nội Dung:
Chương I: Sơ lược về Dân ca Quan Họ
1.1. Kinh Bắc- chiếc nôi của Quan họ. Quan
1.2. Nguồn gốc của Dân ca Quan Họ.
1.3. Văn hóa Quan họ được hình thành dựa trên các yếu tố Văn hóa – Nghệ
thuật dân gian.
1.4. Dân ca Quan họ với các lễ hội truyền thống.
Chương II: Giá trị tư tưởng của lời ca
2. Đôi nét về lời ca
2.1. Giá trị tư tưởng của lời ca
2.2. Nghệ thuật thơ ca trong lời ca Quan họ
2.2.1. Sự mộc mạc và trau chuốt của các làn điệu Dân ca Quan họ.
2.2.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng trong thơ ca.
2.2.3. Nghệ thuật sử dụng từ có nghĩa xác định cụ thể để mở ra sự trừu tượng,
sự hàm ý phong phú, sâu rộng của lời ca.
A. Phần Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Đoàn Dân ca Quan họ ra đời 1969 và ngày càng trưởng thành đến
ngày 14/07/1994 UBND tỉnh Hà Bắc ra quyết định thành lập trung tâm văn
hóa Quan họ. Ngày 10/05/1995 tổ chức lễ ra mắt trung tâm văn hóa Quan họ
và đi vào hoạt động. Đó là một sự nghiệp mới hết sức có ý nghĩa đối với sự
nghiệp chấn hưng văn hóa Quan họ. Quê hương ấy vậy là một vùng đất rộng

quan họ. Tất cả những điều đó đang có tác động không nhỏ đến sự phát triển
lành mạnh của một loại hình nghệ thuật mang đậm bản sắc một vùng xứ Kinh
Bắc. Sự biến dạng từ quan họ gốc đến quan họ hiện đại là điều khó tránh
khỏi. Vấn đề quan trọng là cần nhận thức rạch ròi các khái niệm, xác định
chính xác hình thức nào cần bảo tồn và hình thức nào được phép cải tiến phát
huy. Đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu dân ca quan họ, đánh
giá những giá trị đóng góp của loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo này như:
1. Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc, Dân ca quan
họ Bắc Ninh, Nxb Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962. 2. Nhiều tác giả,
Một số vấn đề về dân ca quan họ, Ty Văn hóa Hà Bắc, 1972. 3. Đặng Văn
Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý, Quan họ - Nguồn gốc và quá trình phát
triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. 4. Trần Linh Quý, Hồng Thao,
Tìm hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997. 5.
Nhiều tác giả, Thông tin văn hóa Bắc Ninh, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh,
2000. 6. Tư liệu điền dã của tác giả năm 1992, 1997, 2006. Hồng Thao, 300
bài dân ca quan họ Bắc Ninh, Viện Âm nhạc, Hà Nội, 2002.
Các tác phẩm trên đã đi sâu vào nghiên cứu âm nhạc trong dân ca quan
họ hoặc chỉ coi sự hình thành và phát triển của nghệ thuật hát quan họ như
một yếu tố, môt tiền đề cho sự hình thành một loại hình nghệ thuật khác…
Song nghiên cứu dân ca quan họ từ một góc độ một loại hình nghệ thuật hát
trong đời sống văn hóa của người dân để từ đó gợi mở những giải pháp thích
3
hơp. Để phát huy tốt vốn di sản văn hóa đặc sắc này, cần phải có những khảo
sát, đánh giá đúng thực trạng của nghệ thuật hát quan họ.
2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu lịch sử và phát triển của dân ca quan họ ở Đồng bằng Bắc Bộ
nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng, để nhận thấy nét độc đáo, đặc sắc của
một loại nghệ thuật mang tính chất rất rõ nét về văn hóa vùng miền nơi đây.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng trong nghệ thuật hát quan họ ở xứ Kinh Bắc,

mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ Phù
Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du Thành cổ Luy Lâu ở
xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp
nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật
giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên. Bắc Ninh
nổi tiếng với các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ
mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan; Các di
tích lịch sử, như: đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc,
đình làng Đình Bảng Địa danh Kinh Bắc đã được nói đến từ lâu với cái tên:
Bắc Giang Lộ hay Kinh Bắc Lộ, Bắc Giang thừa tuyên hay Kinh Bắc thừa
tuyên, Kinh Bắc trấn và cái tên Bắc Ninh (ước muốn yên bình cho một vùng
đất quan trọng phía Bắc Tổ quốc nằm xa kinh thành Huế) do vua Minh Mạng
đổi tên năm 1822. Vùng đất có độ tuổi hàng nghìn năm này là nơi giao lưu
của các luồng văn hóa lớn được du nhập từ Trung Hoa, Ấn Độ Vì lẽ đó, văn
hóa Kinh Bắc mang nhiều nét “cung đình”, là một vùng văn hóa ít bị đứt gãy
về mặt thời gian nên các yếu tố văn hóa dân gian còn lưu lại đến ngày nay ít
nhiều đều được thừa hưởng nét văn hóa truyền thống. Đây chính là sự minh
chứng hùng hồn cho sự phong phú đa dạng và tiêu biểu hơn bất cứ địa
phương nào trên mảnh đất Việt ngàn năm văn hiến “Bắc Ninh là cái nôi phát
sinh của người Việt và văn hóa Việt” . Kinh Bắc còn là nơi khơi nguồn văn
5
hóa Quan họ. Nói đến Quan họ là nói đến nền văn hoá tổng thể hợp thành từ
nhiều yếu tố văn hóa hóa nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch sử lâu
dài, có nhiều tầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa; gắn bó với văn hóa,
văn minh làng xã, thu hút và biểu hiện những ước mơ; tập hợp và hành động
chung cho những nguyện vọng, những khao khát của con người xứ Bắc từ
nhiều đời đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trên
bình diện văn hóa - xã hội. Nền văn hóa Quan họ là do các lối chơi quan họ
của cộng đồng xây dựng nên, luôn luôn được cộng đồng sàng lọc trong dòng
chảy lịch sử. Việc khôi phục và bảo tồn những tinh hoa nhất, bản sắc độc đáo,

chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối
nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian. Một số
quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân
mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc
cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn
hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi
trở lại với dân gian.
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu
và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm
những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm
nào được đa số các học giả chấp nhận.
1.3 Văn hóa Quan họ là tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa,
nghệ thuật dân gian Dân ca quan họ: Từ xa xưa dân ca quan họ đã là món ăn
tinh thần, một nét sinh hoạt văn hóa đẹp của người dân Kinh Bắc. Đây là
những làn điệu dân ca đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ - thể loại dân ca
phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một
bài quan họ đều có giai điệu riêng. Có ít nhất 300 bài (giai điệu) quan họ đã
được ký âm (ghi âm bằng ký hiệu âm nhạc trên giấy), gồm những đoạn thơ,
bài thơ chủ yếu là thể lục bá do các nghệ nhân quan họ truyền thống bàn giao
cho các nhà sưu tầm lưu giữ cho đến hôm nay. Ngày nay, dân ca quan họ đã
7
phát triển và hoàn chỉnh cả về phương diện âm nhạc, lời ca và hình thức trình
diễn. Người vùng Kinh Bắc, từ già đến trẻ ai cũng hát được một vài làn điệu
quan họ. Người chơi quan họ sành điệu không chỉ hát hay, hát được nhiều làn
điệu mà phải hát được nhiều bài lời cổ. Người Kinh Bắc hát dân ca quan họ,
chơi quan họ không những trong dịp lễ hội mà cả trong khi lao động, trong
các đám giỗ chạp Mỗi khi lễ hội mùa xuân, các làn điệu quan họ với những
câu hát trữ tình làm say đắm lòng người quan họ và khách thập phương ngân
lên trong không gian văn hoá quan họ. Quá trình hình thành lời ca, làn điệu
quan họ gắn liền với quá trình phát triển của đời sống xã hội nhằm nâng cao

diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát
tốp, hát có múa phụ họa Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo
hai cách: không có ý thức và có ý thức. Nét đặc trưng của quan họ chính là ở
hình thức hát đối đáp giữa một bên liền anh và một bên liền chị trong không
gian văn hoá Quan họ. + Hát hội (hát vui và hát thi-hát giải): hình thức "hát
vui đôi câu để vui xuân, vui hội, vui bàu, vui bạn" là hình thức ca hát Quan họ
chủ yếu ở hội.
Khi hát mỗi nhóm Quan họ thường sắm sửa trầu, cau, hương, nến, hoa
quả để vào đình làm lễ thánh và cũng là lễ trình dân. + Hát cầu đảo (cầu
mưa): Người Quan họ cũng như đông đảo cư dân nông nghiệp trên quê hương
Quan họ dùng tiếng hát thấu đến trời cao và thế giới thần linh mong muốn
mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, dân an, vật thịnh, âm dương ngũ
hành, đất trời và con người hoà hợp + Hát kết chạ: Các làng đã kết chạ anh
chạ em (có nơi gọi là kết ước, ăn giải), vào dịp có hội lễ, chạ anh chạ em
thường mời nhau sang dự hội, mời nhau sang ca vui ở hội hoặc ca những canh
hát thâu đêm trong nhà gọi là hát kết chạ. + Hát giải hạn: Sau khi thực hiện
xong các nghi thức cúng lễ giải hạn, gia đình thường mời từ 4-6 nhóm Quan
họ vừa nam, vừa nữ đến nhà ca một đêm Quan họ với niềm tin cái may sẽ
đến, cái rủi sẽ qua. Hát giải hạn không bị gò bó nhiều vào lề lối mà có thể chỉ
ca đối đáp một bài theo giọng La rằng. + Hát mừng: Hát nhân ngày vui, mở
9
tiệc khao (khánh thành nhà, con cái đỗ đạt, lên thọ, thăng quan tiến chức ).
Ngoài những nghi lễ mời họ hàng, dân làng đến ăn mừng thì trong vùng Quan
họ thường mời những canh hát Quan họ của nhiều nhóm kéo dài có khi vài
ngày đêm.Trong cuộc hát mừng này, Quan họ không phải tuân thủ lề lối
nghiêm ngặt mà hầu hết là ca những bài giọng Vặt nội dung lời ca sâu nặng
nghĩa tình, gắn bó keo sơn và không khí hát phải thật vui (tránh những bài có
lời ca ai oán, trách móc, than thân trách phận). + Hát đối đáp: tuân theo lề
luật: đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời và hát đôi nam đối với nữ. + Hát
canh: Nhiều nơi kiêng chữ hát, nên canh hát còn được gọi là canh ca; chẳng

Quan họ gốc, hát thờ Thần được qui định chặt chẽ như: Chỉ có Quan họ
nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ chỉ được hát những những
giọng lề lối (giọng cổ) như: Hừ la, La rằng, Tình tang, Cây gạo có nội dung
ca ngợi công đức của Thần. Tuyệt đối không được hát giọng vặt có nội dung
nam nữ yêu đương. + Quan họ phần hội: Quan họ phần hội là để Quan họ
nam và nữ của các làng hát đối đáp giao duyên nhằm tạo không khí vui vẻ,
giải trí với nhau. Hội của các làng Quan họ hấp dẫn và quyến rũ nhất chính là
phần Quan họ hát đối đáp giao duyên với nhau. Bởi các liền anh, liền chị
bằng những làn điệu, những lời ca ngọt ngào đầy tình cảm thể hiện những tâm
trạng yêu đương, nhớ nhung, đằm thắm, da diết, quyến luyến của những lứa
đôi. Hẳn vì thế, ở những hội Quan họ như Diềm, hội Lim, hội Ó, hội Nhồi
người ta thấy từng tốp Quan họ nam và nữ say sưa hát ở sân đình, sân đền,
sân chùa, trên đồi núi, quanh đình chùa có khi tràn cả xuống bờ ruộng, trên
thuyền giữa sông nước. Sau phần lễ là phần hội, Quan họ chủ nhà đưa bạn
tham gia phần hát hội. Các liền anh, liền chị Quan họ từng tốp hát đối đáp
giao duyên say sưa bên nhau ở sân đình, sân chùa, tràn cả xuống những vạt
núi, đồi, ruộng và trên ao hồ quanh đình, chùa và đây chính là phần hấp dẫn
nhất của các lễ hội Quan họ. Sau khi tham gia hát hội, Quan họ chủ nhà đưa
bạn mình về “nhà chứa” để hát canh Quan họ với nhau. Vào canh hát Quan
họ, bao giờ Quan họ chủ nhà cũng mời trầu nước bằng những cử chỉ, lời ca
cung kính, tế nhị. Vào canh hát bao giờ người ta cũng hát đôi và hát đối theo
11
lề lối. Hát theo lề lối có nghĩa là các đôi Quan họ bắt đầu hát bằng hệ thống
giọng cổ như: Hừ la, La rằng, La hời, Tình tang, Cây gạo, Cái ả, Lên núi,
Xuống sông Hội Lim được coi là hội hát quan họ lớn nhất vùng Kinh Bắc
được tổ chức và trung tuần tháng Giêng âm lịch hàng năm, không khí lễ hội
rộn rã nhất và du khách thập phương cũng trảy hội đông nhất. Bên cạnh Hội
Lim, vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi Hội làng Diềm (6/2 âm lịch) nơi có đền
thờ Vua Bà, được coi là thủy tổ quan họ Ngoài hai Hội làng to nhất là Lim và
Diềm thì vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi những hội hát quan họ như: Bịu, Ó,

vì vậy, phương pháp tìm hiểu lời ca Quan họ có thể vận dụng được nhiều
phương pháp tìm hiểu và thưởng thức thơ nói chung, thơ ca dân gian nói
riêng. Quan họ có hệ thống lời ca riêng, đạt tới một trình độ riêng, đáp ứng
những nhu cầu văn hóa, nghệ thuật có nhiều nét riêng của sinh hoạt văn hóa
quan họ. Nhưng cũng như âm nhạc quan họ, lời ca quan họ đã du nhập, thu
hút tinh hoa của kho tàng thơ ca dân gian, dân tộc như: ca dao,tục ngữ, hệ
thống truyện thơ nôm, lời ca của hát chèo, tuồng, ả đào, ví, trống quân, vv
Chính vì vậy, khi tìm hiều lời ca quan họ cũng cần có những tri thức về thơ ca
dân gian, dân tộc để nhiều khi phải so sánh, đối chiếu, liên tưởng mới hiểu
đúng hoặc hiểu sâu một từ ngữ, một hình ảnh, hình tượng một lời ca. Khi
chúng ta có một hệ thống lời ca, am hiểu đặc điểm ra đời và lưu hành hệ
13
thống lời ca đó, có tri thức về thơ ca dân gian, dân tộc, hiểu và vận dụng được
các phương pháp tìm hiểu, thưởng thức thơ ca; đặt lời ca gắn liền với âm nhạc
và hoạt động ca hát quan họ chúng ta có thể hiểu được những giá trị nhiều
mặt của hệ thống lời ca quan họ.
2.1. Giá trị tư tưởng của lời ca Quan họ.
Nội dung tổng quát của hệ thống lời ca quan họ là sự mơ ước, khát
khao về hạnh phúc của cuộc sống. + Khao khát thương yêu và được thương
yêu Trong lời ca quan họ cần lưu ý: người ta ít khi dùng chữ yêu mà hầu hết
dùng chữ thương; ít khi xưng hô, gọi nhau bằng những chữ chàng, nàng,
mình, ta, anh, em mà hay dùng chữ người, ngay cả trong những bài bộc lộ sâu
sắc những tình cảm của tình yêu nam nữ. Về chữ thương và chữ yêu, trong
khẩu ngữ dân gian xưa, cũng ít khi dùng chữ yêu nói về tình yêu nam nữ. Cho
đến đầu thế kỷ XX, khi đi đến nhà gái dạm hỏi, bà mối hoặc ông mối cũng
thường nói: "Hai cháu đã thương nhau ", hoặc "hai cụ đã thương đến các
cháu ", hoặc "đã thương thì thương cho chót ". Mấy chục năm gần đây, chữ
yêu thay thế dần chữ thương. Về chữ Người trong lời ca Quan họ: "Người ơi,
Người ở đừng về”. Chữ "người" chứa đọng những tình cảm đậm đà, sâu sắc,
tinh tế. Cần lưu ý một vài điểm như vậy để khi vào tìm hiểu nội dung lời ca

Trúc xinh, trúc mọc đầu đình Anh Hai xinh, anh Hai đứng một mình
cũng xinh Trúc xinh, trúc mọc bờ ao Anh Ba xinh, anh Ba đứng nơi nào cũng
xinh Trúc xinh, trúc mọc đầu chùa Không yêu em lấy đạo bùa cho phải yêu
Tóm lại, sự khao khát yêu thương và được yêu thương giữa người với
người, được biểu hiện ở nhiều sắc thái tình cảm của tình bạn, tình yêu nam
nữ cùng với những đỉnh điểm nghệ thuật của thơ ca, âm nhạc quan họ, đã
trở thành nội dung tình cảm, tư tưởng chủ đạo trong hệ thống lời ca quan họ,
góp phần tạo nên bất diệt của những giá trị quan họ. + Một tình yêu thiên
nhiên, tình yêu quê hương thắm thiết Trước hết, đó là một quê hương "sơn
thuỷ hữu tình", những "đường về Quan họ", những "đầu làng có chiếc giếng
15
khơi", những "cây gạo chon von", một "quán Dốc chợ Cầu", một "quán trắng
phố Nhồi",…. Từ biển mặn, đầm lầy, ô trũng, qua bao thế hệ nhọc nhằn, cần
cù và sáng tạo mới có một cảnh sắc quê hương ấy. Gắn liền với thiên nhiên,
cảnh sắc ấy là những con người "như trúc mọc ngoài trời", có vẻ đẹp tâm hồn
toả lên từ đôi mắt "lấp lánh, nhấp nhánh" như sao trời. Tình yêu ấy lại càng
sâu sắc khi người quan họ xây và giữ gìn quê hương mình không chỉ bằng mồ
hôi, tâm sức và trí tuệ mà còn bằng máu, nước mắt, bằng những mất mát, hy
sinh lớn lao trong suốt trường kỳ lịch sử giữ nước và dựng nước khi lịch sử
và đất nước đặt trọng trách cho quê hương này là "phên dậu phía Bắc
của Thăng Long". Chính những tình cảm chủ đạo ấy trước hết đã góp phần
hun đúc nên tâm hồn, tình cảm, tài năng của người Quan họ, và, cùng với
sức sống dài lâu nhiều khi kỳ diệu của tiếng hát Quan họ, những tình cảm chủ
đạo trên mãi mãi thấm sâu trong lòng người nghe Quan họ, góp phần tạo nên
những tâm hồn nhậy cảm, gắn bó với sự yêu thương giữa con người với con
người, giữa con người cùng muôn vật, muôn loài.
2.2. Nghệ thuật thơ ca trong lời ca Quan họ.
Hầu hết lời ca của các bài ca Quan họ là thơ lục bát hoặc lục bát biến
thể. Có tài liệu đã thống kê, phân loại thì thấy trong tổng số 285 bài lời ca
Quan họ in trong cuốn sách ấy, có 237 bài theo thể lục bát hoặc lục bát biến

phong cách, một dạng hình, một tâm hồn cũng hết sức mộc mạc nhưng rất
đáng yêu của con người lao động một thời, con người ấy phải được miêu ta bằng
ngôn từ ấy. Chính sự mộc mạc nghệ thuật, không giống sự dễ dãi của ngôn từ lời
ca quan họ đã gây xúc cảm cho từ người lao động ít đến những bậc đại khoa,
những thi sĩ có tài. Chính vì vậy người sáng tạo lời ca biết gạn lọc, lựa chọn
ngôn từ ở trình độ cao, có một trình độ tích luỹ, am hiểu sâu rộng về thơ ca dân
gian và cao hơn hết là sự rung cảm nghệ thuật tinh tế, chân thành.
2.2.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng trong lời ca.
Có những hình tượng đã quen thuộc và được khẳng định giá trị nghệ
thuật trong thơ ca và nghệ thuật tạo hình từ rất sớm, ví dụ hình tượng cây trúc
17
trong thơ ca và hội hoạ, điêu khắc từ nhiều thế kỷ. Hình tượng cây trúc ta
thường gặp ấy đã trở nên biểu tượng cốt cách, phẩm chất của người quân tử:
cứng rắn, vươn thẳng, sức sống dẻo dai, bền vững trước mọi thử thách; ý chí
kiên định; nhân cách thanh cao Nhưng hình tượng cây trúc trong lời ca
Quan họ lại mang những biểu tượng gần gũi với phong độ, cốt cách, phẩm
chất đẹp đẽ của người bình dân:
Hôm nay xum họp trúc mai Tình trong một khắc, nghĩa dài trăm năm
Hình tượng con đò, con thuyền được biểu hiện khá thành công trong
nhiều bài ca Quan họ.
2.2.3. Nghệ thuật sử dụng từ có nghĩa xác định cụ thể để mở ra sự
trừu tượng, sự hàm ý phong phú, sâu rộng của lời ca.
Người Quan họ rất tài tình trong việc sử dụng nhũng từ có ý nghĩa xác
định cụ thể, để mở ra sự trừu tượng, sự hàm ý phong phú, sâu rộng, làm cho
lời ca ít lời mà sâu sắc, luôn luôn rộng mở về ý, khiến người nghe, người cảm
thụ phát huy được khả năng liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc. Thí dụ:
Năm canh, sáu khắc, người ơi! Người cười nửa miệng, em vui nửa lòng
Người cười nửa miệng, em vui nửa lòng: cửa nửa miệng, vui nửa lòng,
vừa là những hình ảnh cụ thể, là những từ mang tính xác định, nhưng lại để
người nghe rơi vào sự liên tưởng, tưởng tượng đạt tới cảm xúc. Ảnh hưởng

chân ở làng Diềm và ở lại dạy dân làm ăn, giáo hoá lễ nghĩa. Những lúc nông
nhàn, bà dạy dân các làn điệu hát đối đáp nam Tục kết bạn Dân ca Quan họ-
Nét sinh hoạt văn hóa giao duyên đậm chất trữ tình của hai Tục rủ bọn nữ.
Nhờ có bà, dân làng no đủ cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Khi bà
mất, dân làng lập đền thờ và tôn làm Thành hoàng làng. Hội đền được tổ chức
vào ngày 6/2 âm lịch. Ngoài các nghi thức tế lễ dâng hương còn có các sinh
hoạt “bọn” Quan họ đặc sắc để tưởng nhớ đức Vua Bà thuỷ tổ Quan họ. Từ
làng Diềm, các làn điệu và lề lối hát đối Quan họ lan toả sang nhiều làng quê
khác. Theo truyền thuyết, vào thời Lý, dân ca Quan họ đã phổ biến hầu khắp
phủ Thiên Đức. Tuy nhiên, người có công tổ chức hát xướng và bổ sung nâng
19
cao dân ca Quan họ là quận công Đỗ Nguyên Thụy, quê Bình Cả - Nội Duệ -
Tiên Du - Bắc Ninh. Ông làm quan thời chúa Trịnh Cương, hiện ở quê còn di
tích lăng mộ đá và nhà thờ khá hoàn chỉnh được xây dựng từ năm 1734. Hát
Quan họ chủ yếu chỉ được tổ chức ở mỗi làng mỗi năm một lần vào dịp hội
làng. Các cuộc Hát Quan họ có thể diễn ra ở trong nhà cũng như ngoài trời.
Phương thức sinh hoạt ở các làng khá đa dạng, song nhìn chung, ngoài một số
nét khác biệt, trong Hát Quan họ chứa đựng cả những nét có ở nhiều thể loại
hát đối đáp nam nữ của các tộc trên đất nước.Quan họ là hình thức hát đối
giữa liền anh - liền chị của hai cộng đồng làng xã. Hát đối đáp nam nữ như
hát Ví, hát Trống quân, hát Đúm… nhiều vùng đều có. Nó gắn với tục kết bạn
nam nữ, kết nghĩa giữa hai làng khác nhau.
20
KẾT LUẬN
Ngày 30-9-2009, "Dân ca Quan họ Bắc Ninh" chính thức được kỳ họp
thứ tư Ủy ban Liên Chính phủ Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
của UNESCO công nhận là "Di sản văn hóa phi vật thể Đại diện của Nhân
loại". Sự kiện này không những chỉ tôn vinh những giá trị tiêu biểu độc đáo,
mà còn khẳng định sự trường tồn và sức lan tỏa rộng lớn của "Dân ca Quan
họ Bắc Ninh" trong cộng đồng thế giới.

mô các hoạt động sinh hoạt văn hóa Quan họ như liên hoan, hội thi, hội diễn,
lễ hội
Đặc biệt trong cuộc sống hiện đại ngày nay, tầng lớp thanh niên trẻ như
chúng ta cũng nên học hỏi, tìm hiểu và lắng nghe Dân ca nhiều hơn, đây cũng
chính là giá trị văn hóa, là niềm tự hào dân tộc với những nét đặc sắc riêng
của Việt Nam nói chung, của người dân xứ Kinh Bắc_ Bắc Ninh nói riêng.

Hà Nội, ngày 08/10/
Học viên: Vũ Tuyết Mai
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status