BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
----------*----------
Trần Văn Thành
LỄ HỘI GÒ THÁP
TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
----------*----------
Trần Văn Thành
LỄ HỘI GÒ THÁP
TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 9229041
NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ...........................................14
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................................... 14
1.2. Lễ hội Gò Tháp trong diện mạo lễ hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ .................. 37
1.3. Cơ sở lý luận ..................................................................................................................... 40
Tiểu kết ..............................................................................................................................48
Chương 2. TÍNH THIÊNG VÀ TÍNH THẾ TỤC CỦA LỄ HỘI GÒ THÁP ..50
2.1. Tính thiêng của lễ hội Gò Tháp ....................................................................................... 53
2.2. Tính thế tục của lễ hội Gò Tháp....................................................................................... 70
2.3. Quan hệ giữa tính thiêng và tính thế tục của lễ hội Gò Tháp......................................... 75
Tiểu kết ..............................................................................................................................85
Chương 3. CHỦ/KHÁCH THỂ CỦA LỄ HỘI GÒ THÁP TRONG QUAN HỆ
VỚI TÍNH THIÊNG VÀ TÍNH THẾ TỤC..............................................................87
3.1. Thái độ của người dân với nhân vật thờ và nghi thức thờ cúng .................................... 87
3.2. Ban Hội hương trong quan hệ với tính thế tục................................................................ 99
3.3. Cơ quan Quản lý Nhà nước trong quan hệ với tính thế tục ......................................... 102
3.4. Bàn luận việc ứng xử của chủ/khách thể với tính thiêng và tính thế tục trong lễ hội Gò
Tháp hiện nay ......................................................................................................................... 110
Tiểu kết ........................................................................................................................... 118
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 119
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ............................................ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 123
PHỤ LỤC....................................................................................................................... 137
3
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
: Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học
GTVT
: Giao thông Vận tải
HCM
: Hồ Chí Minh
KHXH
: Khoa học Xã hội
Nxb
: Nhà xuất bản
PCCC
: Phòng cháy Chữa cháy
PGS.
: Phó Giáo sư
QL
: Quốc lộ
: Thể thao và Du lịch
UBND
: Ủy ban Nhân dân
VHTT
: Văn hóa Thông tin
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tỉnh Đồng Tháp nằm ở đầu nguồn sông Tiền, là vùng đất thuộc
Tây Nam Bộ, một trong mười ba tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh
Đồng Tháp có diện tích khoảng 3,275,8 km2; dân số khoảng 1,681,325 người;
phía Bắc giáp tỉnh Pray Veng (Campuchia) với chiều dài biên giới 47,8km và
4 cửa khẩu: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước; phía Nam giáp
Vĩnh Long và Cần Thơ; phía Tây giáp An Giang; phía Đông giáp Long An và
Tiền Giang. Trung tâm tỉnh Đồng Tháp là thành phố Cao Lãnh, cách Thành
phố Hồ Chí Minh 162km. Đồng Tháp có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều
Khu di tích lịch sử lâu đời, nhiều đình chùa, miếu mạo và nhiều lễ hội có tính
quy mô được tổ chức hàng năm.
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp năm
2014, tỉnh Đồng Tháp hiện có 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 13 di tích cấp
quốc gia và 55 di tích cấp tỉnh; ngoài ra, còn có rất nhiều di tích cấp xã và cấp
thôn khác. Các di tích là điểm đến tham quan như di tích Gò Tháp, Khu di tích
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta gặp không ít khó khăn. Trước
tình hình đó, việc nghiên cứu di tích và lễ hội Gò Tháp để tìm ra những mặt
được và những mặt còn hạn chế, nhằm khắc phục, bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và
phát triển; từ đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập mở cửa mà một số loại hình văn hóa
dân gian đang có nguy cơ mai một và biến dạng.
Nhận thức được những vấn đề cấp thiết trên, NCS chọn Lễ hội Gò Tháp
trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp làm luận án tiến sĩ
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích của luận án là nghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành và
phát triển lễ hội Gò Tháp trong tiến trình khai hoang mở mang bờ cõi của
6
người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng Ðồng Tháp Mười
nói riêng;
- Qua nghiên cứu lễ hội, nhằm biết được thái độ của người dân nơi đây
đối với nhân vật thờ tự trong lễ hội này;
- Nghiên cứu lễ hội Gò Tháp để biết được vai trò của nó trong đời sống
tinh thần của người dân Gò Tháp nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung.
- Biết được vai trò của Ban Hội hương và cơ quan quản lý Nhà nước
đối với lễ hội này;
- Nhằm khai thác giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cha ông trên
địa bàn tỉnh Đồng Tháp, phục vụ nhu cầu tâm linh trong đời sống văn hóa của
người dân nơi đây;
- Tìm ra những mặt tích cực và hạn chế, từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm
phát huy và bảo tồn những giá trị của loại hình văn hóa dân gian này trên địa
bàn tỉnh Đồng Tháp nói chung;
châu Âu thời Trung đại, do mỗi quan hệ giữa đạo Cơ-đốc với các
tín ngưỡng dân gian làm cho thời điểm tiến hành các lễ hội được
gắn vào với những ngày kỷ niệm của đạo Cơ - đốc.
Nhà ngữ văn học Nga thế kỷ XX M.M. Bakhtin (trong cuốn Sáng
tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian thời Trung đại
và thời Phục hưng, in lần thứ hai 1965) nhận thấy trong lễ hội
“Carnaval” có vết tích của tục “đảo ngược vị trí” thời xưa”: trong lễ
hội người ta đảo ngược vị trí xã hội: người giàu cải trang thành
người nghèo, và ngược lại, người nghèo cải trang thành người giàu,
cũng như nhiều hình thức “đảo được” khác. Theo Bakhtin, lễ hội có
vai trò cân bằng lại sự phân biệt giai tầng xã hội trong thời Trung đại.
Trong những năm đầu của nước Nga Xô - Viết, người ta thấy mối
quan tâm của nhân dân và chính quyền (mang động cơ hệ tư tưởng
hóa) tới các hình thức lễ hội, và những hình thức này rất thành công
8
trong các đô thị. Thực tiễn văn hóa Xô - Viết vào thập niên 1920 đã
ảnh hưởng đến Bakhtin và nền văn hóa “carnaval” [1, tr.277].
Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng
Tháp, là một hoạt động tâm linh, tín ngưỡng của người dân tỉnh Đồng Tháp,
được tổ chức trên địa bàn Gò Tháp. Lễ hội Gò Tháp là một chuỗi gồm nhiều
lễ hội được tổ chức nhiều đợt trong năm: rằm tháng 3 là lễ hội vía bà Chúa
Xứ, rằm tháng 11 là lễ hội tưởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ
Dương và Đốc binh Kiều. Người dân tổ chức lễ hội nhằm tưởng niệm các
nhân vật đã có công đánh giặc giữ nước, giúp dân trong những ngày đầu mở
mang bờ cõi, khai hoang lập nghiệp. Đây là tâm tư, tình cảm, là đời sống tinh
thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, được gửi gắm vào các nhân vật thờ tự,
cầu các thần phù hộ độ trì, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, nhân
quả phản ánh thực tiễn của con người, là nguồn động lực tích cực, quyết định
đối với hoạt động sống của cá nhân và cộng đồng xã hội.
3.2.3. Thuật ngữ tính thiêng, tính thế tục
Tính thiêng:Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Thiêng có nghĩa: “1/ Có phép
thuật kỳ lạ, khiến người ta phải nể sợ, tôn kính. 2/ Rất linh nghiệm, nói đến là
thấy hiển hiện, là thấy có thật” [170, tr.1569].
Cái thiêng:
“1/ Cái thiêng - là một hình thái của ý thức tập thể - phải được biểu
hiện bằng tình cảm và hành vi tập thể; 2/ Những gì bằng biểu thị
cho cái thiêng đã được đặc cách hóa ở mức độ cao bằng hệ thống
biểu tượng tính. Nếu như trong tôn giáo, những kỹ thuật tôn giáo
(những nghi lễ) do sự hoàn hảo của nó đã có thể đóng được vai trò
của mình là duy trì sức mạnh của những gì đã trở thành thiêng
liêng thì những nghi lễ, nghi thức trong xã hội mới đã đạt được đến
trình độ biểu tượng đó hay chưa? Nếu làm được cả hai điều đó,
chắc chắn cái thiêng sẽ hiện hữu [139, tr.248 - 249].
10
Thế tục: 1/ Tập tục ở đời: ăn ở phải theo thế tục. 2/ Đời sống trần tục,
phân biệt với đời sống tu hành [170, tr.1558].
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Thống kê, phân loại qua các tư liệu liên quan
Trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài lễ hội Gò Tháp trong đời sống
tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, NCS đã tiến hành thu thập các tài
liệu, các công trình liên quan đến đề tài đã được công bố; đọc, thống kê và
phân tích dữ liệu, phân loại và thu thập các kết quả liên quan đến đề tài để
nghiên cứu. Các nguồn tài liệu thu thập từ các tác giả trong và ngoài nước
phục vụ cho việc nghiên cứu có nội dung như: Các công trình, các bài báo
4.5. Miêu thuật – khảo tả
Trong quá trình đi điền dã, tham dự lễ hội; cùng với việc ghi chép
những thông tin phỏng vấn của người dân; Luận án ghi chép, miêu thuật –
khảo tả lại hiện trạng thực tế nơi đang diễn ra lễ hội, về không gian tổ chức lễ
hội; mô tả trình tự các bước thực hành lễ hội từ việc chuẩn bị của Ban Quản
lý Khu di tích, Ban Hội hương, các cơ quan nhà nước khác và của người dân.
Tiếp theo, luận án miêu thuật các bước hành lễ khi thực hiện các nghi thức lễ
bái từ lúc mở màn cho đến kết thúc lễ hội. Luận án miêu thuật – khảo tả lại
những hoạt động thực hành tín ngưỡng của người dân và khách hành hương
trong quá trình đến thăm viếng, tham dự lễ hội từ lúc mở màn cho đến lúc kết
thúc lễ hội...
5. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
Tính thiêng, tính huyền thoại trong lễ hội của người Việt ở đồng bằng
sông Cửu Long nói chung, lễ hội Gò Tháp này nói riêng, không được như ở
Bắc Bộ, nhưng tại sao mỗi mùa lễ hội đến, lại thu hút một lượng khách rất
đông về đây tham dự lễ hội? Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu
đến đề tài này hay chưa, và nếu có thì nghiên cứu ở mức độ nào?... là những
12
vấn đề đặt ra cần làm sáng rõ đối với lễ hội này trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Giả thuyết khoa học
Gắn liền với quá trình khai hoang mở mang bờ cõi của người Việt ở
vùng Tây Nam Bộ, lễ hội Gò Tháp có tuổi đời tướng đối ngắn, quá trình
thiêng hóa nhân vật thờ tự chưa trọn vẹn. Người dân tổ chức lễ hội, nhằm bày
tỏ lòng biết ơn của mình đối với nhân vật thờ tự đã có công giúp dân trong
những ngày đầu khai hoang lập ấp.
Cho đến hiện nay, luận án là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu
cứu, đối tượng nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài (36 trang); Chương 2.
Tính thiêng và tính thế tục của lễ hội Gò Tháp (37 trang); Chương 3.
Chủ/khách thể của lễ hội Gò Tháp trong mối quan hệ với tính thiêng và tính
thế tục (32 trang).
Phần phụ lục: Phụ lục 1. Bản đồ hành chính huyện Tháp Mười (1 trang);
Phụ lục 2. Bản đồ khu di tích Gò Tháp (3 trang); Phụ lục 3. Bảng thống kê tiền
công đức lễ hội từ năm 1992 đến nay (2 trang); Phụ lục 4. Một số bài văn tế (6
trang); Phụ lục 5. Ảnh di tích và lễ hội Gò Tháp (22 trang); Phụ lục 6. Danh sách
những người cung cấp thông tin cho luận án (2 trang); Phụ lục 7. Quy chế tổ
chức hoạt động của BHH và BQL Khu di tích (30 trang); Phụ lục 8. Gỡ băng
phỏng vấn sâu (29 trang).
14
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ngày nay, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, đi tới đâu chúng ta cũng dễ
dàng được trải nghiệm với cuộc sống của người dân thông qua lễ hội, được tổ
chức với nhiều dạng thức, tên gọi, ý nghĩa khác nhau. Nhiều nhất là vào dịp
đầu năm và thứ đến là dịp cuối năm. Mục đích của lễ hội chủ yếu nhằm tưởng
niệm, tôn vinh nhân vật có thật trong lịch sử, hoặc một sự kiện nào đó, hoặc
qua các truyền thuyết được nhân dân thêu dệt, hư cấu, nhằm gửi gắm niềm tin
tín ngưỡng của mình vào nhân vật ấy. Có những lễ hội lên đến hàng ngàn năm
tuổi như ở Bắc Bộ và ít nhất cũng trên cả trăm năm tuổi như ở Nam Bộ.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dạng lễ hội dân gian, hay lễ hội truyền
thống..., được hình thành dựa trên cơ sở tín ngưỡng của người dân.
Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng
người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung, còn mang những
nét riêng, những sắc thái đặc thù... [120, tr.73].
Năm 1993, công trình Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ của các tác
giả: Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường [154], đề cập đến
hai vấn đề chính: Đặc điểm lịch sử của đình làng Nam Bộ; nghi thức cúng tế
của đình Nam Bộ. Về lễ hội, các tác giả nghiên cứu các vấn đề: Các lễ đầu
năm và cuối năm; tam nguyên; tứ thời tiết lạp; lễ chính ở đình: Kỳ yên, thượng
điền và hạ điền; lễ cúng tiên sư; tạp tế; giỗ hậu và giỗ các anh hùng lịch sử; lễ
vật cúng mặn; lễ vật cúng chay; lễ vật đặc biệt; lễ vật cúng thần thành hoàng
bổn cảnh; nghi thức cúng; nghi thức tế thần; các nghi lễ khác trong lễ Kỳ yên.
Năm 1994, công trình Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện
đại của các tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (Chủ biên) [67], đề cập đến
nhiều vấn đề xung quanh lễ hội – hội lễ trong nước và một số nước trên thế
16
giới như Inđônêxia, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia... Nghiên cứu về
lễ hội người Việt ở Nam Bộ gồm có:
- Bài: “Mấy đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền của người Việt ở
Nam Bộ”, cho rằng:
...Cũng như những hiện tượng văn hóa và tinh thần khác, lễ hội cổ
truyền của một dân tộc thường chịu sự tác động trực tiếp của những
điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử của môi trường mà nó hình
thành và tồn tại. Do vậy, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ,
bên cạnh những nét chung, còn có những sắc thái đặc thù mang dấu
ấn địa phương [67. tr.117].
- Bài: “Bàn về việc tổ chức hội lễ ở khu lăng Lê Văn Duyệt trong tình
hình mới”, có nêu:
Trước đây, nhiều đình, miếu được nông dân sùng bái, tu tạo. Dần
được hai vấn đề chủ yếu như: Tín ngưỡng thờ bà Chúa Xứ núi Sam Châu
Đốc, An Giang; lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam, Châu Đốc An Giang. Qua bài
viết của tác giả, luận án nhận thấy lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam gồm hai phần
(Phần lễ và phần hội). Phần lễ bà đã miêu tả và giải mã về các nghi lễ như:
Lịch lễ và ban tổ chức thờ cúng, nghi thức tế lễ (lễ mộc dục, lễ thỉnh sắc
Thoại Ngọc Hầu, lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế). Phần hội cũng được tác
giả miêu tả và giải mã: Những tục lễ (xin xăm, tục xin khăn bùa, tục vay tiền bà,
tục hầu bóng), những sinh hoạt hội (hát bội, những sinh hoạt hội khác); tín ngưỡng
và lễ hội bà Chúa Xứ trong đời sống kinh tế văn hóa của cư dân hiện nay.
Năm 1999, công trình Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (Khía
cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc) của tác giả Huỳnh Quốc Thắng [137], đã lược
khảo tổng quan về một số lễ hội như lễ hội thờ cúng thần thành hoàng và các
nhân vật lịch sử, lễ hội nghề nghiệp, lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần. Theo tác giả:
Lễ hội dân gian người Việt ở Nam Bộ chỉ mới phát triển trong vòng
trên dưới vài ba trăm năm nay nhưng căn cứ vào thể loại, nội dung
18
và đặc biệt thu hút lượng người tham gia vào các hoạt động của nó,
người ta có thể khẳng định rằng hệ thống lễ hội ấy đã chiếm vị trí
đáng kể trong đời sống văn hóa của người dân địa phương nơi đây
[137, tr.148].
Năm 2004, công trình Đình miễu và lễ hội dân gian miền Nam của tác
giả Sơn Nam [92], là công trình biên khảo, đề cập đến những vấn đề: Đình
miễu và lễ hội dân gian, Lăng ông bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, nghi
thức và lễ bái của người Việt Nam, người Việt có dân tộc tính không? Ở
chương hai (phần thứ nhất), khi bàn về đình, miếu, tác giả trích đoạn của
Nguyễn Văn Tố: “Người có công với dân thì được dân thờ cúng (hữu công tắc
tự chi), vì vậy lập đình từ (đình và đền) để thờ các vị thành hoàng tức là công
trang miêu tả những vấn đề như: tượng bà Chúa Xứ, từ đâu tới, đặt pho tượng
trên đỉnh núi Sam bằng cách nào, vấn đề đem xuống, giới tính của pho tượng,
các truyền thuyết về pho tượng, cảnh quang ngày nay, những nẻo đường đến,
ngôi miếu thờ bà, diễn tiến lễ nghi vía bà (lễ mộc dục, lễ túc yết), Thoại Ngọc
Hầu là ai, kinh Vĩnh Tế... Mục đích của công trình là nhằm quảng bá, giới
thiệu về du lịch tại vùng đất Châu Đốc, An Giang là chủ yếu.
Năm 2006, công trình Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt
Nam của tác giả Nguyễn Chí Bền [12], nghiên cứu nhiều vấn đề xung quanh
lĩnh vực văn hóa dân gian người Việt nói chung. Với bài “Tổng quan về tình
hình sưu tầm, nghiên cứu lễ hội truyền thống của người Việt”, công trình đã
dành gần 55 trang nhìn nhận về tình hình sưu tầm và nghiên cứu lễ hội truyền
thống của người Việt trên khắp mọi miền của Tổ quốc từ trước cho đến năm
công trình được xuất bản. Về lễ hội ở Nam Bộ, các bài viết trong công trình
đề cập đến các vấn đề: Tiếp cận lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ, lễ
hội và nguồn truyện dân gian của người Khơ Me Nam Bộ, tục thờ cúng thành
hoàng với người Việt ở Nam Bộ, tục thờ mẫu với người Việt Nam Bộ, tục thờ
cúng cá voi của cư dân ven biển ở Bến Tre, nhìn lại tình hình sưu tầm nghiên
20
cứu tín ngưỡng và lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam. Ngoài bài tổng quan, công
trình còn có một số bài đi vào nghiên cứu, giải mã cụ thể như:
- Bài: “Tiếp cận lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ”, nhận định:
“Từ trước đến nay, lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ chưa được khảo
sát, miêu thuật cũng như nghiên cứu cặn kẽ” [12, tr.518]. Về phần lễ trong lễ
hội của người Việt ở Nam Bộ, tác giả cho biết:
Phần lễ của ngày hội đình diễn ra trong 3 ngày 2 đêm với các nghi
thức: ngày đầu tiên làm lễ nghênh thần; lễ túc yết và lễ tiền vãng,
tức là lễ tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ; giữa đêm là lễ tiên
Chúa Xứ núi Sam với trình tự các nghi thức trong lễ hội như: Lễ tắm bà, lễ
thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu bà, lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế.
- Bài: “Về hai hình thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ mẫu của người
Việt ở Nam Bộ”, nhận định: “Tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ
có hai dòng cùng tồn tại: một là dòng tín ngưỡng gắn với lớp cư dân thời khai
phá; hai là dòng tín ngưỡng gắn với lớp cư dân đến Nam Bộ thời Pháp thuộc và
năm 1945. Hai dòng này, có hai hình thức hầu đồng khác nhau” [12, tr.723].
- Bài: “Tục thờ cúng cá voi của cư dân ven biển ở Bến Tre”, cho thấy lễ
vật cúng chánh tế này có phần giống với lễ vật cúng chánh tế trong lễ hội bà
Chúa Xứ núi Sam và bà Chúa Xứ Gò Tháp: “một con heo trắng, hai mâm xôi,
có rượu và trà” [12, tr.730]. Về hình thức và không gian tổ chức lễ hội này có
phần khác so với các lễ hội cúng đình, cúng đền, cúng miếu khác, nhưng
chung quy thì vẫn có điểm giống nhau là đều có phần lễ và phần hội như bao
lễ hội khác.
Năm 2010, công trình Lễ hội của người Việt đồng bằng sông Cửu
Long, truyền thống và phát triển của tác giả Nguyễn Xuân Hồng [61], là luận
án tiến sĩ, theo bảng thống kê cho thấy, ở ĐBSCL hiện có 683 cơ sở tín
ngưỡng gồm đình, đền, miếu, lăng thờ cá ông, dinh, lăng mộ, gò... có tổ chức
lễ hội hàng năm. Ở nhóm lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò, theo tác giả:
22
ĐBSCL có 6 lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò (chiếm tỷ lệ 0,8%). Đối
tượng được tôn vinh trong các lễ hội này có hai loại: Một là các
danh nhân, với các lễ hội được diễn ra tại các cơ sở thờ tự như lăng
Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang); lăng Nguyễn Văn Tồn
(Trà Ôn, Vĩnh Long); lăng Bùi Hữu Nghĩa (An Thới, Tp Cần Thơ);
lăng Mạc Cửu (Bình Sơn, thị xã Hà Tiên); dinh Đốc binh Vàng –
Trần Văn Năng (Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp). Hai là, các danh
Phú, lễ hội Lăng ông, lễ hội miếu ông địa, lễ hội Oc – om – book của người
Khmer, lễ Roya Idil Adha, lễ hội thờ Cá Ông ở Bến Tre, lễ hội vía bà ở Côn
Đảo, lễ hội vía bà ở Thạch An, lễ hội vía Linh Sơn Thánh Mẫu.
Năm 2013, công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do tác giả
Trần Ngọc Thêm (Chủ biên) [141], là sản phẩm của đề tài khoa học cấp trọng
điểm của trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh thực hiện từ năm 2009
đến 2011 và nghiệm thu năm 2012. Nội dung của công trình được thiết kế
gồm 5 chương, nghiên cứu đến các vấn đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa nhận thức và văn
hóa tổ chức của người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa ứng xử với môi
trường tự nhiên của người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa ứng xử với môi
trường xã hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ, các đặc trưng tính cách văn
hóa của người Việt vùng Tây Nam Bộ. Công trình đã đi sâu nghiên cứu tất cả
mọi mặt trong đời sống văn hóa của người dân Tây Nam Bộ nói chung.
Năm 2013, công trình Lễ hội cổ truyền của người Việt – Cấu trúc &
thành tố của tác giả Nguyễn Chí Bền [14], là công trình đồ sộ với khối lượng
kiến thức phong phú, được chia làm 8 chương (chưa kể 6 phần phụ lục). Ở
chương 1 với tiêu đề Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu lễ hội cổ truyền của người
Việt, theo dòng thời gian, công trình phân nội dung này ra thành ba giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 1954 trở về trước, giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1986,
giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012. Tác giả nhận định: