BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trịnh Lê Anh
QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
QUA KHẢO SÁT LỄ HỘI KIẾP BẠC (HẢI DƯƠNG)
VÀ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN (HÀ NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trịnh Lê Anh
QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
QUA KHẢO SÁT LỄ HỘI KIẾP BẠC (HẢI DƯƠNG)
VÀ LỄ HỘI TỊCH ĐIỀN (HÀ NAM)
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Chương 2. QUẢN LÝ LỄ HỘI KIẾP BẠC (HẢI DƯƠNG) VÀ LỄ HỘI
TỊCH ĐIỀN (HÀ NAM) GẮN VỚI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH.....62
2.1. Bối cảnh chung quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm
du lịch ở Việt Nam .................................................................................................62
2.2. Lý do chọn khảo sát lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền
(Hà Nam) ...............................................................................................................63
2.3. Hiện trạng quản lý lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền
(Hà Nam) với tiếp cận phát triển sản phẩm du lịch ...............................................65
Tiểu kết ................................................................................................................103
Chương 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG
TÍNH ỨNG DỤNG................................................................................................105
3.1. Những vấn đề đặt ra từ góc độ lý thuyết.......................................................105
3.2. Những vấn đề đặt ra từ góc độ thực tiễn.......................................................113
3.3. Đề xuất mô hình quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản
phẩm du lịch.........................................................................................................120
3.4. Giải pháp quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch......128
3.5. Đề xuất cụ thể đối với Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ hội Tịch Điền ......................134
Tiểu kết ................................................................................................................142
KẾT LUẬN ............................................................................................................143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................................................145
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................146
PHỤ LỤC ...............................................................................................................157
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
: An ninh trật tự
: Thanh niên cộng sản
TP
: Thành phố
Tr.
: Trang
TTATXH
: Trật tự an toàn xã hội
UBND
: Ủy ban nhân dân
VHTTDL
: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VHNT
: Văn hóa nghệ thuật
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Bảng 0.1. Chi tiết số lượng người được phỏng vấn tại Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ
kinh tế. Tìm kiếm câu trả lời quản lý lễ hội truyền thống như thế nào để gắn với
phát triển sản phẩm du lịch là mối quan tâm lớn nhất của luận án này.
Một vấn đề khác đặt ra trong thực tiễn quản lý di sản văn hóa: lợi ích của cộng
đồng có di sản văn hóa chưa được giải quyết một cách hợp lý, chưa được coi là nền
tảng và mục tiêu của phát triển du lịch trong trường hợp di sản có có tiềm năng phát
triển sản phẩm du lịch. Nhiều địa phương, nhiều cộng đồng không được hưởng lợi từ
những sản phẩm du lịch mà nhà nước và các doanh nghiệp đã khai thác từ vốn di sản
văn hóa (cả vật thể và phi vật thể) của họ. Nhiều sản phẩm du lịch hay sự kiện quảng
bá du lịch chỉ đem lại lợi ích cho nhà kinh doanh du lịch, mà người dân không hoặc rất
ít được hưởng lợi một cách thỏa đáng. Điều đó dẫn đến tác động tiêu cực cho quá trình
bảo tồn di sản: Người dân sẽ cho rằng họ không có quyền lợi, tức là cũng không có
nghĩa vụ trong bảo tồn di sản và vì vậy họ không phát huy tính tích cực trong quá trình
này; hoặc tư tưởng sở hữu di sản của người dân trở thành cố thủ, không cho phép tiếp
cận, sáng tạo văn hóa từ di sản; hoặc ý chí quan phương của chính quyền địa phương
(nhà nước) vô hình chung đẩy người dân vào thế “làm thuê” cho nhà nước trong quản
lý di sản gắn với phát triển sản phẩm du lịch. Đây cũng là vấn đề cần được làm rõ.
Trong hệ thống lễ hội truyền thống (gồm cả những lễ hội phục dựng truyền
thống, hay những lễ hội được phát triển dựa trên những chất liệu truyền thống) vốn
có số lượng rất lớn trên khắp cả nước, một tỷ lệ nhỏ có “thương hiệu” và nổi tiếng,
2
tự thân có sức thu hút du khách. Từ đó những nguồn lực của địa phương nơi có lễ
hội cũng được phát huy hết tiềm năng để đem lại những lợi ích đa diện cho cộng
đồng, trong đó có lợi ích kinh tế. Một số lượng lớn các lễ hội khác không có sự nổi
tiếng hay sức hấp dẫn tự thân như vậy nhưng cũng có nhu cầu phát triển tương tự.
Các lễ hội này thường lúng túng trong quản lý và tổ chức, máy móc sao chép các lễ
hội đã “nổi tiếng” nhằm có được lượng khách tăng vọt với mong muốn củng cố
niềm tự hào và đem lại sự cải thiện lớn cho đời sống vật chất và tinh thần cho người
dân địa phương; góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của
- Những phương thức, những mô hình bảo tồn và khai thác tài nguyên di sản
văn hóa (vốn văn hóa) nào phù hợp cho mục tiêu phát triển sản phẩm du lịch?
- Mô hình nào cho quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du
lịch? Sự tham gia của các bên trong quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản
phẩm du lịch nên như thế nào?
Thực tiễn quản lý lễ hội truyền thống hiện nay đang tồn tại ba cách thức. Thứ
nhất là quản lý theo quan điểm coi lễ hội truyền thống là cơ hội phát triển kinh tế,
đặc biệt là kinh doanh du lịch. Quan điểm này coi những giá trị truyền thống là cơ
hội kinh doanh kiếm lời, cải thiện đời sống kinh tế địa phương, thậm chí thay đổi
sinh kế của cư dân nơi có lễ hội truyền thống nên tận dụng tối đa nguồn lực từ lễ hội
truyền thống. Thứ hai là quản lý theo quan điểm coi lễ hội truyền thống và những gì
thuộc về truyền thống là thành lũy bất khả xâm phạm, bất cứ một hành vi khai thác
phục vụ phát triển (phát huy) nào đều bị coi là làm biến dạng bản sắc văn hóa
truyền thống và vì thế chỉ chú trọng bảo tồn, bảo vệ, giữ gìn. Thứ ba là quản lý theo
quan điểm coi lễ hội truyền thống là “vốn văn hóa” quan trọng để phát triển địa
phương về nhiều mặt, tiến hành thử nghiệm một số hoạt động của lễ hội truyền
thống gắn với phát triển du lịch, kể cả coi lễ hội truyền thống là một sản phẩm văn
hóa hoàn chỉnh, một sản phẩm du lịch tiềm năng. Luận án với mục đích nghiên cứu
cụ thể đã xem xét các lễ hội đang được quản lý theo quan điểm thứ ba. Lễ hội Kiếp
Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền (Hà Nam) được lựa chọn để khảo sát bởi tính
điển hình của chúng cho xu hướng quản lý theo cách thức này. Chi tiết thuyết minh
lý do chọn hai lễ hội này sẽ được trình bày ở chương 2.
4
Từ những lý do trên, luận án lựa chọn đề tài “Quản lý lễ hội truyền thống
gắn với phát triển sản phẩm du lịch qua khảo sát lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ
hội Tịch Điền (Hà Nam)” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý văn hóa.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Trong một số phân tích, phạm vi không
gian có thể mở rộng để so sánh với một số lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản
phẩm du lịch trong địa bàn cả nước. Tuy nhiên, phạm vi chủ yếu của luận án là địa bàn
của hai lễ hội nêu trên.
- Về thời gian: Ngoài những nghiên cứu tài liệu thứ cấp về lý thuyết của đề
tài và lịch sử lễ hội thì phạm vi đề cập xuyên thời gian, luận án tập trung nghiên cứu
hai lễ hội này trong thời gian gần đây, sau giai đoạn phục dựng, phát triển (lễ hội
Kiếp Bạc với mốc “phát triển” năm 2005, lễ hội Tịch Điền với mốc “phục dựng”
năm 2009). Cụ thể, luận án tiến hành khảo sát trước, trong và sau các dịp lễ hội 4-5
năm gần đây (cùng thời gian triển khai của luận án): lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương)
năm 2013, 2014, 2015, 2016; lễ hội Tịch Điền (Hà Nam) năm 2013, 2014, 2015,
2016, 2017. Những nội dung rút ra một số vấn đề về những khía cạnh hay mô hình
quản lý văn hoá trong nghiên cứu này có thể áp dụng cho các năm tiếp theo, từ sau
2018 đến trước 2030, theo tầm nhìn quản lý chung của ngành VHTTDL.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đã nêu, luận án đặt ra những câu hỏi nghiên cứu
chính là:
1) Nội hàm của quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm
du lịch?
2) Dưới góc độ quản lý, lễ hội truyền thống đáp ứng những tiêu chí nào thì có thể
coi như sản phẩm du lịch?
3) Hiện trạng quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch ở
hai địa bàn khảo sát (lễ hội Tịch Điền và lễ hội Kiếp Bạc) như thế nào?
4) Những vấn đề đặt ra từ quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản
phẩm du lịch? Mô hình nào cho quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản
phẩm du lịch ở hai lễ hội khảo sát và những lễ hội có điều kiện tương đồng?
6
5. Phương pháp nghiên cứu
7
Bảng 0.1. Chi tiết số lượng người được phỏng vấn tại Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ
hội Tịch Điền (1) – 400 lượt phỏng vấn
2013
2014
2015
2016
2017
BTC
lễ hội
Chính
quyền
địa
phương
3
6
6
7
3
1
2
2
3
2
20
20
15
Người
dân
không
tham dự
lễ hội
8
5
5
5
5
Người
lớn
tuổi ở
địa
phương
5
6
6
4
3
Đại
diện
nhà
chùa,
tham gia
vẽ trâu
lễ hội
Tịch Điền
Đạo diễn,
Nghệ
thiết kế,
nhân biểu
dàn dựng
diễn trống
sân khấu,
Đọi Tam
sự kiện
Người dân
Đại diện các
tham gia Đại diện
đơn vị, cá nhân
diễn Hội nhóm hầu
cung ứng sản
quân sông
đồng
phẩm, dịch vụ
Lục Đầu
2013
5
6
4
2
6
3
3
7
2016
5
4
2
4
3
3
9
giúp cho luận án có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn. Ngoài ra, phỏng vấn trực
tiếp có giá trị của thực địa, tức là người phỏng vấn sẽ không chỉ có nghe, nói và còn
cảm nhận thực sự từ người trả lời câu hỏi. Người phỏng vấn có thể thấu hiểu thái độ
của người được phỏng vấn một cách rõ ràng không chỉ thể hiện quả lời nói mà còn
thể hiện qua nét mặt, cử chỉ của người được phỏng vấn.
5.2. Nội dung phỏng vấn sâu
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, luận án chia đối tượng phỏng vấn thành nhóm
và mỗi nhóm có các câu hỏi khác nhau. Tại lễ hội Tịch Điền và Kiếp Bạc, các nhóm
được phỏng vấn gồm: ban tổ chức lễ hội, chính quyền địa phương, người dân tham
gia lễ hội và người cao tuổi am hiểu lễ hội, du khách, doanh nghiệp tham gia lễ hội.
- Ban tổ chức lễ hội, chính quyền địa phương là những cán bộ quản lý. Họ là
những người trực tiếp lập kế hoạch, nội dung, chỉ đạo thực hiện tổ chức chương
trình lễ hội nên những câu hỏi được đặt ra mang tính chất khái quát, có đánh giá
nhận định ưu, nhược điểm sau mỗi mùa tổ chức lễ hội. Qua đó, kỳ vọng đánh giá
được năng lực chung và năng lực chuyên môn của ban tổ chức thực hiện lễ hội và
những đơn vị tham gia hỗ trợ.
9
- Người dân địa phương là những người cho ý kiến chính xác nhất về công
tác quản lý - tổ chức lễ hội, những điểm được hay chưa được đều được nêu ra và có
dẫn chứng cụ thể. Khảo sát những đối tượng này sẽ cho biết những nội dung nào
được và chưa được trong quá trình tổ chức lễ hội. Trong đó, người dân trực tiếp
tham gia thực hiện lễ hội là những người dân tại địa phương và trực tiếp tham gia
vào phần lễ như cầm cờ, rước kiệu, quản trâu (lễ hội Tịch Điền); tham gia phục vụ
nghi lễ tại đền, tham gia lễ hội quân trên sông (lễ hội Kiếp Bạc). Cùng với nhóm
người cao tuổi am hiểu về lễ hội, đối tượng này sẽ cho biết các cách chỉ đạo thực
hiện từ ban quản lý xuống đơn vị thực hiện đã chính xác, hiệu quả hay chưa, có
đánh giá những điểm được, chưa được.
- Du khách và doanh nghiệp tham dự lễ hội có thể coi là đối tượng ngoài cư
chung, các lý thuyết về việc tiếp cận quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát
triển sản phẩm du lịch. Thông qua nghiên cứu, luận án mô hình hóa các lý thuyết
về khung quản lý lễ hội truyền thống theo hướng tiếp cận mới được nêu ra trong câu
hỏi nghiên cứu. Những khung lý thuyết này hy vọng là đóng góp mới của luận án
đối với đối tượng nghiên cứu và bổ sung cơ sở lý thuyết về vấn đề kết hợp bảo tồn
các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống với phát triển kinh tế du lịch cũng như các
giá trị cộng hưởng khác trên cơ sở lý thuyết đã được nghiên cứu và kiểm chứng.
Một cách cụ thể hơn, luận án sẽ chỉ ra những khía cạnh lý thuyết/ mô hình quản
lý đã thể hiện ở một số trường hợp của miền Bắc Việt Nam trong việc quản lý lễ hội
truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch. Luận án giới thiệu một hướng tiếp cận
mới trong nghiên cứu quản lý di sản và du lịch văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là chứng
minh tính hợp lý của quan điểm kinh tế học văn hoá trước nhu cầu bảo tồn - phát triển
các lễ hội truyền thống (có hàm lượng vốn văn hóa cao trong nguồn tài nguyên di sản
văn hoá đó) hướng đến việc phục vụ phát triển du lịch, đem lại lợi ích nhiều mặt (không
chỉ có lợi ích kinh tế) cho địa phương, cho đất nước và các thành phần liên quan.
6.2. Đóng góp về thực tiễn
Về thực tiễn, luận án với kết quả nghiên cứu được trình bày đã cố gắng:
- Đánh giá, khái quát được một số vấn đề thực tiễn về quản lý lễ hội truyền
thống và các lễ hội truyền thống có khả năng tiếp cận hay gắn với phát triển sản
phẩm du lịch, cả trường hợp coi lễ hội truyền thống là sản phẩm du lịch;
11
- Khảo sát hai lễ hội cụ thể nhằm minh chứng cho các lý thuyết áp dụng
để nghiên cứu, đồng thời cũng từ thực tiễn nghiên cứu hai lễ hội này, nhận định
khả năng các lễ hội truyền thống được tiếp cận dưới góc độ là sản phẩm văn hóa
thì có nhiều tiềm năng để phát triển và phát triển kinh tế du lịch. Các lễ hội này
sẽ có thêm các xung lực mới trong nội tại để phát triển, gắn bó hài hòa lợi ích
của nhà quản lý và doanh nghiệp, giữa nhà nước và nhân dân cả trong vấn đề
kinh tế, xã hội và nhu cầu tâm linh. Qua khảo sát này cũng nhìn nhận ra những
thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ
gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện
những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”.
Trong tiếng Anh chỉ có một thuật ngữ là “management” nhưng dịch sang
tiếng Việt có hai cách chuyển ngữ là “quản lý” và “quản trị”, trong đó: “quản lý”
được dùng để chỉ sự vận hành công việc ở cấp độ vĩ mô, đối với Nhà nước, “quản
trị” được dùng ở cấp độ vi mô, đối với tổ chức.
Quản lý như một hoạt động thực tiễn ra đời từ rất sớm trong lịch sử và xuất
hiện dù còn ở dạng sơ khai của con người trong quá trình lao động. Nhưng các tư
tưởng quản lý chỉ xuất hiện khi có sự phân công lao động, giữa lao động trí óc và lao
động chân tay. Khoa học Quản lý ra đời từ thế kỷ XVI, được nghiên cứu hệ thống bắt
nguồn từ các nước Phương Tây. Có rất nhiều học giả đã phát triển học thuyết quản lý
thông qua các nghiên cứu về doanh nghiệp như: Federick W. Taylor (1947) Henry
Fayol (1949), Max Weber (1947), Gulick (1937),… Hệ thống hóa về lý thuyết quản
lý này được coi là cơ sở cho việc xây dựng các khoa học quản lý hiện đại.
Thuyết “quản lý một cách khoa học” được Taylor đưa ra trong tác phẩm
Principles of Scientific Management (Những nguyên tắc quản lý một cách khoa học)
13
(1947) là tư tưởng lớn, làm nền tảng cho sự ra đời của các lý thuyết quản lý sau này của
Fayol (1949), Gulick (1937). F.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu
tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa
học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật, đã cho rằng: “Quản lý là hoàn
thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã
hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [138]. Nội dung chính của thuyết
quản lý một cách khoa học là năng suất hay hiệu quả công việc có đạt được hay không
về cơ bản phải dựa vào cách quản lý. Quản lý một cách khoa học là một chiến lược để
đạt tối đa hiệu quả trong đó có sự phân tầng công việc cho từng bộ phận và sử dụng tối
đa khả năng của người lao động, giúp đem lại thành công cho công việc.
hoạch); tuyển dụng (stepping: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá
nhân cho từng công việc thích hợp); chỉ đạo (directing: giúp các thành viên làm việc
hiệu quả hơn để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ
chức); điều phối (coordinating: giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch
(kế hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra);
báo cáo (reporting) và cuối cùng lập ngân sách (budgeting). Tám bước quản lý này
đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau như các mắt xích trong chuỗi quản lý [113].
Như vậy thuật ngữ quản lý/ management theo cách hiểu của các nhà nghiên
cứu nước ngoài đã bao gồm hoạt động tổ chức. Nhưng thực tiễn ở Việt Nam hiện
nay, hai hoạt động này thường được hiểu thành hai nội dung tách rời là tổ chức thực
hiện và quản lý của tổ chức (organzation/nhà nước) đối với việc tổ chức thực hiện.
Tư tưởng lớn về quản lý tiếp tục được cụ thể hóa bởi học giả McGregor
(1960). Trong tác phẩm The Human Side of Enterprise (Về mặt con người của
doanh nghiệp) (1960), McGregor đã đưa ra hai mô hình: Mô hình quản lý X
(Theory X) và Mô hình quản lý Y (Theory Y). Theo mô hình quản lý X được áp
dụng ở những tổ chức mà cách quản lý rất chặt chẽ, hà khắc và trừng phạt có thể
được áp dụng bất cứ lúc nào. Trái lại, mô hình quản lý Y (Theory Y) không dựa
trên cách quản lý hà khắc và trừng phạt mà dựa trên quản lý “mềm.” Mô hình quản
lý X sẽ không hiệu quả bởi vì nó không chú trọng tới “nhu cầu xã hội và vị thế của
cá nhân.” Trong khi đó, mô hình quản lý Y quan tâm tư nguyện vọng của người lao
động, giúp họ đạt được mục tiêu cá nhân hòa chung với mục tiêu của tổ chức. Như
15
vậy quản lý tốt, hiệu quả và thành công phải là sự kết hợp hài hòa giữa Theory X và
Theory Y. Nếu nghiêng về Theory X hoặc Theory Y không đều làm cho quản lý bị
lệch phương hướng và sẽ không hiệu quả [107].
Lý thuyết quản lý gắn liền với lý thuyết tâm lý: Maslow (1943) là người đưa ra
lý thuyết về một tâm lý khỏe mạnh (healthy psychology). Một tâm lý khỏe mạnh nghe
có vẻ đơn giản nhưng nó là một trong những cách quản lý con người quan trọng nhất.
hành chính, quản lý Nhà nước, đây là cách hiểu về quản lý vĩ mô, rất phổ biến cả
trong lý luận và thực hành bấy lâu nay ở Việt Nam.
Hai là, quản lý văn hoá theo nghĩa là toàn bộ kỹ năng và phương pháp tác
động và kiểm soát để điều khiển đối tượng đi đến mục tiêu đã định trước. Trong lĩnh
vực văn hóa khái niệm này thường được dùng trong những cụm từ như: quản lý dự án
văn hoá, quản lý lễ hội, festival, quản lý các thiết chế văn hoá (nhà hát, rạp…), quản
lý các chương trình nghệ thuật, quản lý sự kiện…
Như thế, khái niệm quản lý mà luận án sử dụng được hiểu là toàn bộ những
phương pháp, kỹ năng trong một quá trình quản lý gồm các khâu: lập kế hoạch, lên
chương trình, marketing, gây quỹ, tài trợ, thực hiện và đánh giá. Đây cũng chính là
quan điểm chủ đạo được phát biểu trong Bộ giáo trình về Quản lý văn hoá của dự án
“Biên soạn giáo trình Quản lý văn hóa (bậc cử nhân và các khóa học ngắn hạn) và
Phát triển chương trình Quản lý văn hóa (bậc thạc sỹ)” giai đoạn 2005-2009 (Đại học
Văn hóa Hà Nội).
Quản lý văn hóa cũng sẽ mang những đặc điểm của lý thuyết quản lý như:
quản lý một cách khoa học, quản lý dựa trên nhu cầu. Ngoài ra, quản lý văn hóa cũng
mang tính tất yếu và phổ biến, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người,
là tác động có ý thức, tác động bằng quyền lực, tác động theo quy trình, phối hợp
các nguồn lực, thực hiện mục tiêu chung, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính
nghệ thuật. Trong quản lý văn hóa cũng có tự quản. Đối tượng quản lý văn hóa là
văn hóa, và những đối tượng, thành phần liên quan đến văn hóa. Tóm lại, quản lý
văn hóa là một lĩnh vực của quản lý.
1.1.1.2. Lễ hội và lễ hội truyền thống
Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác
nhau trong giới nghiên cứu. Từ điển Bách Khoa Việt Nam trong mục từ “Lễ hội” đề
cập đến lễ hội truyền thống khi định nghĩa “Lễ hội là hoạt động của một tập thể
người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo”. Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên (1998, tái bản 2007) cũng định nghĩa “lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có
18
giặc ngoại xâm, những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp, những
người chóng chọi với thiên tai, trừ ác thú, những người chữa bệnh cứu người...) đã
hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người. Lễ hội gần gũi với con người và
thường được diễn ra ở nơi thiêng liêng như đình, chùa... để thể hiện sự tôn kính.
Lễ hội là nơi người dân được thể hiện sự tín ngưỡng và tham gia vào các trò
vui chơi. “Lễ và hội hòa quyện, xoắn xít với nhau đề cùng nhau biểu hiện một giá
trị nào đó của một cộng đồng. Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ”.
Nguyễn Quang Lê cho rằng: Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ
thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín
ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính
linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc. Thông qua các nghi lễ này
con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và
nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác
động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình. Hệ thống hội bao gồm các
trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí,
các đám rước và ca múa dân gian… Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song
đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng. [50]
Ngô Đức Thịnh diễn giải: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể
“chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ,
tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh
nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh
đề tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ
đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [85].
Như vậy khái niệm lễ hội trong quan điểm nghiên cứu lâu nay tại Việt Nam
thường bao hàm nghĩa “truyền thống” trong đó, và vì thế, để phân biệt cụm từ “hiện
đại” hay “đương đại” được thêm vào sau thành “lễ hội hiện đại”, “lễ hội đương
đại”, để chỉ những lễ hội mới hay lễ hội du nhập của giai đoạn hiện tại. Quy chế tổ
hiện tượng văn hóa dân gian mà còn là một tượng mang tính lịch sử xã hội. Nhiều
yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội truyền thống bảo lưu và truyền tụng từ đời này
sang đời khác và thực sự trở thành di sản văn hóa truyền thống vô giá.