HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN MINH CHÍNH
SINH HO¹T V¡N HãA QUAN Hä LµNG
(QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG QUAN HỌ VIÊM XÁ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 04
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS PHẠM DUY ĐỨC
2. GS. TSKH PHAN ĐĂNG NHẬT
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo qui định.
Tác giả
Trần Minh Chính
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
HIỆN NAY
3.1. Không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ làng
3.2. Xã hội Quan họ làng
3.3. Kết bạn Quan họ
3.4. Diễn xướng Quan họ
3.5. Văn hóa giao tiếp, ứng xử và tục kiêng hèm
3.6. Tạo nguồn nghệ nhân Quan họ
72
72
81
89
91
101
108
Chương 4: BẢO TỒN, PHÁT HUY SINH HOẠT VĂN HÓA QUAN HỌ
LÀNG HIỆN NAY
4.1. Những nhân tố cơ bản tác động đến sinh hoạt văn hóa Quan họ làng
4.2. Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra trong sinh hoạt văn hóa Quan
họ làng hiện nay
4.3. Phương hướng bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng
4.4. Một số giải pháp cơ bản
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVHPVT
:
Di sản văn hóa phi vật thể
DSVHVT
:
Di sản văn hóa vật thể
DCQH
:
Dân ca Quan họ
ĐQH
:
Đội Quan họ
ĐTH
:
Toàn cầu hóa
TG
:
Tác giả luận án
UBND
:
Ủy ban nhân dân
VHQHL
:
Văn hóa Quan họ làng
VHTT
:
Văn hóa thông tin
VHTT&DL
:
hữu. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi sinh hoạt văn hóa Quan họ làng cần phải được
bảo tồn như thế nào để vừa bảo lưu tối đa những giá trị truyền thống căn cốt; vừa
phát huy, phát triển để đáp ứng nhu cầu của con người hiện đại và môi trường
văn hóa hiện nay.
Như vậy, đặt vấn đề nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng là hết sức
cần thiết.
Tuy nhiên, điểm lại tình hình nghiên cứu dân ca Quan họ từ thế kỷ XX đến
nay, mặc dù đã có nhiều thành tựu; trong đó có một số công trình in thành sách, các
bài nghiên cứu riêng đã có đề cập tới sinh hoạt văn hóa Quan họ làng cổ truyền
nhưng chưa có công trình nào chuyên tâm nghiên cứu về sinh hoạt văn hóa Quan họ
làng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Đây chính là giai đoạn lịch sử đầy biến động
và cũng giàu thành tựu của sự bảo tồn, phát triển dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc.
Xuất phát từ những lí do kể trên, tôi lựa chọn đề tài: Sinh hoạt văn hóa
Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá) làm đề tài Luận án tiến sĩ
của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung:
Nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng và xu hướng phát triển của sinh
hoạt văn hóa Quan họ làng trong tương lai.
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Làng thủy tổ Quan họ Viêm Xá và mối quan hệ
liên làng trong vùng Quan họ Kinh Bắc. Khi xác định cách tiếp cận trường hợp để thực
hiện đề tài, chúng tôi đã lựa chọn làng Quan họ Viêm Xá bởi một số điểm sau:
+ Đây là làng Quan họ gốc và được dân gian vùng Quan họ tôn vinh là làng
Thủy tổ của Quan họ, nơi duy nhất có đền thờ Vua Bà - vị nữ thần được dân gian
truyền tụng là người đã sáng tạo ra dân ca Quan họ, gây dựng nên làng Viêm Xá xưa.
Luận án góp phần nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn những vấn đề lý luận chung
về bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng. Phát hiện những vấn đề mới về
4
phương diện lý luận của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng và vai trò của sinh hoạt văn
hóa Quan họ làng trong giai đoạn hiện nay.
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp nhận diện sinh hoạt văn hóa Quan
họ làng và việc bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng nói riêng, sinh
hoạt văn hóa truyền thống nói chung, trước hết là trên chính quê hương của loại
hình dân ca này.
- Nội dung, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên
cứu, giảng dạy trong hệ thống các trường văn hóa nghệ thuật, khoa học xã hội và
nhân văn và làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt là
quản lý văn hóa cơ sở vùng Quan họ Kinh Bắc.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận án gồm 04 chương, 18 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài , trong phần Tổng quan
Tại hội thảo này, trong tham luận của các học giả nước ngoài, có một số
tham luận đề cập trực tiếp tới dân ca Quan họ, tiêu biểu là:
GS.TS Tokumaru Yosihito, Đại học Không gian, Nhật Bản trong tham luận:
Mục đích của Hội nghị đã đánh giá cao việc Việt Nam chọn Di sản phi vật thể Quan
họ để ưu tiên bảo tồn, phát triển bên cạnh Di sản phi vật thể Âm nhạc Cung đình
Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên. Ông khẳng định: bằng việc quan tâm đến "truyền
thống nhỏ" (chỉ Quan họ) chúng ta có thể quan tâm đến tương lai âm nhạc trên toàn
thế giới.
GS.TS Gisa Jahnichen, Đại học Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức trong
bài tham luận: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại Việt Nam
đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về dân ca Việt Nam của ông khi đưa vào bài viết
của mình các loại dân ca nổi tiếng của Việt Nam như Ví giặm, Trống quân, Bài
chòi, hát Đúm, hò Đối đáp, Quan họ để đối chiếu, so sánh và lập luận. Ông nhấn
mạnh đặc điểm "ứng tác, ứng ca" của Quan họ theo những qui tắc đặc biệt riêng.
Ông kết luận: cuộc sống của chúng ta được bảo vệ bằng chính những thể loại âm
nhạc truyền thống phù hợp, ngay cả khi xung quanh chúng ta có những phương
tiện thông tin hiện đại. Theo ông, "hát Quan họ là một kiểu thức cuộc sống rất
độc đáo, vì nó có ý nghĩa trong việc duy trì một nền âm nhạc bản địa vào đầu thế
kỷ XXI".
TS. Lauren Meecker, Đại học Columbia, Hoa Kỳ trong bài tham luận Từ bài
hát ra đến sân khấu: Sinh hoạt Quan họ ở Việt Nam hiện nay, bà bàn về quan hệ
giữa Quan họ và nghệ thuật diễn xuất đã thay đổi như thế nào; về sân khấu trung
gian giữa loại Quan họ cổ và Quan họ mới như thế nào. Đây cũng là một trong
những nội dung chính được nghiên cứu trong Luận án tiến sĩ của bà, như chúng tôi
đã nêu ở trên. Đáng chú ý là bà đặt "Quan họ cổ" gắn với "Làng" - sinh hoạt văn
hóa Quan họ làng, "Quan họ mới" gắn với "hiện đại". Đặc biệt, bà đặt khái niệm
"sinh hoạt Quan họ" tương ứng với khái niệm "chơi Quan họ" và "biểu diễn Quan
7
nhưng lại không hay bằng giọng Vặt. Nhận xét quan trọng này khi ứng vào tình
hình phát triển Quan họ hiện nay ta thấy rất rõ là các bài Quan họ giọng Vặt được
truyền dạy và sử dụng nhiều hơn hẳn các bài Quan họ lề lối.
9
Đặc biệt, đáng chú ý hơn cả có Luận án tiến sĩ “Hát đối đáp nam nữ thanh
niên” của Nguyễn Văn Huyên được công bố vào năm 1934. Trong công trình rất có
giá trị này, Nguyễn Văn Huyên đã đề cập khá sâu sắc đến dân ca Quan họ nhất là
hình thức hát đối và sinh hoạt Hội Lim - một lễ hội Quan họ lớn và tiêu biểu vào
bậc nhất của vùng Quan họ.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu sau 1945 đến nay
Có thể thấy, từ 1945 đến 1954 là giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Trong
thời gian khoảng 10 năm này, do chiến tranh, tình hình nghiên cứu không có dấu ấn
gì đáng kể.
Từ hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954) đến đầu thế kỷ XXI, công tác
nghiên cứu Quan họ đã được tiến hành liên tục và có bước phát triển đáng kể. Trên
thực tế đã có những công trình nghiên cứu công phu, dày dặn được in thành sách,
thành giáo trình dạy học một cách khá toàn diện.
Trong giai đoạn từ 1955 đến trước 1965 có các công trình nghiên cứu quan
trọng: "Tìm hiểu dân ca Quan họ" của Trần Linh Quý, Hồng Thao [84]; "Tìm hiểu
nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh" của Nguyễn Tiến Chiêu [25]; "Dân ca Quan họ Bắc
Ninh" của Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc [82]; "Quan
họ Bắc Ninh" của Nguyễn Viêm [120]. Ngoại trừ tập nhạc của Nguyễn Viêm chủ
yếu ghi âm lại các bài Quan họ (60 bài), các công trình nghiên cứu còn lại đã đề cập
đến nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển của dân ca Quan họ. Tuy nhiên, do
phần lớn là các nhạc sỹ làm nghiên cứu nên chủ yếu sản phẩm nghiên cứu vẫn thiên
về âm nhạc, sưu tầm các bài bản... Hướng nghiên cứu liên ngành về Quan họ nói
riêng và văn nghệ dân gian nói chung giai đoạn này vẫn chưa được áp dụng mà chủ
yếu là nghiên cứu đơn ngành. Vì vậy, Quan họ chưa thật sự được quan tâm nghiên
phải bổ sung những lối chơi cụ thể của từng làng. "Lối chơi" là tiếng các
nghệ nhân Quan họ thường dùng để chỉ toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Quan
họ mà mình tham gia. Nói cách khác lối chơi là toàn bộ những mối quan hệ
giữa người và người trong sinh hoạt văn nghệ Quan họ, và toàn bộ những gì
làm nên, những gì góp phần vào mối quan hệ ấy. Quan hệ ấy một phần thể
hiện trong âm nhạc, trong lời ca; mặt khác, không kém phần quan trọng, còn
thể hiện ở những quy ước về lề lối sinh hoạt (ví dụ lề lối hát, lề lối kết bạn, sự
giao tiếp giữa các Quan họ), thể hiện ở ngay cử chỉ, trang phục, những tập tục
khi ăn nói, lúc đứng ngồi… của các Quan họ [65, tr.19].
11
Có một điểm đáng chú ý là về sau này, các tác giả của công trình này, và hầu
hết các nhà nghiên cứu khác đều gọi "sinh hoạt văn hóa Quan họ" mà không gọi "sinh
hoạt văn nghệ Quan họ". Như vậy, Quan họ không bó hẹp trong một hiện tượng văn
nghệ mà là một hiện tượng văn hóa tổng thể bao gồm trong nó nhiều sinh hoạt khác.
Đặc biệt, trong công trình này có tới 3 chương trong tổng số 12 chương được dành để
nghiên cứu về người nghệ sỹ Quan họ. Đây là một kết quả nghiên cứu khá toàn diện
và đầy đủ về người nghệ sỹ - nghệ nhân Quan họ từ đời sống tình cảm cho đến đời
sống sáng tạo, ca hát của họ.
Tác giả Trần Chính công bố công trình nghiên cứu: "Nghệ nhân Quan họ
làng Viêm Xá" [27]. Đây là công trình nghiên cứu cho ta hình dung một cách cụ thể
về diện mạo sinh hoạt của đội ngũ nghệ nhân Quan họ Làng Viêm Xá trong thế kỷ
XX, và đây cũng là cuốn sách đầu tiên của một tác giả nghiên cứu về một làng
Quan họ gốc. Nội dung của công trình nghiên cứu này cũng nhìn nhận Quan họ
không chỉ là một loại hình dân ca thuần túy về mặt âm nhạc và ca hát.
Trung tâm Văn hóa Quan họ Bắc Ninh công bố công trình nghiên cứu:
"Dân ca Quan họ lời ca và bình giải" của Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh [56]
đã công bố một hệ thống hơn 400 lời ca Quan họ để rồi từ đó các tác giả đã dày
công phân tích, đối sánh, phân loại đi tới xác định Quan họ có tới 213 làn điệu (dân
gian, do vậy ông luôn tìm cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp
đa ngành, liên ngành. Trong công trình 300 bài Quan họ ông đã dành tới 20 năm để
sưu tầm, ký âm, sắp xếp, chú giải kỹ lưỡng một hệ thống làn điệu và lời ca đồ sộ nhất
từ trước đến nay. Đây là một kho tàng tư liệu có nhiều giá trị khoa học và thực tiễn
đối với công tác nghiên cứu và bảo tồn, phát huy, phát triển Quan họ không phải chỉ
cho ngày hôm nay.
Năm 2006, năm bản lề của quá trình chuẩn bị hồ sơ khoa học về Không
gian văn hóa Quan họ để tiến tới trình UNESCO công nhận Quan họ là Di sản văn
hóa phi vật thể (DSVHPVT) đại diện của nhân loại, UBND tỉnh Bắc Ninh đã phối
hợp với Bộ Văn hóa thông tin (VHTT) tiến hành thu thập, lựa chọn một số công
trình nghiên cứu về Quan họ từ trước tới nay (trong khoảng 100 năm, gối giữa thế
kỷ XX và XXI) để xuất bản thành sách. Kết quả là tháng 4 năm 2006 cuốn sách
Vùng văn hóa Quan họ Bắc Ninh đã được Viện VHTT và Sở VHTT Bắc Ninh phối
hợp công bố đến bạn đọc. Mục đích của cuốn sách, ngoài việc góp phần hoàn thiện
hồ sơ về Quan họ để trình Ủy ban UNESCO, còn cung cấp cho bạn đọc một "cách
13
nhìn toàn diện hơn khi tiếp cận với không gian Văn hóa Quan họ" [127, tr.10].
Cuốn sách gồm 3 phần: (1169 trang):
- Phần I: Vùng Văn hóa Kinh Bắc;
- Phần II: Văn hóa Quan họ;
- Phần III: Âm nhạc Quan họ.
Do không thể in tất cả các công trình nghiên cứu về Quan họ trong suốt gần
100 năm qua nên các nhà biên soạn đã tổ chức xây dựng một Thư mục không gian
Văn hóa Quan họ rất công phu để phục vụ cho công tác tra cứu tìm hiểu về văn hóa
Quan họ và vùng văn hóa Bắc Ninh - cái nôi của dân ca Quan họ. Thư mục này
được bố cục trong cuốn sách như một nội dung quan trọng, gồm 2 phần:
- Phần: Quan họ (gồm 579 công trình và bài viết).
- Phần: Vùng Văn hóa Bắc Ninh (gồm 319 công trình và bài viết).
hội… Tất cả những luận điểm ấy đều hướng tới sự khẳng định tầm kiệt
tác nhân loại của không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh [90, tr.823].
Ở một phương diện khác có liên quan đến không gian văn hóa Quan họ,
trong bài phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Tri Nguyên sau khi dẫn ra
một loạt các công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu có uy tín như: Trần
Linh Quý, Hồng Thao, Đặng văn Lung, Nguyễn Tiến Chiêu, Nguyễn Đình Bưu
v.v…đã viết: "các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích một cách sâu sắc và
minh chứng một cách khá đầy đủ về tính tổng thể của văn hóa Quan họ: đó là những
giá trị về phong tục, tập quán, về đức tin tín ngưỡng, về thế ứng xử và lối ứng xử
của người dân Quan họ, về sự kế thừa và phát triển"…[90, tr.32]. Cũng trong bài đề
dẫn này, tác giả Nguyễn Tri Nguyên đã đặt khái niệm Văn hóa Quan họ liền kề với
khái niệm Dân ca Quan họ [90, tr.25,35]. Và theo cách lý giải của ông thì Văn hóa
Quan họ bao gồm trong nó Dân ca Quan họ và các sinh hoạt văn hóa liên quan trực
tiếp khác. Rõ ràng, kết quả nghiên cứu đã cho thấy các sinh hoạt văn hóa Quan họ
trong đó có dân ca Quan họ không chỉ góp phần chủ yếu tạo nên không gian văn
hóa Quan họ mà còn là phần lớn bản thân không gian văn hóa ấy.
Cuốn kỷ yếu còn một mảng tham luận rất quan trọng khác của các học giả
nước ngoài, chúng tôi đã tổng hợp, phân tích ở mục 1.1.1 Nghiên cứu của các tác
giả nước ngoài.
Tiếp theo Hội thảo quốc tế về Quan họ, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh tổ
chức Hội thảo: "Quan họ Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp bảo tồn" [91] đã nhận
15
được gần 30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương.
Đặc biệt Hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn, nhà quản lý ở Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch sở tại và đông đảo các nghệ nhân, các đại diện các làng,
các đội Quan họ, các nghệ sĩ Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Ngay sau đó, cuốn kỷ
yếu: Quan họ Bắc Ninh, thực trạng và giải pháp bảo tồn đã được xuất bản. Trong
nội dung cuốn sách, một số các tham luận có liên quan đã được trình bày trong các
nhiệm nhiệm vụ hoạt động như một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với
những chỉ tiêu phải thực hiện theo kế hoạch nhà nước về số buổi biểu
diễn và doanh thu [80, tr.84-85].
Và tác giả đã đề xuất việc bảo tồn, giữ gìn Quan họ truyền thống phải được
trao cho Trung tâm Văn hóa Quan họ (Tại thời điểm ra đời của bài tham luận này,
Bắc Ninh có Trung tâm Văn hóa Quan họ. Trung tâm này, ngoài các nhiệm vụ khác
có nhiệm vụ nghiên cứu dân ca Quan họ) đảm nhiệm với các hoạt động nhằm phát
động, khuyến khích người dân khôi phục các lề lối, tập tục, nếp sinh hoạt Quan họ
cổ truyền ở các thôn làng vùng Quan họ. Ý kiến của GS. Nguyễn Thụy Loan đã gợi
nên những suy nghĩ có tính chất đường hướng, xu hướng liên quan đến vấn đề bảo
tồn, phát huy dân ca Quan họ cả trước mắt và lâu dài.
Trong bài tham luận Suy nghĩ về thực trạng và một số kiến nghị về bảo tồn,
phát huy di sản văn hóa Quan họ khi nhận xét về phương hướng và mục đích của Hội
thảo, tác giả Trần Minh Chính đã viết:
…các nhà tổ chức lại đặt ra yêu cầu rất hay là bàn về "Văn hóa Quan họ",
chứ không chỉ bó hẹp loại hình dân ca này trong khuôn khổ một sự ca hát
thuần túy. Như vậy, đây thực sự là một Hội thảo đòi hỏi những đóng góp
liên ngành để bàn về một NỀN VĂN HÓA mà bản thân sự ca hát chỉ là một
thành tố hạt nhân, cốt lõi. Quan họ lớn và có thể sẽ trường tồn chính là ở chỗ
này. Dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc đã đem lại cho chúng ta không chỉ
những bài ca, những làn điệu mà là cả một nền văn hóa với biết bao khía
cạnh hấp dẫn của nó: từ môi trường tự nhiên và văn hóa đến phong tục tập
quán, văn hóa ứng xử, giao tiếp, ngôn ngữ và cả cách cảm, cách nghĩ thấm
đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản của con người nơi đây [80, tr.90-91].
Như vậy, tác giả đã khẳng định, Quan họ có một nền văn hóa riêng có - một
hiện tượng văn hóa tổng thể được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hữu cơ của
rất nhiều sinh hoạt văn hóa khác cùng với sinh hoạt ca hát Quan họ. Về ý kiến này
17
Văn hóa dân tộc công bố cuốn sách: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quan họ
18
Bắc Giang. Đây là kết quả của Hội thảo khoa học: Khai thác phát huy các giá trị
di sản dân ca Quan họ Bắc Giang. Tại Hội thảo đã có 20 bài tham luận của các
nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa trong và ngoài tỉnh. Nội dung cuốn sách
cho thấy, trong những năm gần đây ở phía Bắc sông Cầu (thuộc địa phận tỉnh
Bắc Giang) ngoài 5 làng gốc Quan họ được nhà nghiên cứu Trần Linh Quý công
bố lần đầu tiên (1971) cùng với bản đồ 49 làng Quan họ [93, tr.10] thì Bắc Giang
có tới gần 20 làng Quan họ khác mới được phát hiện trải dọc sông Cầu và ngoại
vi gần của con sông này. Khi bàn về các làng Quan họ Bắc sông Cầu, đáng chú ý
có tham luận của PGS.TS Bùi Quang Thanh. Năm 2006 ông đã cùng nhóm
nghiên cứu khảo sát hàng tháng tại nhiều làng thuộc các huyện Việt Yên, Yên
Dũng, Hiệp Hòa tỉnh Bắc giang và kết quả thu nhận theo ông, có "nhiều mới lạ"
[93, tr23]. Ở các làng Bùi Kép, Bùi Bến thuộc xã Yên Lư huyên Yên Dũng; các
làng Đình Cả (Quảng Minh), Hạ Lát (tiên Sơn), Trung Đồng (Vân Trung), Thổ
Hà (Vân Hà), Quang Biểu (Quang Châu thuộc huyện Việt Yên; làng Cẩm Xuyên
(Xuân Cẩm) thuộc huyện Hiệp Hòa… có đội ngũ nghệ nhân cao niên ở độ tuổi từ
80 trở lên vẫn còn nhớ một thời hát Quan họ từ trước 1945. Có cụ còn nhớ tới
hàng chục bài Quan họ cổ. Và nhóm nghiên cứu này đã ghi âm được khoảng 50 bài
Quan họ cổ chưa từng được công bố trước đó [93, tr.23].
Trong bài tham luận: Quan họ cần được bảo tồn và phát huy trong thời đại
mới, tác giả Ngô Văn Trụ, với tư cách là một nhà quản lý văn hóa (ông nguyên là
Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Bắc Giang) đã nhận
xét: Thực tế cho thấy rằng đến những năm 90 của thế kỷ XX Quan họ mới có sự
chuyển biến qua 5 năm liên tục các cuộc Hội thi Quan họ được ngành văn hóa Hà
Bắc tổ chức tại nhà văn hóa Bắc Ninh gắn với Hội Lim. Lúc ấy mới chủ yếu thi
giọng hát hay và hát đối nhằm tìm ra nhiều bài ca, làn điệu đối đáp là chính, còn về
văn hóa Quan họ, sinh hoạt văn hóa Quan họ ở làng chưa được quan tâm.
công bố rải rác trong thời gian từ những năm 1920 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ
XXI. Những bài tiểu luận và báo chí này tiếp cận dân ca Quan họ từ nhiều góc
độ, khía cạnh và thiên về phân tích những sinh hoạt có tính thời sự, cập nhật của
Quan họ, nhưng cũng đã cung cấp nguồn tư liệu, thông tin rất có giá trị góp phần
hình dung diện mạo của Quan họ trong suốt chiều dài gần một thế kỷ qua. Bên
cạnh các công trình, bài viết được xuất bản, công bố ở dạng tài liệu in như đã khái
quát ở trên cũng cần kể đến các nguồn tư liệu khác như phim ảnh, băng đĩa ghi âm,
các dự án nghiên cứu, bảo tồn, phát huy dân ca Quan họ đã được thực hiện trong
nhiều chục năm qua (chủ yếu là từ 1955 đến nay). Trong đó rất đáng chú ý có bộ
phim tài liệu màu 8 tập Hát Quan họ đã cung cấp những hình ảnh sống động và vô