Hoạt động hoằng pháp của giáo hội phật giáo việt nam tỉnh đắk lắk và đời sống văn hóa của người êđê hiện nay (nghiên cứu trường hợp người êđê ở huyện }ư mgar) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------------

PHÙNG THÁI HỘI
(THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA CỦA NGƢỜI ÊĐÊ HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP NGƢỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ƣ\
Mgar)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------------------------

PHÙNG THÁI HỘI
(THÍCH TỊNH QUANG)

HOẠT ĐỘNG HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA CỦA NGƢỜI ÊĐÊ HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP NGƢỜI ÊĐÊ Ở HUYỆN }\ƣ\

trách khoa Tôn giáo học đã đem hết tâm nguyện, tâm huyết, kiến thức và kinh
nghiệm truyền đạt cho tôi trong thời gian lƣu học tại trƣờng.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hồng Dƣơng, bậc thầy
khả kính đã hƣớng dẫn tận tình, chỉ dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức
và kinh nghiệm có giá trị để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả chƣ thiện tri thức, những bạn bè,
những ngƣời đã gắn bó và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng nhƣ
trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng, con xin tri ân đến ân sƣ, cha mẹ, huynh đệ và những ngƣời
thân đã tạo điều kiện để con yên tâm học tập trong suốt thời gian qua.
Xin cảm ơn tất cả!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Học viên

Phùng Thái Hội
(Thích Tịnh Quang)


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI ÊĐÊ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA
PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NGƢỜI ÊĐÊ Ở ĐẮK LẮK ................................. 19
1.1. Khái quát về ngƣời Êđê ở huyện }ƣ| Mgar tỉnh Đắk Lắk ........................ 19
1.2. Khái quát về sự du nhập, ảnh hƣởng của Phật giáo đối với đồng bào
dân tộc thiểu số nói chung, ngƣời Êđê ở Đắk Lắk nói riêng .......................... 25
Chƣơng 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƢỜI ÊĐÊ VÀ PHƢƠNG
THỨC HOẰNG PHÁP CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM Ở
HUYỆN }Ƣ¥ MGAR HIỆN NAY ................................................................ 35
2.1. Đời sống văn hóa của ngƣời Êđê và Phật giáo trong đời sống văn hóa


NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT

1

TT

Thƣợng toạ

2

UV

Uỷ viên

3

GHPGVN

Giáo hội Phật giáo Việt Nam

4

THPG

Thành hội Phật giáo

5

TW

và cả ngƣời sống đều có thể sẻ chia cùng nhau ƣớc vọng bình an giữa sóng gió luân
hồi chỉ bằng sự thành tâm, lòng yêu thƣơng dành cho đồng loại trong từng cuộc lễ
cầu an, cầu siêu…
Điều gì đã khiến Phật giáo trở nên gần gũi, thiết thân trong lòng dân tộc Việt
đến vậy? Có rất nhiều lý do đƣợc đƣa ra. Một trong những lý do ấy chính là sự cộng
hƣởng, hòa nhập rất tự nhiên nhƣng không kém phần thú vị giữa tƣ tƣởng, quan
điểm của Phật giáo và lối sống, tâm hồn của dân tộc Việt nói chung. Vì vậy, nghiên
cứu, khảo sát về ảnh hƣởng, mối tƣơng quan giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam
luôn thu hút đƣợc không ít sự quan tâm của khoa học và cả tôn giáo. Tuy nhiên,
diện mạo văn hóa Việt Nam không chỉ đƣợc tạo nên từ văn hóa của tộc ngƣời Việt.
Do đó, nghiên cứu tƣơng quan giữa Phật giáo và đời sống văn hóa Việt Nam, không
thể bỏ qua mối tƣơng quan dấu ấn Phật giáo trong đời sống văn hóa của các đồng
bào dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Xuất phát từ suy nghĩ ấy, chúng tôi
chọn đề tài: Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đắk
Lắk và đời sống văn hóa của ngƣời Êđê hiện nay (nghiên cứu trƣờng hợp

1


ngƣời Êđê ở huyện }ƣ\ Mgar). Với đề tài trên, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu
hơn mối tƣơng quan cũng nhƣ những ảnh hƣởng của Phật giáo đối với đời sống văn
hóa của cộng đồng ngƣời Êđê. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, luận văn hy vọng
sẽ mang lại cho mọi ngƣời thêm một điểm nhìn, cách nhìn về Phật giáo trong đời
sống văn hóa của tộc ngƣời Êđê ở Đắk Lắk nói riêng, và tộc ngƣời Êđê ở Việt Nam
nói chung. Thông qua đó, có thể có hƣớng hoằng pháp, giải pháp tích cực, phù hợp
nhất để bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng thời khắc phục, hạn
chế những cách nghĩ, cách sống chƣa phù hợp, lệch lạc (nếu có) của tộc ngƣời Êđê
ở Đắk Lắk hiện nay, để văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo trở thành một dòng
chảy liền mạch, thông suốt, dung hòa một cách trọn vẹn trong dòng chủ lƣu của văn
hóa và Phật giáoViệt Nam.

bộ phận của văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, có thể kể đến“Văn hóa dân gian Tây
Nguyên, một cách nhìn”. Trong công trình này, Linh Nga Niê Kdam đƣa ra nhận
xét khái quát về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên (có ngƣời Êđê): “Có thể thấy, văn
hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có bản sắc riêng, độc đáo nhưng không hề
tách rời và có tính thống nhất trong bản sắc văn hóa chung của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam” [42, tr. 23-24]. Tuy nhận xét còn chung chung, chƣa chỉ rõ những
biểu hiện cụ thể của “bản sắc riêng, độc đáo” của văn hóa Tây Nguyên, song, tác
giả đã bƣớc đầu gợi mở cho ngƣời đọc những ấn tƣợng ban đầu để đi sâu vào tìm
hiểu văn hóa của đồng bào các dân tộc, trong đó có ngƣời Êđê.
Trong “Trang phục truyền thống của người Ê Đê Bih” tác giả Lƣơng Thanh
Sơn đề cập đến dân tộc Êđê và các nhóm tộc ngƣời ở tỉnh Đắk Lắk, tác giả cho rằng: “
Người Bih là một nhóm của dân tộc Ê đê, có cùng nguồn gốc ngôn ngữ Austronesian(
Malayô-Poolinêdi) lục địa. Cư dân Bih có quan hệ nguồn gốc với người Chăm, Jarai,
Chu ru, Raglai và có quan hệ cộng cư với các dân tộc khác trong khu vực như M’nông
và các nhóm của M’nông…tập sách Trang phục truyền thống người Bih sẽ góp phần
làm sáng tỏ mối quan hệ đó, đồng thời với việc tìm hiểu trang phục người Bih thông
qua những đặc trưng và ứng xử tộc người sẽ giúp các nhà khoa học trong việc đánh
giá trình độ phát triển kinh tế- xã hội-văn hóa của cư dân Bih. Từ đó có những định
hướng đúng đắn cho họ trong việc lựa chọn những ứng xử thích hợp của dân tộc mình
trong hoàn cảnh hiện tại và tương lai.” [48, tr. 8].
Trong cuốn “Sự biến đổi những giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay”. Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa

3


đã phân tích về giá trị xã hội truyền thống và vai trò của nó trong đời sống xã hội,
thực trạng biến đổi các giá trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên, đồng thời đƣa ra một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy các giá
trị xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

đạo” của Việt Nam) lại hầu như rất ít. Do đồng bào theo tập quán bầy đàn, nên
cùng đồng tâm theo các tôn giáo du nhập từ phương Tây? Hay các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên không phải là đối tượng tuyên truyền được lựa chọn của Phật giáo?
Điều này chưa có cuộc khảo sát nào để đưa ra kết luận chính thức” [43. tr. 82]. Ý
kiến này đã gợi mở cho luận văn một hƣớng nghiên cứu mới, đó là thử đi vào tìm
hiểu, lý giải vì sao Phật giáo chƣa có đƣợc ảnh hƣởng thật sự tích cực, mạnh mẽ
trong lòng đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên nói chung, ngƣời Êđê nói
riêng. Vì sao một tôn giáo từng đƣợc xem là “quốc đạo”, từng có thời hoàng kim
trong lịch sử Việt Nam lại có một “chỗ đứng” khá khiêm tốn ở Tây Nguyên, giữa
dòng chảy văn hóa của ngƣời Êđê?
Nhƣ vậy, có thể thấy, dù vốn tài liệu nghiên cứu còn khá ít ỏi, song, những
đánh giá trên đã phác thảo, gợi mở cho những ai mong muốn tìm hiểu về đời sống
văn hóa của ngƣời Êđê có đƣợc cái nhìn mang tính định hƣớng, khơi dậy niềm hứng
thú để bƣớc vào thế giới văn hóa của tộc ngƣời Êđê.
Ở nhóm thứ hai, nhóm nghiên cứu đời sống văn hóa của người Êđê như một
nền văn hóa đặc trưng, riêng biệt có thể nhắc đến tác giả Trƣơng Bi – Bùi Minh Vũ
với tác phẩm“Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’nông”.Tác
giả đã nói lên thực trạng văn hóa truyền thống các tộc ngƣời Êđê, M’nông và một số
kết quả đạt đƣợc về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc ngƣời Êđê, M’nông,
đƣa ra những giải pháp cơ bản về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc ngƣời
Êđê, M’nông. Từ những kết quả nghiên cứu này, ngƣời đọc có thể phần nào hình
dung đƣợc đặc trƣng, những chuyển biến của đời sống văn hóa tộc ngƣời Êđê trong
dòng chảy văn hóa Việt Nam đƣơng đại.
Ngoài ra, trong “Nghi lễ - lễ hội Ê Đê”, tác giả Trƣơng Bi cũng đã đề cập
khá chi tiết đến tộc ngƣời Êđê ở Tây Nguyên. Ở đây, ngƣời đọc có thể tìm thấy đặc
trƣng về không gian văn hóa Êđê thông qua đời sống sinh hoạt cộng đồng. Tác giả
đã miêu tả khá cụ thể, chi tiết về những nghi lễ - lễ hội đặc trƣng của ngƣời Êđê nhƣ
nghi lễ - lễ hội vòng đời, lễ cúng cho ngƣời mẹ mang thai, lễ đặt tên thổi tai, lễ

5

chỉ ra rằng “Người Ê đê là một tộc người thuộc xã hội mẫu hệ khá điển hình ở Việt

6


Nam. Những nguyên tắc mẫu hệ chi phối nhiều mặt trong tổ chức gia đình, xã hội
và in dấu rõ rệt trong đời sống văn hóa của người Ê đê”[41, tr. 45]. Tác giả còn đi
vào tìm hiểu về vai trò của ngƣời phụ nữ trong đời sống văn hóa của ngƣời Êđê:
“Vai trò người phụ nữ được biểu hiện sinh động trong luật tục, chuyện kể, được
hình tượng hóa trong kiến trúc dân gian ( nhà mồ, cồng chiêng). Qua đó, chúng ta
có thể thấy người phụ nữ không chỉ có vai trò trực tiếp đối với gia đình, dòng họ mà
còn có tác động gián tiếp đối với thiết chế tổ chức xã hội Ê đê” [41, tr. 46]. Từ đây,
Tuyết Nhung Buôn Krông nêu lên một nhận xét khá xác đáng: “Sự quyết đoán, chủ
động theo kiểu nữ tính của họ lại là một trong những phẩm chất cần thiết để họ
hoàn thành tốt vai trò của họ trong cộng đồng mẫu hệ. Mặt khác họ rất dịu dàng,
khiêm nhường, nép mình bên người chồng. Đó là tính cách đa diện của phụ nữ Ê
đê” [41, tr. 200].
Trong công trình nghiên cứu của Phó giáo sƣ, Tiến sĩ. Hà Đình Thành với đề
tài: “Cộng đồng dân tộc Ê đê ở tỉnh Đăklăk hiện nay” đã nghiên cứu một cách toàn
diện và hệ thống về cộng đồng dân tộc Êđê, về nguồn gốc cũng nhƣ đời sống văn
hóa của tộc ngƣời Êđê, trong đó tác giả có đề cập đến tôn giáo nhƣng cũng chỉ dừng
lại ở hai tôn giáo đó là Công giáo và Tin lành.
Riêng tác giả Trƣơng Thị Hiền với “Luật tục Ê Đê – một nền tư pháp hòa
giải những giá trị xã hội và sự biến đổi”cho rằng: “chúng tôi cho rằng luật pháp và
luật tục đều là “luật”- là những hiện tượng xã hội với những thuộc tính: (1) có
những quy tắc mang tính bắt buộc, (2) những quy tắc này được áp đặt bởi một
nhóm xã hội nào đó, và (3) những quy tắc này có thể thay đổi. Theo đó, luật tục và
pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, cùng hướng đến trật tự
xã hội. Có điều, nếu luật pháp hướng đến trật tự xã hội chung thì luật tục hướng
đến trật tự cộng đồng. Nếu như luật tục chỉ có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các

hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số
So với những công trình nghiên cứu về ngƣời Êđê thì những công trình nghiên
cứu, bài viết về hoạt động hoằng pháp của Phật giáo hƣớng đến đồng bào dân tộc
thiểu số càng có số lƣợng khiêm tốn hơn. Trong kỷ yếu hội thảo hoằng pháp toàn
quốc năm 2011, tổ chức tại Bình Dƣơng có một số bài tham luận về hoạt động
hoằng pháp hƣớng đến dân tộc thiểu số.
Trƣớc hết phải kể đến tham luận “Hoằng pháp và đồng bào dân tộc”của Đại
đức Thiện Minh Ủy viên Hội đồng trị sự, Ủy viên ban Hoằng pháp Trung ƣơng,
trong đó tác giả đề cập đến những yêu cầu đối với ngƣời hoằng pháp. Đó là những

8


ngƣời phải thật tu, phải thật học, phải có tƣớng mạo, phải có tâm, phải viết lách khá
tốt và phải có sức khỏe. Đại đức đề cập đến những biện pháp để thực hiện hoằng
pháp cho ngƣời dân tộc có hiệu quả: thứ nhất là tâm không phân biệt, thứ hai là biết
ngôn ngữ của họ, thứ ba là lập chùa trong vùng dân tộc, thứ tƣ là tiếp độ ngƣời dân
tộc xuất gia, thứ năm là gây quỹ để giúp ngƣời dân tộc và cuối cùng là mở những
khóa tu để dạy đạo cho ngƣời dân tộc.
Thƣợng tọa Thích Huệ Thông (Ủy viên. Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo,
Quyền Trƣởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Bình Dƣơng) trong bài tham luận
với chủ đề “Nhu cầu và giải pháp truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa
của Tổ quốc” cho rằng: “Kể từ ngày GHPGVN được thành lập đến nay đã 30 năm,
mặc dù Phật giáo đã phát triển lớn mạnh trên khắp mọi miền đất nước trong suốt
thời gian gần một phần ba thế kỷ qua, tuy nhiên công tâm nhìn nhận thì giữa Phật
giáo vùng đồng bằng với Phật giáo vùng miền núi, giữa Phật giáo miền ngược và
Phật giáo miền xuôi vẫn còn sự chênh lệch khá xa trong việc thọ nhận nguồn văn
hóa Phật giáo cũng như tiếp nhận ánh sáng giáo lý Phật Đà. Có thể nói rằng, đây
là một sự thiệt thòi đáng tiếc của quần chúng Phật tử vùng sâu vùng xa.Chính vì
vậy mà việc truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa cần phải được xem là

tài năng, đức độ trong ban chuyên trách về dân tộc, đảm nhiệm từng khu vực để
giải quyết kịp thời công việc của từng khu vực, đồng thời các vị ấy cũng có thời
gian để tập trung vào chuyên môn trong khu vực của mình, tìm ra những giải pháp
thích hợp nhất để tập trung vào chuyên môn trong khu vực của mình, tìm ra những
giải pháp thích hợp nhất để hoằng dương Phật pháp. Ưu tiên đào tạo người dân tộc
bản xứ. 6. Soạn thảo kinh sách, băng đĩa, tài liệu Phật pháp ra các thứ tiếng thổ
dân để giúp đồng bào bản xứ vùng sâu, vùng xa học và tìm hiểu Phật pháp được dễ
dàng. Ban Giáo dục Tăng ni tổ chức các lớp học tiếng dân tộc, tuyển chọn những
người dân tộc trẻ có điều kiện từ vùng cao xuống miền xuôi để học tập, tạo điều
kiện cho họ về kinh tế tài chính và học hỏi Phật pháp, sau khi tốt nghiệp trở về bản
xứ, họ là kênh chuyển tải và lan tỏa Phật pháp hiệu quả nhất. 7. Tăng cường các
hoạt động từ thiện nhân đạo với các vùng đồng bào dân tộc, vùng cao, vùng xa,
thành lập quỹ học bổng, bệnh viện khám chữa bệnh, trường học, trung tâm phục vụ
người già…8. Mỗi năm, trung ương Giáo hội cũng như tỉnh thành hội, nên dành
một phần tài chánh để phục vụ cho hoạt động công tác Phật sự tại vùng cao, vùng

10


xa. Suốt chặng đường hoằng pháp của chúng ta, đây là thời điểm thích hợp nhất
cho việc truyền bá chánh pháp ở vùng sâu, vùng xa. Bởi chính sách tự do tôn giáo,
tự do tín ngưỡng và chính sách ưu tiên xây dựng phát triển kinh tế xã hội ở vùng
cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước. Hội thảo lần
này là cơ hội tốt, để chúng ta cùng nhau bàn thảo phương thức hoằng truyền ánh
sáng từ bi và trí tuệ của đức Phật, trải rộng đến khắp mọi miền đất nước và 54 dân
tộc anh em, nhằm thực hiện bản hoài của đức Phật, vì lợi ích của chư thiên và loài
người”[ 24, tr.116- 117].
Trong bài “ Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam
hiện nay”, Thạc sĩ. Dƣơng Hoàng Lộc (Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) có nhận xét: “Phật giáo có vai trò

trên chính mảnh đất nơi mà họ đã từng sống ngày trước! Chưa thấy có, ít ra là một
ngôi chùa mang đậm bản sắc người Tây Nguyên để cho bà con mỗi khi bước vào
không ngỡ ngàng xa lạ với chung quanh. Rất thương cho bà con muốn theo Phật,
mà mỗi bước đi còn lạ lẫm ngỡ ngàng, thậm chí xa vời với buôn làng bản ấp của
mình, thì thiệt thòi biết bao nhiêu! Đó là những tồn tại của Phật giáo Đăk lăk nhiều
nhiệm kỳ qua, hy vọng sẽ được tái lập và khơi dậy trách nhiệm trong nhiệm kỳ
mới”[26, tr. 22].
Trong bài tham luận của Ban Hoằng pháp tỉnh An Giang với chủ đề: “Hoằng
pháp với đồng bào dân tộc”, Đại đức Thích Thiện Trí đã đề cập đến hoạt động
hoằng pháp với ngƣời dân tộc trên tinh thần giải thoát. Tác giả cho rằng Phật giáo là
đạo từ bi, đạo giải thoát đƣa con ngƣời đến con đƣờng chân, thiện, mỹ. Nói đến
Phật pháp là nói đến phƣơng pháp hợp lý, hợp cơ. Đem chánh lý áp dụng thích hợp
nơi căn cơ con ngƣời hiện thời là Phật pháp. Hoặc nói “Phật pháp bất định pháp”,
tức là giáo pháp của đức Phật không cố định, không câu nệ một cách cứng nhắc mà
luôn luôn linh động, tùy thời, tùy cơ. Nhƣng không phải tùy cơ mà biến mất bản
chất Phật giáo, chủ trƣơng của Phật giáo là “Tùy duyên nhi bất biến” hoặc ngƣợc lại
“Bất biến nhi tùy duyên”. Bản chất từ bi, trí tuệ, giải thoát của Phật giáo không bao
giờ thay đổi, nhƣng phƣơng tiện thực hiện từ bi cần phải tùy thời, tùy cảnh và tùy
căn cơ của chúng sanh. Vì thế, Phật giáo đến nƣớc nào liền có hình thái thích nghi
với dân tộc nƣớc ấy, cho nên, Phật giáo ở nƣớc nào là của dân tộc nƣớc đó và cũng
mang tên nƣớc đó. Nhƣ “Phật giáo Việt Nam”.

12


Với tham luận “Hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số nội dung và một số giải
pháp”, Phó giáo sƣ, Tiến sĩ Trần Hồng Liên đƣa ra các định hƣớng lâu dài và
định hƣớng trƣớc mắt cho hoạt động hoằng pháp. Theo đó, định hƣớng trƣớc mắt
là phải tổ chức thƣờng xuyên các buổi thuyết giảng ngắn trong tháng, sinh hoạt
văn hóa-nghệ thuật tại các buôn làng và kết hợp hoạt động từ thiện - xã hội với

nghe thuyết pháp thì nên hƣớng dẫn họ ngồi lên trên, không nên để họ ngồi phía sau
và ngƣời Kinh dành ngồi phía trƣớc. Khi vào bữa ăn, nên ngồi chung mâm với họ
để có sự chăm sóc và tạo môi trƣờng thân thiện. 2. Thiết lập, huấn luyện một lực
lƣợng cƣ sĩ hoằng pháp với sự dấn thân không mệt mỏi, không chấp công, không vụ
lợi vào các nơi có đông đảo đồng bào sinh sống để truyền bá đạo pháp, hƣớng dẫn
tu tập cho họ biết lễ Phật, tọa thiền, tụng kinh làm công đức. Luôn bám sát các vùng
đồng bào dân tộc đã quy y. Thƣờng xuyên đi vào buôn ít nhất một tuần một lần, bởi
sau khi quy y mà chúng ta không vào buôn làng thƣờng xuyên thì chỉ sau một tháng
thậm chí là một tuần họ sẽ bỏ chúng ta đi theo đạo khác. Chúng ta cần thấy rõ rằng
các đạo khác không thua mình về công tác hoằng pháp có thể nói là hơn hẳn về các
phƣơng pháp tiếp cận truyền bá giáo lý, khả năng tài chính. Chỉ có giúp cho đồng
bào tu tập và hiểu rõ giáo lý Phật pháp thì ngƣời đồng bào mới vƣợt qua đƣợc mặc
cảm, không bị kẻ xấu mua chuộc làm ảnh hƣởng đến lao động sản xuất, tự vƣơn lên
trong cuộc sống tạo ra của cải vật chất không còn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của mọi
ngƣời nữa. 3. Phải tạo điều kiện cho các tu sĩ, cƣ sĩ học tiếng đồng bào, trang bị
trình độ giáo lý Phật pháp sao cho phù hợp với tầm nhận thức của đồng bào không
nên nói xa quá, cao quá, khó hiểu. Nên xem lại việc in sách, kinh bằng tiếng dân tộc
bởi không phải ngƣời dân tộc nào cũng biết chữ của họ. Số biết rất ít. Chƣa kể tại
Việt nam chúng ta rất đa dạng dân tộc làm sao chúng ta dịch cho hết từng ấy tiếng.
Vì vậy khi in ra tặng cho đồng bào, họ không đọc bỏ đi rất lãng phí. Tiền in sách
này dùng trang bị cho cƣ sĩ học tiếng dân tộc thì có hiệu quả hơn. Một cƣ sĩ truyền
bá giỏi bằng tiếng dân tộc ngay tại địa phƣơng họ, hiệu quả hơn hoằng pháp cực kỳ
tốt đẹp. 4. Băng đĩa thuyết pháp cho ngƣời đồng bào cần lựa chọn nội dung cho phù
hợp với họ và cần dịch qua tiếng của từng dân tộc, có minh họa hình ảnh cho sinh
động. Nếu có thể ban hoằng pháp sẽ sắp xếp lại bài giảng cụ thể đúng trình độ sơ cơ
của họ. 5. Nạn phá rừng, giết hại động vật hoang dã là nguồn gốc của thiên tai, bão
lụt, hạn hán mất mùa. Cho nên chúng ta cần dùng Phật pháp để vận động bà con dân

14



15


Phương cách hướng dẫn đồng bào dân tộc tu theo chánh pháp của Đại đức Thích
Nhuận Pháp; Người Phật tử dân tộc làm gì cho công tác Phật sự vùng sâu vùng xa
của Đại đức Thích Vạn Nhơn; Triển khai chương trình hoằng pháp ở vùng sâu
vùng xa của Phật tử Hồ Thị Kim Duyên; Tổ chức thành lập các đạo tràng tu học tại
vùng sâu vùng xa của Đại đức Thích Đồng Giải….
Nhìn chung, từ những bài tham luận, những ý kiến do các tác giả đề xuất, có
thể thấy rằng, hoạt động hoằng pháp cho ngƣời dân tộc thiểu số ngày càng đƣợc
quan tâm hơn. Quan điểm chung của các tác giả là chú trọng các hoạt động thực
tiễn, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực cho đồng bào ngƣời dân tộc. Tuy
nhiên, với nếp sống, nếp nghĩ, cách sinh hoạt, tƣ duy của đồng bào, nhất là đối với
những đồng bào dân tộc mà tôn giáo chính không phải là Phật giáo, hoạt động
hoằng pháp lại là một vấn đề đáng phải lƣu tâm hơn. Làm sao để giáo lí Phật giáo
đƣợc đồng bào đón nhận mà vẫn không tạo nên những “tranh chấp” về tƣ tƣởng,
sinh hoạt truyền thống của đồng bào, đó là một thử thách không nhỏ đối với tu sĩ
Phật giáo ngày nay. Ở đây, trong giới hạn của đề tài luận văn, hy vọng có thể phần
nào đƣa ra những giải pháp khả thi nhất, thiết thực cho vấn đề này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghi lễ - lễ hội, luật tục và đời sống văn hoá của ngƣời Êđê và
những hoạt động Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với đời sống
văn hóa cộng đồng ngƣời Êđê hiện nay, từ đó đề xuất khuyến nghị, giải pháp cho
hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất tìm hiểu về đời sống văn hóa của tộc ngƣời Êđê.
- Thứ hai nghiên cứu ảnh hƣởng của Phật giáo đối với đời sống sinh hoạt

trên để phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu về văn hóa của tộc ngƣời Êđê, so sánh
trong tam tạng Phật giáo để tìm ra những điểm tƣơng đồng.
Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra sự nhìn nhận hiểu biết của đồng
bào về Phật giáo, phỏng vấn ngƣời có uy tín các buôn, lập bảng hỏi các đạo tràng
tộc ngƣời Êđê về chùa tu tập.
Phương pháp so sánh: So sánh các nghi lễ - lễ hội, luật tục của tộc ngƣời Êđê
để tìm những chỗ tƣơng đồng với nghi lễ và giới luật của Phật giáo.
Phương pháp hỗn dung tiếp biến giao thoa văn hóa ( lý thuyết thích nghi và
biến đổi văn hóa)
Phương pháp điền dã

17


Với một đề tài hoàn toàn mới, luận văn sử dụng phƣơng pháp điền dã là rất
quan trọng để thu tập tài liệu thực tế, đó cũng là phần quyết định chính trong luận văn
nghiên cứu của chúng tôi. Phƣơng pháp này nằm trong chƣơng II và chƣơng III.
Phương pháp tham dự, quan sát
Chúng tôi cùng tham dự và quan sát các khóa tu của đạo tràng tộc ngƣời Êđê tại
các chùa hay ở nhà của tộc ngƣời trong buôn. Trải nghiệm thông qua các nghi lễ, lễ hội
của tộc ngƣời để cảm nhận và định hƣớng hoạt động hoằng pháp của Phật giáo.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Với đề tài: “Hoạt động hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh
Đắk Lắk và đời sống văn hóa của tộc ngƣời Êđê hiện nay” chúng tôi hy vọng luận
văn sẽ là nguồn tài liệu khoa học căn bản hữu ích cho những ai muốn khảo cứu về
ảnh hƣởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của tộc ngƣời Êđê ở Đắk Lắk
cũng nhƣ ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status