Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá của người Chăm - Pdf 19

Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hoá của người Chăm
(Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học văn hoá TP. HCM)
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả cá cơ quan,
quí cấp, các tổ chức, các tập thể đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ.
Về phía các cơ quan, quí cấp, tổ ch
ức, tập thể xin cảm ơn:Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Ninh Thuận, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm tại Ninh Thuận,
Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Ninh Thuận, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp.Hồ Chí
Minh, Thư viện Khoa học xã hội Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp
Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Quốc gia Tp.Hồ ChÍ Minh, Thư viện
Trường
Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Văn Hiến,
Thư viện Trường Đại học Sài Gòn, Thư viện Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ
thuật Tp.Hồ Chí Minh, Khoa Quản Lý Văn hóa-Nghệ thuật, Khoa Văn hóa học,
Khoa Di sản văn hóa, Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số (Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí
Minh), Câu lạc bộ Nghiên cứu khoa học, Tập thể lớp Đại học Quản Lý Văn hóa
3B
Về phía cá nhân xin cảm ơn: Lời đầu tiên xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành
đến thầy Lê Hoàng Quân đã tận tình hướng dẫn nhóm chúng tôi làm để tài. Ngoài
ra xin cảm ơn các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học như GS Phạm Đức Dương,
GS Phan Đăng Nhật, TS Phan Quốc Anh, TS Phú Văn Hẳn, TS Thành Phần, Th.Sĩ
Trương Văn Món- Sakaya, Nhà thơ Inrasara và các giảng viên như TS Đậu Thị
Ánh Tuyết, TS Nguyễn Văn Hiệu, TS Nguyễn Văn Th
ắng, Th.Sĩ Nguyễn Ngọc
Thơ, Th.Sĩ Lưu Hoàng Chương, Th.Sĩ Lâm Nhân, Th.Sĩ Hứa Sa Ni, các sinh viên
như Nguyễn Hồ Phong, Đặng Thị Phương Uyên, Nguyễn Thị Trà Giang lớp Đại
học Quản Lý Văn hóa 1
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn.

M ỤC L ỤC

2.2. Tín ngưỡng phồn thực với Bàlamôn giáo. 39
2.2.1. Sơ lược về Bàlamôn giáo 39
2.2.2. Tín ngưỡng phồn thực với Bàlamôn giáo 42
2.3. Những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người
Chăm ở Ninh Thuận 45
2.3.1. Biểu hiện dưới hình thức thờ các biểu tượng 45
2.3.2. Thờ nữ thần phồn thực
47
2.3.3. Biểu hiện qua lễ hội 51
2.3.4. Biểu hiện qua kiến trúc, điêu kh
ắc 58
2.4.5. Biểu hiện qua nghi lễ vòng đời 61
Chương 3. Tín ngưỡng phồn thực với sự giao lưu văn hóa 66
3.1. So sánh với tín ngưỡng phồn thực của các dân tộc khác. 66
3.2. Tín ngưỡng phồn thực với giao lưu văn hóa. 69
3.3. Những giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá trong tín
ngưỡng phồn thực 70
Phần kết luận 79
Tài liệu tham khả
o 81
Ảnh minh họa 89 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Chăm là một trong 54 dân tộc ở nước ta, thuộc hệ ngôn ngữ Mã lai-Nam
Đảo (Austronesien). Từ thế kỷ II, sau khi đánh đổ ách thống trị của phong kiến
Trung Hoa, người Chăm đã lập nên vương quốc riêng của mình, trải dài từ đèo
Ngang đến Nam Trung Bộ. Trải qua hàng ngàn năm, họ đã sáng t
ạo được một nền

Đông Nam Á.
- Tăng thêm nguồn tài liệu cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hoá.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của nhóm chúng tôi tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Đi sâu vào tìm hiểu tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa Chăm.
- Phân tích những yếu tố tích cực và tiêu cực đến tín ngưỡng phồn thực và công
việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy loại hình tín ngưỡng này.
- Đi tìm mối liên hệ giữa tín ngưỡng phồn thực của người Chăm với các dân tộc
khác.
3. Lịch sử vấn đề
Văn hoá Chăm từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
như Ngô Văn Doanh, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Phan An, Phan Xuân
Biên, Phan Quốc Anh, Phú Văn Hẳn, Thành Phần, Trương Văn Món-
Sakaya,….Và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá xã hội
Chăm ra đời. Về người Chăm ở Ninh Thuận đặc biệt vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo,
tín ngưỡng phồn thực Chăm vẫn còn mang tính chất khiêm tốn. Chúng tôi xin đưa
ra một số công trình, một số bài viết đã đuợc xuất bản và công bố trên các tạp chí.
Các công trình đã đuợc xuất bản
GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm với công trình: “Tìm về b
ản sắc văn hoá Việt
Nam”, Nxb Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh (1996/2004) và “Cơ sở văn hoá Việt
Nam”, Nxb Giáo dục (1999). Đây là hai công trình chứa đựng đầy tâm huyết của
tác giả về văn hoá của Việt Nam trong đó có tín ngưỡng và tín ngưỡng phồn thực
ở Việt Nam nói chung.
GS.TS.Ngô Đức Thịnh với công trình: “Tín ngưỡng, văn hoá tín ngưỡng ở Việt
Nam”, Nxb Khoa học xã hội (2001). Đây là công trình nghiên cứu sâu về các hình
thức tín ngưỡng dân gian trong đó có viết về
tín ngưỡng phồn thực.
PGS.TS.Ngô Văn Doanh với công trình “Văn hoá cổ Chămpa”, Nxb Văn hoá dân
tộc (2002); PGS.TS Phan An, Phan Xuân Biên, Phan Văn Dốp với công trình

trong lễ hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam và Đông Nam Á” đăng trên Tạp
chí Văn hóa nghệ thuật, số 9, 1999 đã nêu lên một số biểu hiện của tín ngưỡng
phồn thực nhưng chỉ trong lễ hội và mang tính khái quát ở Việt Nam và Đông
Nam Á chứ chưa đi sâu về hình thứ
c tín ngưỡng này.
Bài viết “Tín ngưỡng phồn thực Việt Nam trong dòng chảy văn hóa Đông Nam
Á qua các lễ hội nông nghiệp” của tác giả Vũ Anh Tú đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Đông Nam Á số 9 năm 2008. Trong bài viết này tác giả đã cho thấy được
nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng phồn thực gắn liền với nông nghiệp đồng thời
nhấn mạnh vị trí, vai trò của hình thức tín ngưỡng này trong văn hóa Việt Nam nói
riêng và văn hóa Đông Nam Á nói chung.
Bài viết “Tín ngưỡng phồn thực trong dấu ấn mỹ thuật-dấu ấn một bình diện văn
hóa Việt Nam” của tác giả Đỗ Lai Thúy là bài viết mô tả các biểu hiện của tín
ngưỡng phồn thực trong mỹ thuật cụ thể trong trạnh vẽ và trong các bức tượng.
Qua đó tác giả đã phần nào cho thấ
y được những giá trị văn hóa của nó trong văn
hóa Việt Nam và xem nó như một bình diện của văn hóa Việt.
Tạp chí Di sản đăng trên tờ Vietnam Association of Ethnology vào ngày 20 tháng
2 năm 2006 trong bài viết “Ngày tết ở Việt Nam và Đông Nam Á( Số1/14/2006)
có nói về tính phồn thực của người Lào, người Thái dùng nước làm biểu tượng
cho sự sống và là nguồn lực khơi nguồn cho sự sinh sôi nảy nở. Bài viết đã mô tả
rất kĩ
những động tác dùng nước để thể hiện ước vọng phồn thực và thể hiện qua
các lễ hội, qua tượng thờ Linga và Yoni, qua hành động giao phối của các nghi lễ
nông nghiệp,…
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật với bài viết “Tín ngưỡng phồn thực qua trò diễn hội
làng Châu thổ Bắc Bộ” số 12(258)/2005 của tác giả Đỗ Lai Thúy đã nêu lên biểu
hiện của tính phồn thực qua trò chơi dân gian ở làng Danh Hự
u xã Cố Tiết (Tam
Nông, Phú Thọ) và người dân Sơn Đồng (Quốc Oai, Hà Tây). Bài viết cho ta thấy

Từ công trình, bài viết đó đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc nhất để chúng tôi có
cái nhìn khái quát hơn về nó, từ đó bắt tay vào nghiên cứu trong đời sống văn hóa
người Chăm một cách tốt hơn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tín ngưỡng phồn thực của người Chăm theo đạo Balamon
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Thời gian nghiên
+ Các làng Chăm tại tỉnh Ninh Thuận
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân gian là nơi bảo lưu
rất nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc như phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ
hội…Do đó nghiên cứu “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa người
Chăm” chính là góp phần vào việc đi sâu, tìm hiểu văn hóa Chăm trong việc
nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á.
Đảng và Nhà Nước ta đã xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của văn hóa trong tình hình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết
Trung ương Đảng số 05 khóa VIII: Xây dự
ng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong khi đó: Văn hóa là nền tảng tinh thần xã
hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Vì vậy,
việc nghiên cứu “Tín ngưỡng phồn thực trong đời sống văn hóa của người Chăm”
không chỉ nghiên cứu về văn hóa mà còn xem xét, đánh giá nó trong tình hình phát
triển kinh tế, xã hội và sự giao lưu, hộ
i nhập với văn hoá khu vực và quốc tế. Đồng
thời, ta có thể hiểu được những giá trị của nó dưới góc độ là di sản văn hóa phi vật
thể Chăm.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận

1.1.1.Vị trí địa lý
Ninh Thuận là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ có tọa độ địa lý 11018‘14’’ đến
120 09’15’’ vĩ
độ Bắc, 1080 09’08’’ đến 1090 14’25’’ kinh độ Đông, cách thủ đô
Hà Nội 1385 km. Phía Bắc giáp với Khánh Hòa, giáp với Bình Thuận ở phía Nam,
Lâm Đồng ở phía Tây, phía Đông giáp với biển Đông. Hiện nay, tỉnh Ninh Thuận
gồm có các đơn vị hành chính sau: thành phố Phan Rang- Tháp Chàm và các
huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước. Tỉnh có diện tích tự nhiên là 3.360.1 km
chiếm 1,045% tổng diện tích của cả nước, có các đường giao thông quan trọng
như đường quốc lộ 1A, quốc lộ 27, đườ
ng sắt thống nhất Bắc Nam.[1]
1.1.2.Địa hình
Ninh Thuận có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bởi vì đây
chính là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi đâm ra biển. Lãnh
thổ của tỉnh được bao bọc bởi ba mặt núi. Phía Bắc và phía Nam là hai dãy núi
chạy sát ra biển, phía Tây là vùng núi cao giáp với tỉnh Lâm Đồng. Giữa tỉnh và
ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh vùng “Viễn tây” của
Việt Nam. Ngoài ra tỉnh còn có ba dạng địa hình chính đó là: núi, đồi gò bán sơn
địa và vùng đồng bằng ven biển. Trong đó, vùng núi chiếm 63,2% diện tích toàn
tỉnh chủ yếu núi thấp, cao trung bình từ 200m đến 1000m so với mặt nước biển.
Vùng đồng bằng chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh là địa hình bằng phẳng
có độ cao dưới 20 m. Hơn nữa, nơi đây còn có nhiều sông su
ối lớn như sông Mê
Lam, sông Sắt, sông Ông, sông Lu, sông Quau nhưng sông Cái là lớn nhất, hệ
thống sông Cái có chiều dài 246m. Bên cạnh đó còn có một số sông khác như sông
Trâu, sông Quan Thư, sông Bà Râu với tổng chiều dài 184m. Nhiều nhà địa lý học
xem Ninh Thuận như “vùng sa thảo độc nhất vùng Đông Nam Á Châu”.[2]Nhin
chung trên đại thể, địa thế tỉnh Ninh Thuận giống như một cái chảo, ba phía bắc,
tây, nam và một nửa phía Đông bị núi non bao quanh chỉ còn độ một nửa phía
đông từ sông Hán đến Ninh Chữ thông ra biển, ở giữa đồng bằng khá rộng. Cao độ

hiện đại. Tất cả các huyện, phường, xã đều có trung tâm y tế. Vì vậy mà đã đáp
ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.
Với lợi thế có bờ biển dài 105 km, có nhiều vùng biển sâu, với nhiều granit ở
ngoài biển, tạo nên những vũng vịnh, cồn là điều kiện thuận lợ
i để phát triển kinh
tế thủy sản, công nghiệp muối và làm nơi neo đậu tàu thuyền. Hàng năm đều có rất
nhiều dự án lớn đầu tư về cơ sở hạ tầng góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh. Đặc biệt đầu tư phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp
lớn, các cụm công nghiệp. Để thực hiện các dự án trên chính quyền tỉnh Ninh
Thuậ
n đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hai dự án Du Long và Phước Nam, dự
án đầu tư khu liên hợp thép Cà Ná. Hơn nữa, chính quyền tỉnh thực hiện mở rộng
qui mô đô thị như thành phố Phan Rang-Tháp Chàm với hướng mở rộng không
gian đô thị thành phố về phía Tây Bắc và Đông Bắc với qui mô dân số khoảng
200.000 người. Tỉnh còn chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông
nhất là giao thông ven biển. Nhìn chung đây là dự án trọng điểm được lãnh đạo
tỉnh Ninh Thuận quan tâm để khai thác các tiểm năng và lợi thế để phát triển kinh
tế-xã hội của tỉnh.
Ngoài ra Ninh Thuận còn có tiềm năng du lịch rất lớn góp phần vào việc phát
triển kinh tế. Vì có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân
văn nên thu hút rất nhiều khách du lịch trong và nước. Bờ biển Ninh Thuận có
nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng, tắm được quanh năm như Bình Tiên, Ninh Chữ, Cà
Ná và nhiều sông suối phục vụ du lịch như Suối Vàng, thác Tiên, nhiều tháp Chàm
như Pô Kluang Giarai, tháp Pô Rame (Ninh Phước) cho phép xây dựng du lịch
thành một ngành kinh tế quan trọng. Trong đó bãi biển Bình Tiên được đánh giá
một trong bãi biển đẹp nhất nước với cảnh thiên nhiên hùng vĩ gắn với vườ
n quốc
gia Núi Chúa đang được đầu tư xây dựng thành khu du lịch tầm cỡ của cả nước và
Đông Nam Á. Nơi đây còn lưu giữ, bảo tồn nhiều công trình văn hóa kiến trúc cổ
Chămpa gắn liền với các lễ hội văn hóa tộc người Chăm. Chính sự đa dạng về địa

và phát triển mạnh, trải dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận với nhiều tên gọi như
Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chămpa, Chiêm Thành. Họ sống bằng nông nghiệp là
chính, kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi
một cách khá thành thạo. Mô tả về người Chăm, thư tị
ch cổ Trung Hoa vào thế kỷ
VI có viết “mắt sâu, mũi cao, da đen, tóc đen biết làm ruộng hai mùa lúa, trồng
dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, nhuộm màu đến nay đã 600 năm” [7; tr. 23].
Trải qua nhiều thế kỷ với bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay người Chăm cư trú
rải rác ở nhiều nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Phú
Yên, Bình Định nhưng tập trung nhiều nhất vẫn ở hai tỉnh Ninh Thuậ
n, Bình
Thuận. Họ vẫn còn giữ chế độ mẫu hệ. Trong gia đình chủ nhà bao giờ cũng là
người đàn bà cao tuổi, phong tục người Chăm qui định con gái phải theo họ mẹ.
Nhà gái sẽ đi cưới chồng cho con, con trai phải ở rể nhà vợ. Thừa kế tài sản chỉ có
người con gái út vì phải có trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ già. Về tôn giáo, người
Chăm theo Ấn Độ giáo (Bàlamôn), Bàni, Islam. Trong đó Bàlamôn được nhà nước
Ch
ămpa chọm làm quốc giáo.
Về sinh hoạt cộng đồng người Chăm bố trí cư dân theo cấu trúc bàn cờ. Trong
đó, mỗi dòng họ, mỗi gia đình thân thuộc hoặc đại gia đình thường ở quây quần
bên nhau thành một khoảnh hình vuông hay hình chữ nhật. Trong mỗi làng như
vậy các khoảnh đất được ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Do đó
tính cộng đồng rất cao.
1.3.2. Đôi nét về người Ch
ăm ở Ninh Thuận
Tỉnh Ninh Thuận được xem là xứ nóng nhất của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
nói riêng và cả nước nói chung. Câu nói truyền miệng của người dân
“Nắng như Rang, gió như Phan, hai tiếng Phan Rang nghe chói chang” ý muốn nói
đến vùng đất này. Trong vương quốc Chămpa xưa, Ninh Thuận và Bình Thuận
(gọi chung là Thuận Hải) thuộc về châu Panduranga, một trong bốn châu của

+ Khu vực tháp Pô Inư Nưgar (Hữu Đức) gồm có 3 làng Hữu Đức, Như Bình,
Bầu Trúc do cả sư Hải Quý phụ trách.
+ Khu vực tháp Pô Rame (Hậu Sanh) có 6 làng thuộc huyện Ninh Phước gồm
Hậu Sanh, Hiếu Thiện, Vụ Bổn, Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, Phước Lập do cả sư Hán
Bằng phụ trách.
Trong các làng trên có hai làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp và làng gốm Bầu Trúc
được xem như hai làng nghề truyền thống cổ nhất Đông Nam Á. Đây là hai nghề
chính đã đem lại thu nhập cho người Chăm ở đây. Được sự quan tâm, chỉ đạo và
giúp đỡ của Đảng và Nhà nước nên các mặt hàng thủ công thổ cẩm và gốm của họ
được sản xuất khá rộng rãi và có mặt trên khắp thị trường tạo điều kiện cho lao
động của đồng bào Chăm.
Nhìn chung người Chăm tại Ninh Thuận một c
ộng đồng dân cư đã định cư lâu dài
từ xưa đến nay. Hơn nữa, họ là những người còn lại giữ gìn bản sắc văn hoá dân
tộc mình tại mảnh đất Nam Trung Bộ.
1.3.3. Văn hoá truyền thống của người Chăm tại Ninh Thuận
Văn hoá truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận đặc biệt người Chăm
Bàlamôn vừa mang yếu tố bản
địa nông nghiệp lúa nước vừa tiếp thu văn hoá
ngoại lai. Đó là hệ thống kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng và đặc
sắc. Tính bản địa ở đây là chế độ mẫu hệ đã xuyên suốt trong tín ngưỡng dân gian
Chăm. Có thể xem đó như một phần của văn hoá Việt Nam trong cơ tầng văn hoá
Đông Nam Á. Tín ngưỡng dân gian Chăm vẫn còn giữ được những nét nguyên sơ
và có những đặc đ
iểm tương đồng với các dân tộc ở Đông Nam Á. Và các hình
thức tín ngưỡng dân gian ấy vừa có yếu tố văn hóa biển, vừa có yếu tố văn hóa
nông nghiệp và yếu tố văn hoá núi mang nặng dấu ấn của tín ngưỡng bản địa, có
chứa đựng đầy đủ các hình thức tín ngưỡng sơ khai như ma thuật, bùa chú, tô tem
giáo, sa man giáo. GS Chu Xuân Diên nhận xét: Các yếu tố núi, đồng bằng, biển
đều có mặt trong văn hóa Ch

i Chăm đã xây dựng rất nhiều đền tháp lớn nhỏ khác nhau và kết
thành một quần thể trải dài khắp các tỉnh Duyên hải miền Trung. Tháp Chăm
thường được xây dựng theo cụm và được đánh giá đẹp hơn so với tháp của người
Khơme. Người Chăm thường gọi tháp của mình là Khalăn.[3] Đặc biệt ở Ninh
Thuận và Bình Thuận, những cụm tháp đền thờ thần được kết hợp với lăng mộ thờ
nhân thần mà các đền tháp phía bắc không có: tháp Pô Tầm (Po Dam) ở Phan Rí
(Bình thuận) thờ Pô Tầm, tháp Pô Rame (Hậu Sanh) thờ vua Pô Rômê và hoàng
hậu và tháp Pô Kluang Giarai thờ vua Pô Kluang Giarai [3;tr.36]. Các đền tháp
của người Chăm không chỉ thờ thần mà còn phát triển rộng ra thành thờ cúng tổ
tiên. Phía bên trong các cặp linga yoni, bên ngoài tượng thờ vũ nữ (Aprasa) và bò
thần Nadin. Nhìn chung đền tháp Chăm đã tiếp thu văn hóa Ân độ nhưng đã có
những biến đổi tạo ra những nét riêng.
Về âm nhạc và múa Chăm rất phong phú, đa dạng. Tộc người Chăm có rất nhiều
điệu múa khác nhau mang yếu tố trình diễn trong các lễ hội. Nhiều nghệ nhân
Chăm đã sáng tác ra nhiều điệu múa đặc sắc và gửi niềm tin tín ngưỡng trong đó,
đồng thời phản ánh quá trình lao động, sinh hoạt của cộng đồng. Do đó đối với
người Chăm múa bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của
họ
. Và nó gắn liền với mỗi làng hoặc ở trên tháp. Họ sáng tạo ra những điệu múa
ấy với mục đích tưởng nhớ những người có công xây dựng đất nước, vị vua đã
được thần thánh hóa. Và múa Chăm được chia thành múa dân gian và múa cung
đình. Múa dân gian là những điệu múa được nhân dân Chăm sáng tạo như múa
quạt (tamia tadik); múa đội lu (tamia ddewwa buk); múa khăn (tamia tanhiak);
múa dao, múa roi và múa đạp lửa (tamia jwak apwei); múa chèo thuyền (theo điệu
trống Wah gaiy); múa âm dương (còn gọi múa phồn th
ực). Còn múa cung đình là
những điệu múa được lấy cảm hứng của bức tượng điêu khắc Chămpa xưa đặc biệt
múa vũ nữ Aprasa do NSND Đặng Hùng đặt tên. Các điệu múa trên do phụ nữ
múa vì các cô gái Chăm từ khi sinh ra đến lúc lớn lên đã được mẹ dạy múa nên
trong nghệ thuật múa Chăm người phụ nữ bao giờ cũng múa rất đẹp và luôn đóng

của văn hóa tộc người trong việc tiếp thu và biến đổi các giá trị văn hóa. Những di
sản văn hóa Chăm góp phần tạo nên sự
phong phú, đa dạng của văn hóa Việt.
Tiểu kết
Ninh Thuận với địa hình, địa thế đặc thù của một vùng cực nam của Duyên hải
Nam Trung bộ đã trở thành một trong những điểm thu hút con người đến với mảnh
đất này. Hơn nữa, tiềm năng kinh tế xã hội vốn có cùng với tiềm năng du lịch tự
nhiên và nhân văn nơi đây trong tương lai sẽ là một trong nh
ững điểm đến của du
khách phương xa. Một vùng đất đầy nắng gió, cằn cỗi nhưng Ninh Thuận lại sỡ
hữu một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, đó là văn hóa Chăm với hệ thống ca múa
nhạc, thơ ca, đền tháp, điêu khắc, phong tục, lễ hội. Do đó văn hóa Chăm đã trở
thành điểm đến của những nhà nghiên cứu, nhà khoa học qui tụ về nghiên cứu, bảo
tồn, phát huy văn hóa Chăm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đồng thời nó cũng góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc với những nét đặc
sắc, nét độc đáo riêng. Và bây giờ, nó đã trở thành di sản văn hóa cần được giữ gìn
và phát triển làm giàu bản sắc văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam. Người
Chăm tại vùng đất này nói riêng và người Chăm ở khu vực miền Trung nói chung
là tộc người có trình độ văn minh cao. Ngay từ buổi sơ khai, họ đã sang tạo nên
cho mình một nền văn hóa riêng, mang bả
n sắc riêng trong cơ tầng văn hóa Việt
Nam với việc giao lưu, tiếp biến văn hóa ngoại lai. Và họ đã để lại cho các thế hệ
sau kho tàng văn hóa dân gian rất lớn với nhiều thể loại khác nhau. Đó là kết quả
của việc lao động, sáng tạo, kế thừa, tiếp thu trong các giai đọan lịch sử khác nhau
của người Chăm. Và những di sản ấy được xem là di sản văn hóa dân tộc không
chỉ của riêng người Chăm mà của Việt Nam nói chung. CHƯƠNG 2
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÍN NGƯỠNG

phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng thờ M
ẫu…Ở đây chúng tôi
chỉ đề cập đến tín ngưỡng phồn thực, một hình thức tín ngưỡng có mặt ở Việt
Nam và Đông Nam Á nói chung. Trước khi tìm hiểu về tín ngưỡng phồn thực ta
nên biết về tín ngưỡng. Sau đó mới đi tìm mối quan hệ và đưa ra khái niệm cụ thể
về tín ngưỡng phồn thực. Ngày nay, khi nói về tín ngưỡng có rất nhiều khái niệm,
định nghĩa khác nhau.
Tín ngưỡng là một thu
ật ngữ có rất nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy theo cách tiếp
cận của mỗi người mà họ đưa ra những khái niệm khác nhau. Tín ngưỡng và tôn
giáo là lĩnh vực thường đi đôi với nhau đôi khi tín ngưỡng được đồng nhất với tôn
giáo. Nó được hiểu như niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt dựa trên
trực giác, tạo cho con người một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể
nhận thức được những sự vật mà người thường không thấy được, cho ta một sức
mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục. Và niềm
tin tôn giáo là một niềm tin có thật và chắc chắn, là niềm tin mang tính chủ quan,
không cần lý giải một cách khoa học. Trong tín ngưỡng có yếu tố liên quan đến
thế giới vô hình, những siêu linh mà do chính con người tưởng tượng và sáng tạo
ra rồi chính chúng lạ
i có thể chi phối tác động ngược trở lại cuộc sống con người.
Đó là niềm tin vào một quyền lực siêu linh được san sẻ không đều cho những cộng
đồng tôn giáo, khẳng định sự ưu ái của quyền lực đó đối với một số người và từ đó
an ủi đối với thân phận của một số người khác.
Khi nghiên cứu về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo các nhà khoa học, các nhà nghiên
cứu đã đưa ra một số khái niệm về thuật ngữ tín ngưỡng, chúng tôi xin kể một số
khái niệm, định nghĩa của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu:
Trong “Định nghĩa tiếng Việt” do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên đã đưa ra định
nghĩa “lòng tin và sự tôn thờ trong một tôn giáo”. Còn theo giải thích của cụ Đào
Duy Anh, “tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một
chủ nghĩa” .GS.TS. Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về tín ngưỡng

Tam phủ (Bà Trời-Đất-Nước), Mẫu Tứ phủ (Bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp), ; Tính
tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc thần như
trong nhiều tôn giáo khác. Trong các tín ngưỡng trên, chúng tôi chọn tín ngưỡng
phồn thực làm đối tượng nghiên c
ứu, một hình thức tín ngưỡng độc đáo. Khi
nghiên cứu về tín ngưỡng này cũng có rất nhiều người đưa ra các khái niệm, định
nghĩa về nó. Chúng tôi xin được đưa ra một số khái niệm sau:
Theo “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh: “Phồn: cỏ tốt, nhiều - Thực: đầy đủ -
phồn thực : nẩy nở ra nhiều “, “Sinh thực khí: Sinh: đẻ ra - Sinh thực khí : cơ quan
của động, thực v
ật dùng để sinh thực”. Tác giả Hồ Thị Hồng Lĩnh đưa ra khái
niệm được đăng trên trang như sau: Người ta cầu mùa màng tươi tốt để duy trì
cuộc sống và con người phải sinh sôi nảy nở để tồn tại và phát triển , từ đó phát
sinh cái gọi là tín ngưỡng phồn thực: Tín ngưỡng=niềm tin; phồn=nhiều, thực=nảy
nở. Có nghĩa là niềm tin vào sự nảy nở ra nhiều vật.[5]Mộ
t khái niệm nữa cũng
cho biết: tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng cầu mong sự sinh sôi nảy nở về con
người, cầu phồn thịnh trong sản xuất, thịnh vượng của mùa màng và các cơ quan
sinh sản được đặc tả để nói về ước vọng phồn sinh.[6] GS.VS.TSKH Trần Ngọc
Thêm trong công trình “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” cho rằng: Tín ngưỡng
phồn thực-tín ngưỡng cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người
[69; tr.241]. T.S Lê Văn Chưởng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” cũng đưa ra
khái niệm: Tín ngưỡng phồn thực là sự tôn sùng và tin tưởng về sự sinh sôi nảy nở
nhiều. Tín ngưỡng phồn thực là một biểu hiện của triết lý truyền sinh, nó ở trong
quĩ đạ
o tư duy lưỡng hợp. [11; tr.43].Tác giả Nguyễn Thị Nhung trong bài viết
“Tín ngưỡng phồn thực của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận” cũng đưa
ra định nghĩa mang tính tổng quát: Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng dân gian
thể hiện ước vọng về sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người.[7] Tất cả các
khái niệm trên tuy mỗi khái niệm có mỗi cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có

bên ngoài vào. Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, vì vậy cây lúa nước rất phát
triển. Và đây là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Chính đặc điểm của điều kiện
tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả vùng Đông Nam
Á nói chung. Nhiều nhà nghiên cứu đều nhận định “Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió
mùa đã cung cấp cho con người Đông Nam Á một tài nguyên phong phú, đa dạng
rất hào phóng nhưng cũng đầy nghịch lý và thách đố đối với con người khi họ khai
thác tự nhiên vào mục đích canh tác. Là một khu vực bán đảo và đảo nên Đông
Nam Á có đủ núi rừng đồng bằng biển và được nối bởi hệ thống sông ngòi chằng
chịt đầy nước, đặc biệt là nguồn nhiệt ẩm phong phú.
Đây là một môi trường lý
tưởng cho sự phát triển nông nghiệp với một sức sống mãnh liệt”[18; tr.44]. Bởi vì
làm nông nghiệp luôn phụ thuộc vào tự nhiên, mùa vụ nên con người luôn cảm
thấy mình nhỏ bé và sợ hãi. Hơn nữa, với nền kinh tế sản xuất như mang tính tự
cung tự cấp, con người ở đây luôn sống trong sự lệ thuộc vào tự nhiên. Trước
thiên nhiên bao la với những sức mạnh huyền bí, h
ọ luôn run sợ, thần thánh hóa
các lực lượng siêu nhiên, chỉ biết cầu khẩn thụ động nhờ trời. Nói theo kiểu Việt
Nam “Ơn trời mưa nắng phải thì, trông trời, trông đất trông mây. Trông mưa trông
gió trông ngày trông đêm. Trông cho chân cứng đá mềm, trời êm bể lặng mới yên
tấm lòng” [18; tr.44]. Chính điều đó đã tạo cho các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam
và Đông Nam Á đều có ý niệm về cuộc sống và sự sinh tồn.
Đối với họ là một vấn
đề vô cùng quan trọng đặc biệt là cư dân làm ruộng lúa nước. Họ xem sự sống như
một nguyên tắc bức thiết được đặt trên hết, một cái gì đó như “đạo sống”, “đạo
sinh tồn” và tâm thức đó đã cắm sâu vào đời sống tinh thần là nền móng vững

Trích đoạn Tín ngưỡng phồn thực với Bàlamôn giáo Biểu hiện dưới hình thức thờ các biểu tượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status