; s' , ỉ .c \ à ì j Ầ o T ạ O
\v. 1 ìisv ;s HOA HỌC x l HỘI VÀ NHÂN VAM
1ÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẮN
/A —-
-TRẦN LAN HƯƠNG
PHÂN TẦNG MỨC SỐNG
VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TÚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA
Cư DÂN NÔNG THÔN BẮC BỘ
ĐẨU NHỮNG NĂM 90
Qua khảo sát xã hội hục
xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc cũ.
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 5.01.09
LUẬN ÁN THẠC s ĩ XÃ HỘI HỌC
& ' Kọc QUC Ị
'ỈMG1AM FHCNÇÏIN ïiï'i y "'■ìi ị
Người hướng dẫn khoa học
PTS. MAI QUỲNH NAM
V -
HÀ NỘI - 1997
M Ụ C LỤ C
Nội dung Trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
2. Mức sông qui định múc độ tham gia vào quá trình
sinh hoạt chính trị của làng xã 58
3. Mức sống qui định mức độ tham gia vào hoạt động
văn hóa văn nghệ 60
4. M ức sông qui định mức độ tham gia sinh hoạt văn hổa
tại nhà hay ngoài nhà 61
5. Mức sống qui định mức độ quan tâm đến việc học hành
của con em 62
n. Sự thay đổi trong hệ thông giá trị chuẩn mực 63
1. Sự đa dạng trong xu hưđng lựa chọn các loại hình sinh
hoạt văn hóa 64
2. Các xu hướng biến đổi của hệ giá trị chuẩn mực 69
a. Tinh trạng cùng tồn tại nhiều định hưđng giá trị khác nhau 69
b. Đang có xu hưđng chuyển từ các giá trị tình cảm đạo đức
của xã hộ truyền thống sang các giá trị duy lý của xã hội hiện đại 70
c. Xu hướng chuyển từ một xã hội trọng nông sang các nghề
phi nông 72
3. Vai trò của những yếu tố văn hóa mới trong phức thể văn hóa
nông thôn Bắc bộ 72
PHẦN ID: KẾT LUẬN
1. Két luận
2. Dự báo
3. Kiên nghị
77
77
80
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHU LUC
dạng trong văn hóa ỏ nông thôn tạo nên một thực trạng và xu hưđng hiến
đổi khá phong phú và phức tạp. V iệc nghiên cứu tìm hiểu quá trình phân
tầng xã hội và tác động của nổ tới đời sống văn hóa của người dân trở
thành một nhu cầu cấp thiết không những của giới nghiên cứu khoa học xã
hội mà cả của giđi quản lý nữa. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Liên hợp
quốc lại chọn thập kỷ 1988-1997 là thập kỷ phát triển văn hóa; vì trong mọi
xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu
hưđng chính trị và kinh tế nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền
với nhau.
Trong công cuộc đổi mđi hiện nay chúng tôi chọn đề tài “Phân tầng
mức sống và ảnh hưởng của nổ tới đời sống văn hóa của cư dân nông thôn
Bắc bộ đầu những năm 9 0 ” để đóng góp một phần vào việc nghiên cứu về
phân tầng xã hội và tác động của nó tđi hoạt động tái tạo văn hóa nhằm
nhận diện và phân tích nguồn lực quan trọng của sự phát triển để từ đổ đưa
ra những khuyến nghị có cơ sỏ khoa học góp phần xây dựng những chính
sách xã hội thích ứng với chúng trong công cuộc đổi mđi và thúc đẩy sự
phát triển. Qua việc nghiên cứu này chúng tôi mong muôn tìm hiểu một
cách sâu hơn về quá trình biến đổi kinh tế văn hóa và xã hội , qua đó cổ
cứ liệu cụ thể để hiểu rõ hơn quá trình vận động của xã hội nông thôn sau
Đổi Mđi.
n. M Ụ C Đ Í C H C Ủ A Đ Ề TÀI
1. Nhận dạng thực trạng phân tầng mức sông ở nông thôn Bắc bộ
trong những năm đầu thập kỷ 90 sau Đổi Mđi qua khảo sát xã hội học một
vài điểm tại Hà Bắc cũ
2 . Buớc đầu tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến phân tầng mức sông ở
vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ
3. Phân tích đời sông văn hóa của các nhóm dân cư nông thôn cỏ
mức sông khác nhau
4. Góp phần vào quá trình xây dựng cơ sở lý luận và khoa học cho
chiến lược phát triển tổng hợp nông thôn trong bõì cảnh của quá trình Đổi
Đầu những năm 80, một loạt các công trình nghiên cưú xã hội học về
nông thôn ra đời. Trước hết phải kể đến công trình của hai tác giả người Bỉ
Houtart và Lemercinier: Hải Vân-một xã ở Vìệ! Nam. Đóng góp rủa xã hội
học vào việc nghiên cứu nhũng sự quá độ (Hai Van- une commune ru rale
Vietnamienne Contribution Sociologique A-I’etude des transition). Dựa trên nghiên
cứu sâu về một xã trong thời kỳ hờp tác hóa, các tác giả đưa ra một lý
thuyết phát triển nông thôn về các xã hội quá độ như Việt Nam.
Vào năm 1995 Viện nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore cho xuất
bản công trình Sự chuyển đối của nông thôn Việt Nam (Vietnam’s rural
transformation), trong đổ các tác giả đã đi sâu phân tích sự biến đổi kinh tế
và xã hội của nông thôn Việt nam từ năm 1980 cho đến nay
Những tác động có thể có của việc phi tập thể hóa do Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị năm ỉ 988 khởi xướng là mối quan tâm lớn của các nhà
hoạch định chính sách. Cuộc điều tra sđm nhất về vấn đề này là của Bộ
Lao động, Thương binh và xã hội năm 1990 bao gồm 6950 hộ tại 21 tỉnh.
Các cuộc điều tra sau đổ của Lê Văn Toàn và các tác giả khác được tiến
hành tháng 12 năm 1989; của Bộ Nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc) năm 1991;
và của Nguyễn Văn Tiêm năm 1992. Cổ thể tìm thấy một bản tóm tắt đấy
đủ về những hàm ý của các cuộc điều tra này trong công trình của Nguyễn
Văn Tiêm (27)
Khảo sát mức sông của Việt Nam (VLSS) được thực hiện từ
thánglO/1992 đến tháng 10/1993 bởi ủy ban kế hoạch nhà nước với sự hợp
tác của Tổng cục thông kê, được tiến hành như là một phần của dự án
VBE/90/007 do UNDP và SIDA tài trợ dưđi sự điều hành của Ngân hàng thế
giđi. Quy mô của ' mẫu nghiên cứu chuẩn gồm 4.800 hộ gia đình được lựa
chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo tầng. Mầu này thể hiện
câp quốc gia bao gổm 150 cộng đồng-120 ở nông thôn và 30 ở thành thị,
Đây là cuộc nghiên cứu về hộ gia đình vđi nhiều mục đích được thực hiện
đốì vđi tiêu chuẩn sông ở Việt Nam bao gồm một loạt các chỉ số kinh tế,
xã hội về cuộc sông của các hộ gia đình. Đây là các nỗ lực ban đầu hướng
a. Vài nét sơ lược về phân tầng xã hội ở nuớc ta trước đây
Nhiều thế kỷ trong xã hội Việt nam truyền thô'ng nét nổi bật phổ
quát là một chủ nghĩa bình quân chia đều sự nghèo khổ. Người ta tự an ủi
bằng một triết lý:”ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Sự vượt trội lên của những
gia đình, những nhóm giàu có và quyền thế thường không lâu bền, sự tái
tạo về văn hóa để định hình một lốì sống cũng không vững chắc. Nói như
Thái Bá Vân nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật khi truy tìm về những
danh nhân văn hóa Việt Nam là “cây phổ hệ rất ngắn”. Điều này cổ lẽ
cũng không dừng lại ở danh nhân văn hóa, mà là nét chung của sự tái tạo
lâu bền của nhữnh nhóm chiếm vị thế cao trong xã hội Việt Nam cổ truyền.
Không “ai giàu ba họ”, rõ ràng là sự phân tầng về kinh tê' không rỗ
nét, mà rõ hơn và ổn định hơn là sự phân tầng về tuổi tác, và tiếp đó là
nghề nghiệp. “Làng nước trọng xỉ”: ông bảy mươi phải học ông bảy mốt,
thứ bậc ấy là khá nghiêm ngặt.
Cùng với sự phân tầng về tuổi tác, xã hội Việt Nam cổ truyền còn cỗ
sự phân tầng về nghề nghiệp theo thứ bậc khá rạch ròi của '4SĨ, nông, công,
thương”. Sự phân tầng này rõ ràng theo chức nghiệp và học vấn hơn là theo
của cải. Ngoài ra cần lưu tâm đến nhận xét của nhà sử học Hà Văn Tân
rằng: “ơ Việt Nam, đối vđi nhiều thời kỳ, không thể không chú trọng việc
phân tích đẳng câp. Đẳng cấp thì nhiều, nhưng ranh giới giữa các đẳng cấp
lại không thật nghiêm ngặt ”
Cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chông Pháp và
Mỹ, rồi tiếp theo đổ là cuộc chiến tranh ở biên giới tạo ra những hiến
động xã hội dữ dội ỏ nứđc ta gần 40 năm. Chiến tranh là sự bất bình
thường trong sự phát triển xã hội. Tuy vậy về mặt lý luận chúng ta vẫn coi
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ỏ miền Bắc sau 1954 và trên cả nước
sau 1975 là sự cải biến về chất về mặt xã hội so vđi thời kỳ trước đó.
Song trong thực tế, lịch sử lại ghi nhận một chủ nghĩa bình quân mới mà
gốc rễ của nó thì vẫn nằm sâu trong ccỉ tầng của xã hội tiểu nông cũ.
-7-
Đặc điểm bao trùm của nền văn hóa nông thôn Bắc bộ xuâ't phái từ
những điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù. Nhìn từ góc độ văn hóa, đây là
xã hội mà những hằng số văn hóa xuyên lịch sử vẫn còn đậm nét, được
biểu hiện trên cẳ 3 bình diện: kinh tế, chính trị và văn hóa. Trong bản thân
nội tại của văn hóa, câu trúc văn hóa truyền thông được thể hiện trên các
khía cạnh: sáng tạb và tiêu dùng văn hóa, hệ thống giá trị và chuẩn mực,
tổ chức đời sống văn hóa ở gia đình, làng xã Do đó nói đến văn hóa
nông thôn đồng bằng Bắc bộ chủ yếu là nói tới một cấu trúc văn hóa
truyền thống vẫn được bảo lưu và phát huy tác dụng trong đời sống hiện lại
của cư dân. Đây là nền văn hóa còn giữ được khá đậm nét các câu trúc
của nền văn minh nông nghiệp-nông dân truyền thông, cấu trúc này được lưu
giữ có một vị thế quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của các cư dân
ở đây, trong khi đó, các yếu tô' văn hóa mới vẫn chưa đủ mạnh để xác lập
một vị trí như những nhân tố làm biến đổi bản chất văn hóa nông thôn Bắc
bộ, nó vẫn còn là nhũng yếu tố “thêm vào”, “yếu tố phụ” trong một cấu
trúc văn hóa có lõi rắn là nển văn hóa truyền thông.
2 / Ở phạm vi hẹp, tức là các vấn đề về phân tầng mức sống tác động đến
sự biến đổi của văn hóa có thể chia các công trình nghiên cứu đã công b<í
theo 2 nhóm: các công trình tuy không trực tiếp về mức sống và văn hóa
nhưng có nội dung liên quan mà luận án không thể bỏ qua và các công
trình trực tiếp nghiên cứu về phân tầng mức sống và văn hóa
Như vậy là, ở những mức độ khác nhau, các nghiên cứu trên cho ta
những ghi nhận như sau:
2.a. Đã có nhiều hưđng tiếp cận trong nghiên cứu phân tầng xã hội
nói chung và phân tầng mức sống nói riêng. Cho đến nay chủ yếu các công
trình này vẫn là của ngành thôĩig kê học tuy bưđc đầu có sử dụng các
phương pháp tiếp cận vấn đề của xã hội học nhưng chưa thật bài bản.
2.b. Các công trình (trừ các công trình của Viện Xã hội học) phần lđn
vẫn thiên về mô tả tỷ lệ phẫn trăm giàu nghèo mà chưa đi sâu phân tích
điện mạo của các nhóm xã hội theo các chiều cạnh đa dạng của nó. về
tầng mức sông qua khảo sát xã Văn Môn- Yên Phong- Hà Bắc cũ có so
sánh đối chiếu vđi một số làng xã khác ở nông thôn Bắc bộ.
2. Bưđc đầu phân tích, lý giải sự phân tầng mức sông , xác định quá
trình biến đổi về văn hóa cũng như những nguyên nhân kinh tế xã hội, lịch
sử tác động lên sự biến đổi này.
3. Buđc đầu dự báo được các xu hưđng phân hóa xã hội cả về kinh
tế và văn hóa xã hội trong quá trình đổi mđi theo hướng công nghiệp hóa
hiện đại hóa từ sau đổi mới cho đến những năm đầu thế kỷ 2 1 .
4. Đưa ra một số cơ sđ khoa học và các khuyến nghị để xây dựng
một nông thôn mới giàu mạnh, tiến bộ và văn minh.
-10-
V. cơ sở LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA LUẬN ẤN
Nhìn từ quan điểm phát triển, chúng ta có thể thây xã hội nông ihôn
Việt Nam đang từ một xã hội truyền thông đến hiện đại nghĩa là nó đang
trong giai đoạn quá độ cả về kinh tế xã hội lẫn văn hóa. vể mặt văn hóa,
trong cái xã hội quá độ này là sự đan xen các giá trị truycn thông và hiện
đại, d đó sự chuyển đổi hệ thống giá trị và chuẩn mực phải nằm trong
những đặc trứng xã hội cơ bản. Khi phân tích sự phân tầng của xã hội nông
thôn Việt Nam nói chung và nông thôn Bắc bộ nói riêng chúng tôi dựa vào
các lược đồ nghiên cứu của các tác giả sau:
1/ Lược đồ nghiên cứu của các tác giả James A Bill, Robert L.
Hardglave Jr khi các ông nghiên cứu các giá trị truyền thông, hiện đại và
cách mạng của các nhóm xã hội mđi ở Trung Quốc. (17:72,80). Trong lược
đồ đó những đặc trứng mà các ông gọi là tiền hiện đại thực chât là đặc
trứng cổ truyền, và các đặc trưng xã hội hiện đại thực chất là một đặc
trưng mang tính hiện đại hóa chứ không phải là toàn bộ các đặc trưng của
xã hội ngày nay. Tổng kết của các ông không bao chứa hết các đặc trưng
truyền thông bị biên dạng mà cớ cấu xã hội Việt Nam hiện nay vẫn còn
đận nét nhưng lược đồ này cho ta một cái nhìn về sự phát triển: Đến hiện
đại từ truyền thống.
bằng một hệ chỉ báo tương đốì chi tiết Ian. Robertson (5:116) đã có một phân
tích cụ thể hơn trong một lược đổ lý thuyêt như sau:
Các chỉ báo
Xã hội tiền cổng nghiệp
Xã hội công nghiệp hóa
1. Chiến lược
sông
bắn, hái lượm, du mục, làm
vườn, nông nghiệp
Chủ ngĩa công nghiệp, chủ nghĩa
hậu công nghiệp
2.Cơ cấu xã
hội
Tương đốì đơn giản, có một
số vị thế, vai trò. Ngoài
gia đình còn có một số
thiết chế nữa tương đối
Phức hợp: nhiều vị thế, vai trò,
nhiều thiết chế phát triển coa
như giáo dục khoa học.
3.Các vị thế
Hầu hết được gán sẩn
Một sô" được gán sấn, song nhiều
địa vị do cá nhân đạt được
4.Các nhóm
xã hôi
Hầu hết là nhóm sơ cấp
(hữu danh, thân thuộc)
Hầu hết là nhóm thứ cấp (vô
danh, không thân thuộc)
giá trị khác nhau
lO.CÔng
nghệ
Thô sơ, chủ yếu dựa vào
cơ bấp của con người và
súc vât
tiên tiến, chủ yếu dựa trên máy
móc và năng lượng như điện
năng chẳng hạn
11. Biến đổi
xã hội
Chậm chạp
Nhanh chóng
Ngoài những lược đồ ý tưởng trên, chúng tôi còn sử dụng lược đồ của
tác giả Nguyễn Đức Truyến (27:26) về 3 hệ thống giá trị mang tính giả
thuyết tương ứng vđi 3 giai đoạn phát triển của quá trình đổi mđi sang kinh
tế thị trường ở nống thôn miền Bắc. Hệ thông giá trị thứ nhất tương ứng
- 12-
vđi hệ thông giá trị cổ truyền tiền hợp tác hóa. Hệ thống giá trị thứ hai
tương ứng với hệ thông giá trị của thời kỳ hợp tác hóa. Hệ thông giá trị
thứ ba tương ứng vđi hệ thông gia ]trị của các nhóm và cộng đồng đã đạt
tới trình độ nhất định của sản xuất hàng hóa
LƯỌC đổ giả thuyết về hệ thông giá trị
trứớc, trong và sau thời kỳ hỢp tác hóa
Hệ thông giá trị truyền
thốhg tiền hựp tác hóa
Hệ thông giá trị thời
kỳ hựp tác hóa
Hệ thông giá trị của
nhóm sản xuất hàng
-Sản xuất vì lợi nhuận
-Lao động gia đình và
hợp tác tự nguyện giữa
các hộ
-Sở hữu cá thể và tập
thể
-Hiệu quả kinh tế của
nghề nghiệp
-Đề cao KHKT (giá trị
kinh tế)
-Dân chủ thực sự
-Gia đình hạt nhân và
cộng đồng kinh tế xã
hội
-Gia đình gia trưởng
-Đề cao nam giới
-Đề cao năng lực kinh
tế và đạo đức (hài hòa)
Lược đồ này giả định sự chuyển đổi các định hưổng giá trị của các
nhóm nông Bắc bộ căn bản là do tác động của các quá trình biến đổi kinh
tế xã hội từ một nền nông nghiệp cổ truyền trải qua một thời gian dài
trong phong trào HTX đang cố gắng chuyển sang nền sản xuất hàng hóa vđi
sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế. Sự chuyển đổi định hướng
giá trị trong lược đổ trên bao hàm cả sự thay đổi thứ bậc ưu tiên các giá
-13 -
trị lẫn sự chuyển đổi từ các giá trị công cụ sang các giá trị mục đích hay
ngược lại trong mọi hoạt động của các cá nhân hay nhóm.
Tất cả những lược đồ lý thuyết trên có ý nghĩa gợi mở cho việc thiết
kế bô khung vấn đề của luận án giúp chúng tôi tập hợp các dữ kiện và
phân tích các dữ kiện một cách có hệ thống.
- Học vấn;
- Không gian cư trú;
- Nghề nghiệp;
- M ức sống.
2.2. Cấc biến sô' phụ thuộc:
a. Biến số trung gian phụ thuộc là sự tích tụ vật chất của các tầng lổp
khác nhau:
Biến số’ này được đo theo bình quân thu nhập. Nhưng nếu chỉ dừng
lại đ thông tin đơn thuần về thu nhập thì không phản ánh được yêu cầu
khảo sát về phân tầng mức sống mà chúng tôi mong muôn. Vì vậy các chỉ
báo khác giúp vào việc làm nổi rỗ sở hữu, mức sống và lối sống là hết sức
cần thiết. Các chỉ báo đó được tìm xoay quanh các vấn đề: nhà ở, tài sản
và trang thiết bị trong nhà (đặc biệt là các trang thiết bị sinh hoạt văn hóa,
phuơng tiện đi lại)
Các chỉ báo nói trên nhằm cô" gắng tập hợp những thông tin để có
thể làm sáng tỏ không những khả năng kinh tế hiện thời mà cả những tiềm
năng vươn lên trong tướng lai.
b. Biến sô" phụ thuộc:
1/ Sự đầu tư và tiêu dùnịị vãn hóa của các tầng lớp khác nhau.
Biến số này giúp cho việc làm sáng tỏ khả năng tái tạo văn hổa đi
liền vđi tích tụ vật chất và phát triển kinh tế của các nhóm xã hội. Những
chỉ báo giúp vào việc làm sáng tỏ điều này gồm có: mua sắm các phương
tiện nghe nhìn, sự quan tâm đến việc học hành của con cái, tham gia các
sinh hoạt văn hóa xã hội
-15-
2/ Hệ giá trị chuẩn mực
Quan trọng hơn cả là các chỉ báo đư ợc thu nhận qua các câu hỏi trắc
nghiệm nhằm tìm hiểu mô hình văn hóa tiềm ẩn của các đối tượng được
khảo sát (đời sống tâm linh: tín ngưỡng tôn giáo, thờ cúng tổ tiên, thái độ
đối vđi hệ thống thân tộc, quan hệ với hàng xóm láng giềng )
trước tác củ a M á c , người ta vẫn tìm thấy nhữ ng ý tưởng v ề cá c tầ ng lđp
nằm trong khai niệm giai cấp. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở khái niệm giai cấp
thì chưa đủ để đi sâu nhận dạng và phân tích về cơ câu xã hội đang biến
đổi hiện nay, vì vậy chúng tôi còn vận dụng cả những ý tưởng và thuật
ngữ của Max Weber làm công cụ khái niệm trong phạm vi đề tài. Chúng tôi
sử dụng những luận điểm chính của Max Weber trên cơ sở tìm thấy ở
những luận điểm này đã hình thành do cuộc “đối thoại tri thức” vổi Mác.
Cũng theo c .s. Heller thì: “ Hai người khổng lổ của lý thuyết phân tầng là
Các Mác(1818-1883) và Max Weber( 1864-1920)”. Khi dùng khái niệm “phân
tầng xã hội”, chúng tôi vận dụng cách tiếp cận của Max Weber về cách
phân tích cơ may và hoàn cảnh kinh tế của mỗi cá nhân trong thị trường, vị
thế và vai trò của họ, và cùng với hai cái đó là địa vị của họ trong hệ
thống quyền lực (trong khuôn khổ của bộ máy chính quyền nhà nuđc). Trong
lý luận về các thứ bậc xã hội (hierachies sociales) của Max Weber có nói
rằng: “Sự phân tầng xã hội không chỉ đóng khung trong lĩnh vực kinh tế, thu
nhập mà cả trong lĩnh vực chính trị (quyền lực) và trong các lĩnh vực xã hội
sự phân tầng xã hội diễn ra theo nhiều chiều” (24:75). Luận điểm trên của
Weber cho phép gợi ra hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của phân tầng mức
sống tđi đời sống văn hóa trong điều kiện đổi mới.
-18-
Ngoài ra nhũng ý tưởng của Auguste Comte, của Alexis đe Toqueville,
của Emile Durkheimv.v đều có những luận điểm cần được tham khảo về sự
phân tầng xã h ội khi nói đ ến những tác giả đư ợc x ế p vào lo ạ i cổ điển của
lịch sử xã hội học.
Còn rất nhiều những nhà xã hội học cổ tên tuổi của đương đại đã
đưa ra nhiều quan điểm, nhiều ý tưởng rất đáng nghiên cứu nổi lên từ
những năm 40, 50 của hế kỷ XX vđi tên gọi chung là thuyết '‘phân tầng xã
hội”. Một trong số họ có ảnh hưởng lđn đến xã hội học đương đại là nhà
thực chứng luận Talcoot Parson (1902-1979). Qua các tác phẩm lớn của
Talcoot Parson, có thể tìm thấy nhiều ý tưởng sắc sảo về lý thuyết phân
thù của xã hội Việt Nam, lịch sử Việt Nam mà khi nghiên cứu về sự phân
tầng xã hội ở Việt Nam, không thể không chú ý đến nét đặc thù này.
2/ Khi sử dụng thuật ngữ “tính năng động xã hội” chúng tôi vừa
muốn nói đến tính cơ động xã hội( social mobility) vốn được dùng trong các
sách báo xã hội, trong đó nói lên cái cốt lõi là “ sự di chuyển từ địa vị
này sang địa vị khác có thể được hoàn thành bằng các phương tiện nằm
trong quyền kiểm soát của cá nhân” (4,9) . Cùng vđi điểu đó chúng tôi còn
muôn đề cập đến sự năng nổ trong hoạt động của cá nhân nhằm phát huy
hết tiềm năng của mình mà không nhất thiết phải di chuyển địa vị, sự năng
nổ cá nhân tạo nên nhịp sống sôi động của toàn xã hội. Như vậy, ngoài sự
di động ngang và dọc tạo nên tính cơ động xã hội, cần thấy rõ tiềm năng
của từng cá nhân, từng nhóm xã hội và của cá cộng đồng được đánh thức
dậy, được phát huy trong một cơ chế cởi mở được dẫn dắt bởi ý thức dân
có giàu lên thì nước mới mạnh được. Mỗi cá nhân trong xã hội đều muôn
có một cuộc sông tốt hơn cho bản thân mình và gia đình mình, và nói
chung thì đều muôn cố thu nhập (nói cách khác là lợi nhuận) ngày càng
cao. Song muốn là một chuyện, thực hiện được hay không là còn tuỳ thuộc
vào nhiều nhân tố của bản thân và xã hội. Mặt tích cực lđn của kinh tế thị
trường là nó đặt con người vào trong những điều kiện để có thể bộc lộ hết
trong cuộc đua tranh để cố gắng kiếm được lợi nhuận cao nhất. “Cơ may và
vận hội” nói theo thuật ngữ của Max Weber, nhằm chỉ những lợi thế và thu
nhập do khả năng- tiếp cận thị trường đem lại, làm cho những ai có bản
lĩnh và tài năng bắt kịp những đòi hỏi của thị trường để vươn lên đáp ứng
kịp thời và do đó có thể xác lập được vị thế xã hội tương thích với nó.
3/ Khi sử dụng khái niệm “tái tạo văn hóa”, chúng tôi chịu ảnh hưởng
của Max Weber khi ông nhấn mạnh yếu tố văn hóa như một yếu tô' tạo
nên sự thay đổi bề sâu của một xã hội. Khái niệm tái tạo về văn hóa bao
hàm nội dung vể trình độ học vân, khả năng tiếp thu thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại, hình thành được lối sống thể hiện được mô hình văn
hóa ấy.
Theo các thống kê. kinh tế xã hội tỷ trọng dân số nông nghiệp không giảm
mà lại tăng lên trong mấy năm đổi mđi vừa qua: 68,6%(1990), 68,9%(1991),
69,2%(1992), 69,55(1993). tỷ trọng lao động nông nghiệp cũng có xu thế tăng
liên tiếp: 70,3%(1990), 73,9%(1991), 72,2%( 19920. Sô hộ gia đình nông nghiệp
cũng tăng liên tục: 9.375.000 (1990), 10.061.900 (1992).
5/ Có một sự đa dạng của những định nghĩa khác nhau về mức sông
được các quan chức Việt Nam và các tổ chức quốc tế sử dụng khi nghiên
cứu về tình trạng nghèo của Việt Nam (11:26):
- Lấy lương thực làm cơ sỏ (chẳng hạn lượng lương thực mà gia đình
hoặc những ngưới thiếu lương thực (gạo) tiêu thụ trong X tháng mỗi năm), ví
dụ các tài liệu của bộ Nông nghiệp, Uy ban Dân tộc và Miền núi.
- Lây tài sản làm cơ sở (nhà ở, gia súc gia cầm, thóc gạo ), ví dụ
các tài liệu của Hội liên hiệp phụ nữ.
- 21 -
- Lấy thu nhập làm cơ sở (dưđi X.000 V N D mỗi năm hoặc mỗi
tháng), ví dụ các tài liệu của Tổng cục thống kê.
- Lấy những chỉ dẫn cụ thể làm cơ sở (số’ đi học, tỷ lệ bỏ học, tình
trạng dinh dưỡng), ví dụ tài liệu của UNICEF và Bộ Giáo dục.
- Lấy tài sản kết hợp với thu nhập làm cơ sở (các chỉ dẫn về đánh
giá + các chỉ dẫn về phân tích), ví dụ các tài liệu của Tổng cục thông kê
Những định nghĩa trên bao quát một loạt tiêu chí về chất và lượng
được chúng tôi tham khảo để xây dựng nên cách phân loại mức sông trong
đề tài của mình.
2. Quy trình và phương pháp
2.1. Quy trình nghiên cứu:
Vổi giả thuyết nghiên cứu như trên chúng tôi xác định công trình
nghiên cứu của mình được tiến hành theo 4 giai đoạn:
a. Giai đoạn 1:
Tìm đọc và tham khảo tất cả các tư liệu xã hội học có đề cập đến
vấn đề phân tầng xã hội, vấn đề văn hóa xã hội, vấn đề phát triển nông
từng được khảo sát
- Thứ hai là khảo sát lại tại các điểm đã chọn mẫu nghiên cứu dưới
các hình thức phỏng vấn sâu.
2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
1. Phương pháp chọn mẫu:
Những ý tưởng muốn tiến hành một cuộc nghiên cứu thực nghiệm xã
hội học về mối liên hệ giữa sự phân tầng về mức sông vđi sự hình thành
và thay đổi lối sống cùng với các hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội
mđi đã dưa chúng tôi tới sự lựa chọn xã Văn Môn như là một địa bàn Ưu
tiên cho ý tưởng nghiên cứu này. Tại sao chúng tôi lại chọn Văn Môn là
điểm khảo sát chính?: Xã Văn Môn thuộc huyện Yên Phong gồm có 5
thôn: Quan Đình, Quan Độ, Phù Xá, Mẩn Xá và Tiền Thồn, đồng thời là 5
HTX nông nghiệp, Ở Văn Môn, chúng ta có thể bắt gặp hầu như đầy đủ
các mô hình kinh tế lớn của nông thôn miền Bắc nói chung. Các thôn như
thôn Tiền, Phú Xá vẫn dựa vào nông nghiệp là chính, có kết hợp thêm với
nghề phụ. M ẫ n Xá phát triển nhờ nghề đúc nhôm. Còn Quan Đình, Quan Độ
vừa làm nông vừa chuyển mạnh sang buôn bán. Có thể nói Văn Môn là bức
tranh thu nhỏ của đồng bằng Bắc bổ đầu những năm 90 theo những định
hướng phát triển kinh tế khác nhau.
- 23 -