VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI CỦA NGƯ DÂN VEN BIỂN KHÁNHHÒA- TRƯỜNG HỢP ĐẢO BÍCH ĐẦM - Pdf 95

VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI CỦA NGƯ DÂN VEN BIỂN KHÁNH
HÒA- TRƯỜNG HỢP ĐẢO BÍCH ĐẦM
Võ Văn Diễn
Bộ môn Kinh tế thủy sản - Khoa Kinh tế
Đặt vấn đề
Việt Nam điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản với bờ biển dài hơn
3.260 km trải dài qua 28 tỉnh thành và khu đặc quyền kinh tế rộng hơn một triệu km
2
. Với
những lợi thế như vậy, ngành thủy sản đã thể hiện là một trong những lĩnh vực chủ yếu của
nền kinh tế Việt Nam với 4% GDP năm 2006 (Pomeroy, et al, 2009). Vai trò quan trọng
của ngành thủy sản còn được thể hiện ở những khía cạnh khác như chiếm khoảng 10% giá
trị xuất khẩu, tạo ra khoảng 4 triệu việc làm (Long et al, 2008) và góp phần cung cấp thực
phẩm cho dân cư địa phương (FICen, 2006). Tuy nhiên, hầu hết nghề cá Việt Nam được
coi là nghề cá qui mô nhỏ với 88% tổng sản lượng cá thu hoạch và thu hút tới 82% lao
động (Long, et al, 2008), hoạt động ở khu vực gần bờ và sử dụng ngư cụ đánh bắt khá đơn
giản (Long, N. 2003).
Cuộc sống của cộng đồng ngư dân ở Việt Nam còn khó khăn và họ được coi là
những người nghèo nhất trong những người nghèo. Mặc dù vậy, cho đến nay có rất ít
nghiên cứu chuyên sâu về sự nghèo khổ của ngư dân (Béné, 2003). Những câu hỏi thường
trực là mức độ nghèo khổ của ngư dân như thế nào, những nhân tố cơ bản nào tác động
đến sự nghèo khổ của ngư dân và liệu cộng đồng ngư dân ở những khu vực địa lý bị cách
biệt như hải đảo có những điểm đặc trưng nào. Nghiên cứu mối quan hệ giữa nghèo và
nghề cá qui mô nhỏ đang được các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức
nông lương thế giới (FAO), Liên hiệp quốc (UN) quan tâm hỗ trợ, đặc biệt cho những
nước nghèo với nghề cá chưa phát triển.
Nghề cá ở Đảo Bích Đầm, Nha Trang chủ yếu là ở qui mô nhỏ và cuộc sống của
cộng đồng ngư dân ở đây phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hoạt động đánh bắt hàng ngày
trong khu vực gần bờ. Nghiên cứu sự nghèo khổ của ngư dân Bích Đầm có thể coi như là
một trường hợp điển hình mô tả sự nghèo khổ của ngư dân trong nghề cá qui mô nhỏ ở
Khánh Hòa nói riêng và Việt Nam nói chung. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các

hoặc chi tiêu.
- Sự thiếu thốn mức thụ hưởng về giáo dục và y tế.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá
nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hoặc về sức khỏe.
- Tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo.
Nguyên nhân của sự nghèo khổ
Các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2005) đã tóm lượt các nguyên nhân dẫn tới
sự nghèo khổ thành bốn nhóm: nhóm nhân tố liên quan đến những đặc điểm về khu vực;
nhóm nhân tố liên quan đến cộng đồng; nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình và nhóm
nhân tố liên về đặc điểm của cá nhân.
- Ở mức độ khu vực, những vùng cách biệt về địa lý, ít nguồn tài nguyên và điều
kiện khí hậu khắc nghiệt thường có mức độ nghèo cao hơn. Những đặc điểm quan trọng
khác về quốc gia và cùng cũng ảnh hưởng đến nghèo như sự quản lý, các chính sách về
kinh tế, chính trị, sự ổn định của thị trường (WB, 2005).
- Ở mức độ cộng đồng, sự nghèo khổ có thể do cơ sở hạ tầng như tình hình cung
cấp nước sạch, khả năng tiếp cận với đường nhựa, sự phân chia đất đai trong vùng, khả
năng tiếp cận những dịch vụ công như trường học, chăm sóc sức khỏe (WB, 2005).
- Ở mức độ hộ gia đình, nghèo có thể bị tác động bởi nhiều nhân tố như trình độ
học vấn, cấu trúc tuổi của những thành viên trong gia đình, giới tính của chủ hộ, qui mô hộ
gia đình, tỷ lệ người phụ thuộc, tài sản của hộ gia đình, việc làm và kết cấu thu nhập của
hộ gia đình, sức khỏe và trình độ học vấn của những thành viên trong gia đình.
- Ở mức độ cá nhân, nghèo có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: tuổi của chủ hộ,
trình độ học vấn, tình trạng việc làm, tình trạng sức khỏe.
Phương pháp nghiên cứu
Để đo lường mức độ nghèo cần phải xác định ba yếu tố: (1) lựa chọn chỉ số phúc
lợi; (2) lựa chọn ngưỡng nghèo và (3) lựa chọn thước đo mức độ nghèo.
(1) Lựa chọn chỉ số phúc lợi
Những khía cạnh cở bản của nghèo có thể được chia làm hai khía cạnh tiền tệ và phi
tiền tệ. Khía cạnh tiền tệ được phản ánh chủ yếu qua mức chi tiêu bình quân đầu người, vì
chỉ số này tổng hợp được nhiều yếu tố có thể làm cải thiện chất lượng cuộc sống, như chi






=






=
q
i
i
q
i
i
z
yz
n
zyPor
z
g
n
zyP
11
1
),(




=

=
1
0
0
1
. Khi đó, P
0
là chỉ
số cho biết tỷ lệ những người ở dưới ngưỡng nghèo (tỷ lệ nghèo).
Giá trị của α = 1, đẳng thức (1) trở thành

=







=
q
i
i
z
yz

yz
n
P
. Khi đó, P
2
là chỉ số đo
mức độ trầm trọng của nghèo. Những người có khoảng nghèo lớn hơn sẽ có trọng số lớn
hơn, nghĩa là mức độ nghèo của họ trầm trọng hơn.
Đo lường các nhân tố tác động tới nghèo
Để lượng hóa tác động của những nhân tố, mô hình semi-logarit nên được sử dụng
trong trong phân tích nghèo (WB, 2005). Mô hình kinh tế lượng tổng quát có thể được xây
dựng như sau:
ii
XCPCLn
ββ
+=
0
)(
Trong đó: CPC: chi tiêu bình quân đầu người trong hộ gia đình
0
β
,
i
β
: các hệ số ước lượng
X
i
: những biến độc lập – biến giải thích nguyên nhân nghèo
Kết quả nghiên cứu của WB (2005) đã chỉ ra nhiều nhân tố tác động đến nghèo, và
những nhân tố này có thể được chia làm hai mức vi mô và vĩ mô. Những đặc điểm về vùng

EMPL + e (1)
Trong đó:
CPC – Chi tiêu bình quân đầu người: được xác định bằng cách chia tổng chi tiêu
của hộ gia đình cho số lượng thành viên trong gia đình đó. Ln(CPC) là biến phụ thuộc, mô
tả sự biến động của chi tiêu bình quân đầu người trong hộ gia đình. Biến phụ thuộc trong
mô hình nghiên cứu này có thể bị tác động bởi một số yếu tố quan trọng – biến độc lập.
FSIZE – Qui mô hộ gia đình: được xác đỉnh là số người sống trong cùng một hộ
gia đình. Nghiên cứu của WB (2005) cho thấy rằng những hộ gia đình có qui mô lớn
thường là những hộ nghèo. Giả thiết đưa ra trong nghiên cứu này là qui mô hộ gia đình và
tình trạng nghèo có mối tác động cùng chiều, nghĩa là những hộ gia đình ngư dân có qui
mô càng lớn thì thu nhập/chi tiêu bình quân đầu người càng thấp.
DEPEN – Số người sống phụ thuộc: được xác định bằng cách tính số lượng
người không có thu nhập và sống phụ thuộc vào gia đình. Kỳ vọng rằng tỷ lệ người phụ
thuộc cao sẽ làm giảm mức chi tiêu bình quân đầu người trong hộ gia đình, có nghĩa là
mức độ nghèo tăng lên.
CHILD – Số lượng trẻ em trong hộ gia đình: được xác định là những thành viên
dưới 15 tuổi trong gia đình. Trong độ tuổi này, trẻ em thường là đến trường hoặc là những
người không có việc làm. Một gia đình có nhiều trẻ em được giả thiết là không thể tiết
kiệm được tiền vì phải chi trả nhiều khoản để nuôi chúng. Số lượng trẻ em trong hộ gia
đình càng nhiều được giả thiết là làm tăng mức độ nghèo hay làm giảm chi tiêu bình quân.
BOAT – Số tàu khai thác sở hữu: là biến giả (dummy variable), sẽ nhận gía trị là
1 nếu hộ gia đình có sở hữu tàu khai thác hải sản và ngược lại sẽ nhận giá trị là 0. Biến này
dùng để đo lường tài sản của hộ gia đình, bởi vì đối với ngư dân trên đảo Bích Đầm, tàu
khai thác có thể là tài sản vật chất quí giá nhất trong gia đình. Bên cạnh đó, nếu có tàu khai
thác hải sản, thu nhập của họ có thể sẽ cao hơn những gia đình không có tàu. Giả thiết rằng
một hộ gia đình có tàu thì chi tiêu bình quân đầu người sẽ tăng và mức độ nghèo sẽ thấp
hơn.
AQUA – Số lồng nuôi hải sản: cũng là một biến giả, nhận giá trị là 1 nếu hộ gia
đình sở hữu trại nuôi trồng hải sản hoặc nhận giá trị 0 nếu hộ gia đình không có bất cứ
lồng nuôi nào. Lồng nuôi hải sản cũng là một tài sản của các hộ gia đình ở khu vực Đảo

làm và thu nhập ổn định, ngược lại sẽ nhận giá trị là 0. Một chủ hộ có việc làm và thu nhập
ổn định được kỳ vọng là làm tăng mức chi tiêu bình quân đầu người cũng như sẽ làm giảm
tình trạng nghèo khổ.
Dữ liệu phân tích
Dữ liệu sơ cấp sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập qua một cuộc khảo sát
kinh tế xã hội ở Đảo Bích Đầm vào tháng 2 năm 2009. Dữ liệu thu thập chủ yếu về đặc
điểm hộ gia đình cũng như chỉ số kinh tế chủ yếu như thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình
ngư dân trong năm 2008. Những thông tin quan trọng khác cũng được thu thập như điều
kiện tín dụng, nghề nghiệp chính, những khó khăn cũng như những mong muốn của các
gia đình ngư dân. Qui mô mẫu điều tra là 60 hộ gia đình được chọn một cách thuận tiện
trong tổng thể là 182 hộ. Phương pháp thu thập dữ liệu là phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc
vợ của chủ hộ bằng bảng câu hỏi. Sau khi thu thập, dữ liệu được làm sạch và phân tích
bằng Excel 2003 và phần mềm SPSS phiên bản 16.0.
Kết quả nghiên cứu
Những chỉ số nghèo
Để xác định các chỉ số đo lường mức độ nghèo khổ phải xác định chuẩn nghèo phù
hợp. Chuẩn nghèo được chọn trong nghiên cứu này theo chuẩn nghèo của Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2010. Theo đó, hộ gia đình được xếp là hộ nghèo khi thu nhập bình quân đầu
người nhỏ hơn 200,000 đồng/tháng ở khu vực nông thôn và 260.000 đồng/tháng ở khu vực
thành thị. Trong năm 2008, chuẩn nghèo được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Chỉ số giá tiêu dùng này qua các năm như sau: 6,5% (2006) 12,63% (2007) and 27,5%
(2008)
1
. Bích Đầm vùng đảo và được xem là khu vực nông thôn, vì vậy chuẩn nghèo được
chọn là Z
1
= 200.000 đồng và chuẩn nghèo điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng Z
2
=
200,000*(1+6,5%)*(1+12,63%)*(1+27,5%) ≈ 300.000 đồng/người/tháng.

2
(100%) 0.33% 1.34%
Chỉ số tỷ lệ nghèo cũng cho thấy rằng tỷ lệ người nghèo ở Đảo Bích Đầm cao hơn
mức bình quân chung của tỉnh Khánh Hòa. Cụ thể, theo báo cáo kinh tế xã hội tỉnh Khánh
Hòa năm 2008, có khoảng 8,12% dân cư sống dưới mức nghèo.
Chỉ tiêu về khoảng cách nghèo cho thấy rằng những người nghèo ở Đảo Bích Đầm
thiếu hụt khoảng 0,82% khi ngưỡng nghèo được chọn là Z
1
= 200.000 đồng và 3,58% khi
Z
2
= 300.000 đòng để thoát khỏi cảnh nghèo.
Đo lường những nhân tố tác động đến nghèo
Các nhân tố tác động đến nghèo được phân tích trong mô hình kinh tế lượng dạng
semi-logarit (1) với các biến độc lập được mô tả như sau:
Bảng 2 Thống kê mô tả các biến độc lập
N Minimum Maximum Mean Std. Deviation
FSIZE 60 2 8 5.10 1.349
DEPEN 60 0 6 2.92 1.441
CHILD con cái 60 0 4 1.20 1.190
AGE tuổi 60 33 70 47.43 9.153
EDUC giáo dục 60 1 4 2.30 .671
BOAT 60 0 1 .52 .504
AQUA 60 0 1 .37 .486
EMPL 60 0 1 .68 .469
CREDIT 60 0 1 .32 .469
Valid N (listwise) 60
Kết quả phân tích hồi qui để ước lượng múc tác động của các yếu tố cho thấy rằng
một vài biến độc lập không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, cụ thể là biến AQUA,
CREDIT, AGE, EDUC và EMPL với giá trị p-value lần lượt là 0,507; 0,521; 0,987; 0,640

Sau khi kiểm định mô hình và loại bỏ một số biến không có ý nghĩa thông kế, kết
quả phân tích hồi qui cuối cùng như sau (bảng 4):
Bảng 4 Mô hình hồi qui
Model Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig.
B Std. Error Beta
1 (Constant) 7.158 .228 31.331 .000
FSIZE 262 .054 698 -4.880 .000
DEPEN .140 .059 .399 2.367 .021
CHILD 158 .058 372 -2.727 .009
BOAT .187 .108 .186 1.726 .090
Dependent Variable: LnCPC
R Square = 0.371, Adjusted R Square = 0.326
LnCPC = 7.158 – 0.262FSIZE + 0.140DEPEN – 0.158CHILD + 0.187BOAT
Kết quả phân tích hồi qui cho thấy rằng có khoảng 33% ( R
2
điều chỉnh = 0.326 and
R
2
= 0.371) sự biến động của Ln(CPC) trong các gia đình ngư dân ở Đảo Bích Đầm được
giải thích bằng mô hình hồi qui trên, trong đó một số yếu tố tác động quan trọng là FSIZE,
CHILD, DEPEN và BOAT.
Dấu của các hệ số ước lượng cũng như sự kỳ vọng ban đầu, chỉ có riêng biến
DEPEN là khác. Tất cả các biến giải thích trong mô hình kinh tế lượng đều có ý nghĩa
thông kê. Cụ thể, biến FSIZE và CHILD có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, biến DEPEN và
BOAT có ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức 5% và 10%.
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Giá trị của R
2
= 0,371 và R
2

nhân của sự nghèo khổ trong nghề cá là do ngư dân có ít cơ hội tìm kiếm thu nhập (Béné,
2003). Cộng đồng ngư dân trong nghề cá qui mô nhỏ thường ở những khu vực biệt lập với
rất ít cơ hội kiếm việc làm thay thế khác. Nói cách khác, thu nhập thay thế bên ngoài nghề
cá là rất thấp. Chính vì vậy mà nghề cá qui mô nhỏ tạo ra ít thu nhập cho ngư dân, dù cho
họ có cố gắng làm gì đi nữa, ngư dân vẫn là những người nghèo (Béné, 2003).
Ở khía cạnh thứ hai, nghề cá khai thác tự do tạo cơ hội cho những người nghèo nhất
tìm kiếm được kế sinh sống bằng các hoạt động khai thác. Nghề cá qui mô nhỏ được ví
như là phương kế cuối cùng cho những người nghèo, nó cho phép người người nghèo gia
nhập vào nghề cá mà không cần bất cứ kỹ năng hay tài sản nào (Béné, 2003).
Kết luận
Nghiên cứu đã khẳng định rằng cộng đồng ngư dân trong nghề cá qui mô nhỏ, nhất
là những người ở vùng đảo, cách biệt về địa lý sống trong điều kiện nghèo nàn hơn mức
trung bình của địa phương. Nguồn thu nhập của họ rất hạn chế, chủ yếu là từ hoạt động
khai thác hàng ngày với những nghề cá thủ công và không có nguồn thu nhập thay thế.
Qui mô hộ gia đình, số lượng trẻ em và tỷ lệ người phụ thuộc có tác động đáng kể
đến mức chi tiêu bình quân đầu người. Bên cạnh đó, những gia đình sở hữu tàu khai thác
có mức chi tiêu bình quân cao hơn những gia đình khác.
Những đặc điểm cá nhân của chủ hộ gia đình như tuổi, trình độ học vấn không ảnh
hưởng đáng kể đến mức chi tiêu. Nói cách khác, hiệu quả của nghề cá qui mô nhỏ có thể
không bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm đi biển hay trình độ học vấn của ngư dân.
Giải pháp giảm nghèo hay nâng cao chất lượng cuộc sống của ngư dân nên là tạo
việc làm thêm để đa dạng hóa nguồn thu nhập hơn là hỗ trợ cho họ mua thuyền.
Hạn chế của đề tài
Phương pháp đo lường mức độ nghèo khổ được tiếp cận theo hướng tiền tệ, do đó
chưa thể hiện được toàn cảnh bức tranh về sự nghèo khổ của cộng đồng ngư dân.
Nghiên cứu này chủ yếu tập trung phân tích những yếu tố vi mô tác động đến nghèo
của hộ gia đình ngư dân, trong khi những yếu tố vĩ mô chưa được đề cập. Bên cạnh đó, tất
cả các thành viên trong hộ gia đình đều được giả định là có mức tiêu dùng như nhau, nghĩa
là tính kinh tế trong tiêu dùng hay sự khác nhau về mức chi tiêu giữa người lớn, trẻ em và
người già không được xem xét.

12. Sen, A. (1976). Poverty: An ordinal approach to measurement. Econometrica,
44(2), 219-231.
13. Thu, V.T. Ho. (2005). Socio-Economic impact assessment of the Hon Mun MPA
project on local communities within the MPA. Hon Mun Marine Protected Area Pilot
Project.
14. Wagle, U (2002). Rethinking poverty: definition and measurement. Open Forum.
International Social Science Journal. Vol 54, Issue 171, Pages 155-165.
15. World Bank (2005), Poverty manual.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status