Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài Chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ĐẶNG VIỆT CƯỜNG
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài Chính
MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1............................................................................................................................5
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH
DOANH..................................................................................................................................5
1.1. Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong
doanh nghiệp..........................................................................................................................5
1.1.1. Bán hàng và kết quả bán hàng......................................................................................5
Phụ lục 1.1
Phụ lục 1.2
Phụ lục 1.3
Phụ lục 1.4
Phụ lục 1.5
Phụ lục 1.6
Phụ lục 1.7
Phụ lục 1.8
Phụ lục 1.9
Phụ lục 1.10
Phụ lục 1.11
Phụ lục 1.12
Phụ lục 2.1
Phụ lục 2.2
Phụ lục 2.3
Phụ lục 2.4
Sơ đồ hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Sơ đồ kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Sơ đồ kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Sơ đồ kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí bán hàng
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí quản lý doanh nghiệp
Sơ đồ kế toán chi phí hoạt động tài chính
Sơ đồ kế toán doanh thu hoạt động tài chính
Sơ đồ kế toán chi phí khác
Sơ đồ kế toán thu nhập khác
Sơ đồ kế toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
Sơ đồ kế toán xác định kết quả kinh doanh được
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
15
16
17
18
Từ viết tắt
BHXH
BHYT
KPCĐ
CCDC
CPSX
TK
CPSXC
TSCĐ
NVL
GTGT
KKTX
KKĐK
ĐVT
K/c
NKC
FSC
CBCNV
HĐKD
Đặng Việt Cường
Diễn giải
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ đúng số lượng và chất lượng mà còn phải
tiêu thụ được những sản phẩm dịch vụ đó một cách nhanh nhất để thu hồi vốn
sớm, tạo vòng quay của vốn nhanh nhất nhằm thúc đẩy sự phát triển của bản
thân doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Cùng với sự phát triển này , nền kinh
tế nước ta đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế
quản lý kinh tế có sự đổi mới sâu sắc đã tác động rất lớn đến các doanh
nghiệp. Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và quyết
liệt hơn. Thêm vào đó lại chịu sự điều tiết của nhiều quy luật kinh tế như quy
luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Hơn thế nữa nhu cầu tiêu
dùng trên thị trường thường xuyên biến đổi. Để tồn tại, phát triển mạnh mẽ
trong cơ chế thị trường hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn tạo ra lợi
nhuận cao nhất. Chính vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng luôn luôn
phải quan tâm, xác định sản xuất cái gì (thành phẩm nào?) và sản xuất cho ai
(tiêu thụ như thế nào?), từ đó mới đi xác định kết quả các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Trong xu thế toàn cầu hoá, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc
tế (WTO) không chỉ đem lại cho các doanh nghiệp trong nước cơ hội phát
triển mà còn là đối mặt với sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thế giới.
Cần phải có một kim chỉ nam, một phương châm để các doanh nghiệp trong
nước theo đó mà thực hiện. Muốn vậy đòi hỏi phải có những chương trình kế
hoạch thật sự xuất phát từ thực tế, từ lý luận soi vào thực tế, các doanh nghiệp
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
2
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
3
Học viện Tài Chính
- Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh tại công ty Cổ phần điện tử tin học FSC, trên cơ sở đó đánh giá
thực trạng tình hình kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công
ty.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung kế toán bán hàng và
xác định kết quả kinh doanh tại công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán bán hàng
và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần điện tử tin học FSC.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu từ
lý luận đến thực tiễn, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận. Nghiên cứu các vấn đề
trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
- Phương pháp cụ thể là các phương pháp diễn giải, trình bày, điều tra,
phân tích, đánh giá, qui nạp, so sánh, xử lý dữ liệu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Làm sang tỏ cơ sở lý luận kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp thương mại.
- Tìm hiểu và đánh giá thực trang công tác kế toán bán hàng và xác định
kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần điện tử tin học FSC.
5
Học viện Tài Chính
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ KINH DOANH
1.1. Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh trong doanh nghiệp
1.1.1. Bán hàng và kết quả bán hàng
Khái niệm về bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh trong
các doanh nghiệp. Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa người
mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền.
Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh
nghiệp được chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).
Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp
thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây:
- Có sự trao đổi thỏa thuận giữa người mua và người bán, người bán
đồng ý bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hóa: người bán mất quyền sở
hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hóa đã mua bán. Trong quá trình
tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng
hàng hóa và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng.
Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của
mình.
Khái niệm về xác định kết quả bán hàng
Xác định kết quả bán hàng là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã
bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi
phí thì kết quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tạo ra các loại sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu của thị trường thông qua quá trình bán hàng với mục tiêu là lợi
nhuận.
Bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hóa vốn
kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ và hình
thành kết quả tiêu thụ. Đây là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh
doanh tại đơn vị.
Quá trình bán hàng trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
7
Học viện Tài Chính
- Có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán về số lượng, chất
lượng, quy cách bán hàng.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa từ người bán
sang người mua.
- Người bán giao cho người mua một lượng hàng hóa và nhận được tiền
hoặc được chấp nhận thanh toán. Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán
hàng - được dùng để bù đắp chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh và hình
thành nên kết quả bán hàng trong doanh nghiệp.
Công tác bán hàng là cơ sở để có kết quả kinh doanh. Giữa bán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh có mối quan hệ hết sức mật thiết và tác
- Tìm hiểu, khai thác và mở rộng thị trường, áp dụng các phương thức
bán hàng phù hợp và có các chính sách sau bán hàng “hậu mãi” nhằm không
ngừng tăng doanh thu, giảm chi phí của các hoạt động.
- Quản lý chặt chẽ các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
và các chi phí hoạt động khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Từ những yêu cầu chung của quá trình quản lý kinh tế, khi tổ chức
công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh được khoa học, hợp
lý sẽ cung cấp những thông tin có ích, kịp thời cho nhà quản lý trong công
việc ra quyết định sản xuất và tiêu thụ phù hợp, có hiểu quả.
1.1.4. Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong
các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp công tác kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh có vai trò thực sự quan trọng, nó cung cấp các thông tin kinh
tế về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh. Từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm trong công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp, từng bước hạn chế sự thất thoát về hàng hóa, biết được chi phí
cụ thể cho từng mặt hàng, doanh thu cụ thể của từng mặt hàng trong kinh
doanh.
Số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cung cấp
giúp doanh nghiệp nắm bắt được kết quả kinh doanh của mình từ đó tìm ra
những thiếu sót mất cân đối trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
từ hoạt động mua bán hàng hóa đến đầu tư và có những biện pháp khắc phục
kịp thời.
Từ số liệu kế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh
cung cấp, nhà nước nắm được tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của
Đặng Việt Cường
CH04-2014
phải nắm vững nội dung công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh trong doang nghiệp.
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
10
Học viện Tài Chính
1.2. Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh
nghiệp dưới góc độ kế toán tài chính
1.2.1. Kế toán bán hàng
1.2.1.1. Đối tượng và các phương thức bán hàng
Đối tượng
Đối tượng của quá trình bán hàng là các sản phẩm, hàng hóa do doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc mua về để bán.
Các phương thức bán hàng
Sản phẩm của doanh nghiệp được coi là đã tiêu thụ khi doanh nghiệp
thực hiện giao dịch bán hàng cho khách hàng. Có thể biểu diễn giao dịch bán
hàng qua sơ đồ sau:
Chuyển giao hàng
( quyền sở hữu, sử dụng)
Doanh nghiệp
---------------------------------------->
Để đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ sản phẩm các doanh nghiệp có thể sử
dụng các phương thức bán hàng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, mặt
hàng tiêu thụ của mình. Công tác tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp có thể
được tiến hành theo những phương thức sau:
* Phương thức bán buôn:
Bán buôn là việc bán sản phẩm của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp
khác, các cửa hàng, đại lý…với số lượng lớn để các đơn vị tiếp tục bán cho các
tổ chức khác hay phục vụ cho việc khác nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh tế.
Có 2 phương thức bán buôn:
+ Bán buôn qua kho: Theo phương thức này sản phẩm được sản xuất tại
kho của doanh nghiệp để chuyển bán cho khách hàng, gồm 2 trường hợp cụ thể:
o Bán buôn trực tiếp tại kho: Căn cứ vào hợp đồng Kinh tế đã ký kết,
doanh nghiệp xuất thành phẩm từ kho giao trực tiếp cho khách hàng tại kho của
doanh nghiệp. Khách hàng tự chịu trách nhiệm vận chuyển hàng. Chứng từ sử
dụng trong phương thức này là hoá đơn GTGT, thời điểm xác nhận doanh thu là
khi người mua đã nhận đủ hàng và ký xác nhận lên chứng từ bán hàng.Việc
thanh toán tiền hàng dựa trên điều khoản thanh toán trong hợp đồng đã ký.
o Bán buôn theo phương thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp đồng Kinh tế
đã ký kết, doanh nghiệp vận chuyển sản phẩm đến kho khách hàng bằng phương
tiện tự có hoặc thuê ngoài. Thời điểm xác định doanh thu là khi khách hàng nhận
được hàng và thanh toán hay chấp nhận thanh toán. Chứng từ bán hàng là hoá
đơn GTGT
+ Bán buôn không qua kho: Theo phương thức này doanh nghiệp sẽ bán
sản phẩm cho khách hàng ngay tại nơi sản xuất, sản phẩm sản xuất ra không làm
Đặng Việt Cường
CH04-2014
giao được coi là tiêu thụ, doanh thu bán hàng được tính theo giá bán tại thời
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
13
Học viện Tài Chính
điểm thu tiền một lần, khách hàng chỉ thanh toán một phần tiền mua hàng để
nhận hàng và phần còn lại sẽ trả dần trong một thời gian và chịu khoản lãi theo
quy định trong hợp đồng. Khoản lãi do bán trả góp được hạch toán vào doanh
thu hoạt động tài chính.
+ Các phương thức bán hàng khác:
Ngoài các phương thức tiêu thụ chủ yếu trên, doanh nghiệp còn có thể sử
dụng phương thức đổi hàng, sử dụng sản phẩm của mình sản xuất ra để phục vụ
cho hợp đồng sản xuất kinh doanh, hội chợ triển lãm, biếu tặng hoặc sử dụng sản
phẩm để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên chức…
1.2.1.2. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Khái niệm doanh thu:
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cung cấp cho các nhà quản trị bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp những căn cứ đánh giá một khái quát kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định để từ
đó ra các quyết định kinh tế đúng đắn.
Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Cách xác định doanh thu:
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc
sẽ thu được.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa
doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng
giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các
khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay
(doanh thu bán hàng trả chậm, trả góp) thì doanh thu được xác định bằng cách
quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị
thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị
thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ
thu được trong tương lai
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
15
Học viện Tài Chính
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra
doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của
TK 111,112,131
Các khoản
giảm trừ
doanh thu
TK 511
Kết chuyển
các khoản
giảm
trừdoanh thu
TK 111,112,331
Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịchvụ
TK 3331
TK 3331
Doanh thu bán hàng trả châm,
trảgóp
TK 515
TK 3387
Kết chuyển
doanh thu trả
niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua
hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn được hưởng
theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua
bán hoặc cam kết mua bán hàng.
- Hàng bán bị trả lại: Doanh thu hàng bán bị trả lại là doanh số sản
phẩm hàng hóa doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã ghi nhận doanh thu
nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện cam kết trong hợp đồng
hoặc chính sách bảo hành như: Hàng không đảm bảo chất lượng, sai quy cách,
chủng loại....
- Giảm giá hàng bán: Là khoản tiền doanh nghiệp ( bên bán) giảm trừ
cho bên mua hàng trong trường hợp đặc biệt vì lí do hàng kém chất lượng,
hàng không đúng quy cách, hoặc giao không đúng thời hạn ghi trong hợp
đồng....
- Thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp: Thuế GTGT là một loại
thuế gián thu được tính trên khoản giá trị gia tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT của
doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp phải nộp trong kỳ tương
ứng với số doanh thu xác định trong kỳ báo cáo.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là một loại thuế gián thu được đánh vào doanh
thu của một số doanh nghiệp sản xuất hoặc thu trên giá nhập khẩu và thuế
nhập khẩu với một số mặt hàng đặc biệt mà nhà nước không khuyến khích
sản xuất, cần hạn chế mức tiêu thụ vì không phục vụ thiết thực cho nhu cầu
đời sống nhận dân hay ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, môi trường như: rượu,
bia, thuốc lá.....
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
Giá vốn hàng bán là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ xuất
bán trong kỳ, là nhận tố quan trọng và có ảnh hưởng lớn nhất đến việc xác
định kết quả bán hàng của kỳ hạch toán này và các kỳ hạch toán sau.
Cách xác định giá vốn hàng xuất bán:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Hàng tồn kho”, trị giá mua
thực tế của hàng hóa xuất kho được xác định theo các phương pháp sau
- Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này, hàng
hó được xác định theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào
Đặng Việt Cường
CH04-2014
Luận văn tốt nghiệp
19
Học viện Tài Chính
đến lúc xuất kho. Khi xuất lô hàng nào sẽ tính theo giá thực tế của lô hàng đó.
Được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và
nhận diện được.
- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá trị của
từng loại hàng xuất kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng
tồn kho tương tự đầu kì và giá trị trừng loại hàng tồn kho được mua trong kì.
Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi xuất một lô
hàng, phụ thuộc vào tình hình doanh nghiệp.
- Phương pháp nhập trước xuất trước: Phương pháp này dựa trên giả
định hàng hóa nào được mua trước sẽ được xuất trước, hàng còn lại cuối kỳ là
TK 911
TK 632
Thành phẩm (nhập kho hoặc không
nhập kho), hàng gửi bán được xác
định đã tiêu thụ
Kết chuyển giá vốn hàng bán
TK 627
Chi phí sản xuất chung cố định không
phân bổ khi máy móc hoạt động dưới
công suất bình thường
TK 155
Hàng bán bị trả lại nhập
kho
TK 152,153
Hao hụt mất mát hàng tồn kho sau
khi trừ số thu bồi thường
TK 2294
Trích lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho
TK 111,112,331
TK 631
TK 155, 157
Giá thành của thành phẩm hoàn
thành nhập kho
Kết chuyển giá vốn thành
phẩm tồn kho, hàng gửi bán
chưa bánđược cuối kì
1.2.2. Kế toán xác định kết quả kinh doanh
1.2.1.1. Kế toán chi phí bán hàng
Nội dung:
Chi phí bán hàng là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán hàng
hóa, cung cấp dịch vụ. Chi phí bán hàng bao gồm:
Chi phí nhân viên: Là các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân
viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản hàng hóa....bao gồm: tiền lương, tiền ăn
ca, tiền công và các khoản trích theo lương ( bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp)
Chi phí vật liệu, bao bì: Là các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho
việc bảo quản, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ như chi phí vật liệu đóng gói, chi
phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển trong quá
trình bán hàng, vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ, bảo quản sản phẩm, hàng
hóa của doanh nghiệp.
Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Là các chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ
cho quá trình bán hàng như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ,
vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm định chất lượng.....
Chi phí dự phòng: là khoản dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm,
hàng hóa đã bán trong kỳ.