Nghiên cứu thực trạng và biện pháp hạn chế sử dụng túi nylon của người tiêu dùng - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, việc sử dụng bao nylon ở Việt Nam còn rất phổ biến, minh chứng
cho sự phổ biến này là tới 93% người dân xài bao nylon, ngoài ra mỗi ngày có tới
hàng triệu bao nylon được tiêu thụ mỗi ngày. Đấy dường như là một thói quen khó
bỏ được của người dân Việt Nam. Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đã áp
dụng nhiều biện pháp giảm thiểu việc sử dụng bao nylon thì người dân ta lại xài
một cách vô tư. Bao nylon được sử dụng khắp mọi nơi từ chợ, siêu thị, các shop
cho tới các trung tâm thương mại bởi vì tính tiện dụng của chúng. Tuy nhiên, bên
cạnh sự tiện dụng ấy thì mấy ai biết đến tác hại vô cùng to lớn của nó. Đi cùng với
những bao bì sản phẩm ngày càng đẹp hơn, tiện dụng hơn là lượng rác thải do bao
nylon, chai nhựa, vỏ hộp bọc nhựa cũng gia tăng. Dù tốc độ tăng trưởng GDP
hàng năm đạt trên 8,5%, nhưng nếu tính đến cả các tổn thất do môi trường thì tốc
độ tăng GDP thực tế của Việt Nam sẽ chỉ là 3 - 4%. Trong số thiệt hại này, túi
nhựa nylon “góp phần” không ít. Đấy là một thiệt hại quá lớn cho nền kinh tế Việt
Nam. Bên cạnh, những thiệt hại kinh tế thì còn có những thiệt hại khác về môi
1


trường, và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Điển hình như, túi nylon đã
phân hủy thấm vào đất là cho đất trơ, không giữ được nước và chất dinh dưỡng
cần thiết cho cây trồng. Không kể những tác hại môi trường, các thế hệ sau phải
gánh chịu, túi nylon còn gây ra nhiều tác hại trước mắt và trực tiếp vào người sử
dụng như rác thải nhựa làm tắc các đường dẫn nước thải gây ngập lụt đô thị, dẫn
đến ruồi muỗi phát triển lây truyền nhiều bệnh dịch. Ngoài ra, bao nylon cũng đe
dọa trực tiếp đến sức khỏe con người vì nó chứa chì, cadimi… gây tác hại cho não
và cũng là nguyên nhân gây ra ung thư phổi. Đó chính là lý do nhóm chúng tôi
nghiên cứu đề tài này.

2



Xem xét hoạt động của ngành sản xuất túi nylon trên thị trường đã gây ra
một ngoại ứng tiêu cực là ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến môi trường sống
của chúng ta.
P
D=MB=MSB

MSC

B
PE’

MC

E’

PE

E

MEC

A

O
QE’

QE

Q


giữa chi phí xã hội và chi phí tư nhân biên và đúng bằng chi phí ngoại ứng tại mỗi
đơn vị sản lượng. Chế độ phạt tiền này thường được chính phủ áp dụng với trường
hợp tác động ngoại vi tiêu cực không được gọi là nghiêm trọng và mức độ tiêu cực
thường tỷ lệ thuận với sản lượng, còn chi phí biên ngoại ứng được coi là như nhau
với mỗi đơn vị.
Chế độ phạt tiền phi tuyến là chế độ phạt tiền mà chính phủ áp dụng khoản
tiền phạt dựa vào mức độ nghiêm trọng hoặc tính chất của tác động tiêu cực. Có 2
khoản tiền phạt:
Khoản tiền phạt rất thấp (hoặc bằng không) nếu mức độ tác động tiêu cực
dưới mức cho phép.
5


Khoản tiền phạt rất cao nếu mức độ tác động tiêu cực trên mức cho phép
Trợ cấp: Đối với trường hợp các yếu tố ngoại vi có tác động tiêu cực nhưng
để hạn chế sự tác động đó chính phủ cũng có thể dùng chính sách trợ cấp (thường
thông qua thuế hoặc giá thu mua). Bằng việc trợ cấp đúng bằng sự chênh lệch giữa
lợi ích biên xã hội và lợi ích biên cá nhân, chính phủ đã điều chỉnh mức độ hạn
chế tác động tiêu cực đến mức hiệu quả.
b. Hệ thống biện pháp về hành chính và pháp luật
Biện pháp hành chính đòi hỏi chính phủ phải xây dựng hệ thống các tiêu
chuẩn quốc gia, ban hành các văn bản pháp luật, các quy định cụ thể buộc các cá
nhân phải tuân thủ triệt để và sẽ xử lý hành chánh theo quy định khi có sự vi
phạm. Thường có 2 loại:
Hệ thống pháp quy về nguyên nhân: bao gồm tất cả các quy định, các tiêu
chuẩn bắt buộc các cá nhân phải tuân thủ để hạn chế các nguyên nhân gây ra tác
động tiêu cực.
Hệ thống pháp quy về hậu quả: bao gồm tất cả các quy định, các tiêu chuẩn
buộc các cá nhân phải tuân thủ để hạn chế các hậu quả các tác động tiêu cực.
Biện pháp về pháp luật thường giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể gây ra tác

nylon/ngày và đại bộ phận số túi này chỉ sau một lần sử dụng bị thải ra môi
trường. Điều này không những gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà còn lãng
phí tiền của người dân và xã hội. Theo tính toán nếu mỗi túi nylon trị giá trung
bình 200 đồng thì với khoảng 800.000 gia đình Hà Nội (cũ) sẽ thải 9 triệu túi
nylon/ngày, 270 triệu túi/tháng, 3240 triệu túi/năm tương ứng với số tiền bị lãng
phí là 1,8 tỷ đồng/ngày, 54 tỷ đồng/tháng, 648 tỷ đồng/năm. Khảo sát việc sử dụng

7


túi nylon cho thấy, 72% lượng túi nylon được tiêu thụ ở 229 chợ, số còn lại tiêu
thụ ở siêu thị và các trung tâm thương mại trên địa bàn TPHCM.
93% người mua hàng cần dùng túi nylon: Gần đây, tình hình ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng từ rác thải là túi nylon và những cảnh báo về hiểm họa lâu
dài cho môi trường đã khiến nhiều người bắt đầu chú ý đến việc làm sao giảm sử
dụng túi nylon. Ngày 26-8-2008, Quỹ Tái chế chất thải TPHCM – Sở Tài nguyên
và Môi trường TPHCM đã tổ chức hội thảo “Đề xuất các giải pháp giảm thiểu sử
dụng túi nylon tại TPHCM hướng đến xã hội tiêu thụ bền vững”. Quỹ Tái chế chất
thải TPHCM đã đưa ra kết quả khảo sát cho thấy người dân TPHCM đã quá phụ
thuộc vào túi nylon khi 93% người đi mua hàng hoàn toàn không đem theo túi vì
cho rằng “được phát miễn phí, tội gì không dùng”. Ngoài ra, 1/4 số này cho rằng
sẽ rất bất tiện nếu phải lỉnh kỉnh xách theo túi từ nhà mỗi khi đi mua sắm.
“Giờ đây, túi nylon có mặt khắp mọi nơi vì nó chiếm được cảm tình của
người tiêu dùng. Đó cũng chính là khó khăn lớn nhất cho việc đưa ra giải pháp
giảm thiểu sử dụng túi nylon” - TS Nguyễn Văn Quán, Trưởng Khoa Môi trường
– Bảo hộ lao động Trường ĐH Tôn Đức Thắng, nhận xét.
Tình hình tiêu thụ túi nylon tại các siêu thị còn nhộn nhịp hơn. Khách hàng
khi rời siêu thị bao giờ cũng "tay xách nách mang" đủ thứ túi nylon. Theo bà
Nguyễn Ánh Hồng - giám đốc hệ thống Maximark, toàn hệ thống siêu thị này
(gồm 3 siêu thị) tiêu thụ bình quân 10 tấn nylon/tháng. Nếu tính trung bình 1kg

nhưng bịch nylon đựng đồ ăn thức uống dùng xong nhét đầy gầm
bàn, mỗi lần chỉ quét một phòng học mấy chục mét vuông mà cả
túi rác to uỳnh hầu hết đủ loại túi nylon lớn bé. Ở các trường
Đại học còn dễ dàng bắt gặp những hình ảnh: túi nylon treo ở
chỗ để xe, vứt ở các bồn cây cảnh (ảnh nhỏ, dưới)...

10


Một dòng kênh đầy bao nylon - Bao nylon đang là một trong
những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở TPHCM.
Những số liệu trên cho thấy thực trạng về nhu cầu sử dụng túi nylon ở nước
ta hiện nay là rất lớn. Nó đã trở thành một thứ thói quen không thể thiếu, “ăn sâu”
vào hoạt động mua bán của nhiều người. Từ những mặt hàng bình dân nhất như
quả cà, con cá, mớ rau,... đến những vật dụng quần áo, giày dép... đều được bọc
gói bằng túi nylon. Và thông thường sau một lần sử dụng, những chiếc túi chỉ
đáng giá có vài xu ấy được người ta thuận tay vứt bữa bãi khắp mọi nơi, gây ô
nhiễm môi trường và mất mỹ quan thành phố.

11


2. Tác hại của việc sử dụng túi nylon
Túi nylon là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song song với ưu
điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, xã hội, kinh tế đất
nước và cả con người.
Xét từ góc độ cấu tạo khoa học, túi nylon được sản xuất từ nhựa polythylen
(còn gọi là polyme tổng hợp) cấu thành nên PE. Đây là một phần tử lớn gồm một
sợi xích dài các đơn vị nhỏ hơn nối kết với nhau về mặt hoá học. Các polyme tạo
thành nhựa PE để sản xuất ra các túi nylon hay bao bì nylon được lấy từ các sản

trẻ em nữ có nguy cơ dậy thì quá sớm. DOP tồn tại 5 – 10% trong các chất hóa dẻo
được sử dụng”.
Nguy hại hơn là hiểm họa từ các loại túi nylon tái chế. Rất nhiều các loại
túi nylon được tái chế từ rác thải, công đoạn tái chế xử lý rất thủ công, trong quá
trình sản xuất được trộn các loại hóa chất làm tăng độ dẻo và bền của sản phẩm
đang bán rộng rãi trên thị trường tiềm ẩn nhiều hoá chất độc hại. Các loại túi nylon
được sản xuất từ nhựa PP, PE, PS là những loại nhựa không có tính độc. Tuy
nhiên, một số loại túi nylon được làm từ chất dẻo polyvinyl có các phân tử đơn lẻ
polyvinyl có khả năng gây ung thư. Còn lại phần lớn các loại túi nylon được sản
xuất từ những chất liệu nhựa rất độc hại với sức khoẻ con người. Trong đó, nhựa
PVC là một loại nhựa có tính độc, không thể dùng sản xuất túi hay các loại khay,
hộp đựng thực phẩm.
 Tình trạng người dân chưa có ý thức trong việc sử dụng loại rác thải này đã và
đang gây ra những nguy cơ, hiểm hoạ khó lường trước cho môi trường sống và
sức khoẻ của chính họ. Nó đặc biệt nghiêm trọng khi hiện nay, một phần lớn số
rác nylon trong tổng số túi nylon thải ra hàng ngày ở nước ta chưa có hệ thống
công nghệ xử lý hiện đại, khép kín và triệt để.

13


III. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VIỆC SỬ DỤNG TÚI NYLON
1. Thay đổi thói quen sử dụng túi nylon của người tiêu dùng
Trước tiên cần giáo dục người dân từ bỏ thói quen sử dụng túi nylon thông
qua các phương tiện truyền thông đại chúng để người dân nhận thức rõ tác hại của
việc sử dụng túi nylon.
Đối với trẻ em, cần đưa chương trình giáo dục này khi các em còn nhỏ để
chúng ta có một thế hệ tương lai biết sống và biết hành động vì cộng đồng, hơn
nữa thông qua thói quen của trẻ, trẻ có thể tác động đến hành vi của những người
lớn. Trẻ sẽ “nhắc nhở” người lớn thông qua những hiểu biết của trẻ, và vì lòng tự

tiêu thụ (sử dụng túi nylon) phải trả; Tính phí thu gom và tái chế túi nylon: người
sản xuất túi nylon phải trả và không được chuyển (một cách chính thức) sang
người tiêu dùng thông qua giá sản phẩm.
Tất nhiên, những chính sách hỗ trợ của Nhà nước là rất cần thiết. Nhà nước
đặt hàng nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật cho việc sản xuất các loại túi thân thiện
với môi trường; có cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp sản xuất ra những
sản phẩm này. Quan trọng hơn cả là nên nghiên cứu buộc người sản xuất và tiêu
dùng túi nylon có hại với môi trường phải trả phí môi trường.
3. Nên học tập các biện pháp giảm thiểu việc sử dụng túi nylon của một số
nước trên thế giới
Chẳng hạn như: Thụy Sĩ, Đan Mạch, Nam Phi, Ý, Phần Lan, Hồng Kông,
Thụy Điển đã đánh thuế sử dụng túi nylon hoặc cấm các cửa hàng, siêu thị cung
cấp miễn phí túi bóng cho khách hàng. Ireland buộc mỗi hộ dân đóng 15 cent/ngày
(tương đương 1000 đồng) thuế sử dụng túi nylon nên mỗi ngày ở đất nước này đã
giảm được 90% người dân sử dụng nylon bừa bãi và xả rác ra đường. Trung Quốc
đã cấm sử dụng túi nylon đựng hàng hóa trên phạm vi toàn quốc từ ngày
01/06/2008. Tại Canada, một số vùng cấm dùng túi nylon và yêu cầu thay thế
bằng túi vải hoặc túi giấy, nếu vi phạm sẽ bị phạt 1000 đô la Canada. Bangladesh
cũng áp dụng lệnh cấm từ tháng 03/2002 đã giảm được tới 90% lượng túi nylon.

15


Bangladesh, một nước nông nghiệp không giàu hơn Việt Nam, đã cấm sử dụng túi
nylon.

Trung Quốc, quốc gia đông con cháu nhất hành tinh, trong năm 2008 cũng đã
kiên quyết nói không với túi nylon. Dự kiến mỗi năm, Trung quốc sẽ tiết kiệm được
37 triệu thùng dầu thô nhờ chủ trương cấm phát túi nylon miễn phí.



Trong khuôn khổ hoạt động của chương trình giáo dục phân loại rác tại
nguồn (3R) tại HN, tháng 8.2008, toàn bộ hộ dân trong phường Phan Chu Trinh
(HN) đã được phát miễn phí túi eco-bag (túi có thể sử dụng nhiều lần và phù hợp
với môi trường) và nghe thuyết trình về phong trào dùng túi eco-bag đi chợ và ý
nghĩa của loại túi này. Sau đó, dự án tổ chức cuộc thi tìm hiểu về ích lợi của ecobag và thu hút được 90% hộ dân trong phường tham gia.
Hiện nay, có khá nhiều doanh nghiệp bắt tay sản xuất bao bì không ô nhiễm
môi trường. Cụ thể, cuối năm 2005, Công ty cổ phần văn hoá Tân Bình đầu tư sản
xuất bao bì nhựa tự huỷ theo công nghệ hiện đại của Canada. Kế tiếp là, Công ty
Phú Hoà (Bến Tre) ra mắt các sản phẩm bao bì không gây ô nhiễm môi trường tận
dụng từ nguồn phế liệu bã mía, xơ dừa bỏ lại sau thu hoạch. Năm 2008, Công ty
TNHH thương mại và dịch vụ Phúc Lê Gia (TPHCM) giới thiệu loại túi nhựa sản
xuất theo công nghệ tự phân huỷ sinh học Biocom.
Mới đây nhất, Công ty TNHH thương mại và sản xuất nhựa Tiến Thành
(Gia Lâm, Hà Nội) cũng ra mắt loại bao bì sản xuất từ bột bắp, không gây ô nhiễm
môi trường... Gần đây nhất là Công ty Cổ phần Công nghệ mới (Long Biên, Hà
Nội) đã ra mắt sản phẩm bao bì tự huỷ được làm từ nhựa PE, PP, PVC trộn thêm
các phụ gia tự huỷ là các polyme sinh học. Do đó, loại túi này có thể tiêu huỷ
trong vòng từ 2,5 – 3 năm, thay vì nhiều năm như các loại túi nylon thông thường.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều ý kiến lo ngại về chất lượng, giá thành, cũng
như ý nghĩa môi trường của các sản phẩm này. Mặt khác, chi phí sản xuất loại túi
tự phân huỷ thường cao gấp nhiều lần so với túi nylon trong khi Chính phủ chưa
có một sự hỗ trợ nào cho các doanh nghiệp. Với những khó khăn như vậy, người
sản xuất túi thân thiện môi trường khó lòng cạnh tranh với túi nylon, còn người
dân không thể tự giác ủng hộ trong điều hiện kinh tế còn eo hẹp.
Trong khi chờ đợi những giải pháp thiết thực từ các ngành chức năng thì tự
bản thân mỗi người chúng ta phải có ý thức trách nhiệm, hãy chủ động thay đổi
thói quen sử dụng túi nylon. Việc thay đổi một thói quen là vô cùng khó khăn
nhưng rõ ràng là chúng ta có thể làm được điều đó.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status