PGS. TS. NGUYỄN TIẾN ĐÍCH
CÔNG TÁC BÊ TÔNG
TRONG ĐIỀU KIỆN
KHÍ HẬU
NÓNG ẨM VIỆT
NAM
■
■
■
(Sách dùng cho thiết ké, thi công, kiểm tra chất lượng
công trình bé tông và bé tông cốt thép, nghiên c ứ j khoa học,
đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành xây dụìig)
(Tái bản)
NHÀ XUẤT BẢN XÂY DựNG
HÀ NÔI -2011
LỜI NÓI ĐẦU
Bé tông cung giống như loài cây, nó ưa nhiệt và ảỉu.
Cùy không có nước sè khô héo, không có nắng ấm sẽ kém p h á t triền.
Bô tòng củng ưậy, khỉ có ?ĩẻn nhiệt độ và độ ảm không k h í cao thi chài
li/Ợng sõ tốt, cường độ ngày càng phát triến. Ngược lại thi chá lượng sẽ
kém đi.
Nước ta nằm trong vùng có khí hậu nóng âm. K hí hậu này về cơ bần
rát th íc h hợp VỚI các kết cấu bè tóng VI nó củ nển nhiệt độ và độ ă m cao,
Váy là điều kiện tự nhiên quý, giup cho kết cấu bô tông duv tri được chất
này giới thiệu cùng hạn đọc.
Trong qua trinh biên soạn sách chắc chắn còn có những sơ suât. Tcc
giả rất m ong nhận được ý kiến của độc giả. Xin cảm ơn.
Tác giả
Địa ch ỉ liên lạc:
Nhà 10 - ngõ 144
Đường:
An Dương Vương
Phưòìig:
Phú Thượng
Quận:
Tây Hồ - Hà Nội.
Điện thoại:
04.7570684
E-mail;
Dichibíit @hn.Ynn.vn
Chương 1
- Bê tòng co .lế phát triẽn cường độ tiếp sautuổi 28 ngày trons điều k:ện
khí hậu nóng ám v.v...
Vì vậy chúng ta cần xem xét còng tác bê tỏng ớ nước ta theo từna \ ùni’,
\'ới từng mùa khí hậu riêng. Đâv là inột việc khó, đòi hỏi nhiều cỏti” ứe
nghiên cứu. Tuy nhiên, địa hình nước ta có Ihể quy nạp thành 3 vùng khí hậu
điên hình đại diên cho 3 micn: Bắc, Trung và Nam.
Dưới đây sẽ xem xét cụ thê diểu kiện khí hậu ớ mỗi miền phục vụ cỏnịỊ
lác bè tỏng.
1.2. ĐẶC ĐIỂM k : ií H ậ u m iề n b ắ c đ ố i v ớ i c ô n g t á c b ê t ô n g
Thông thường mỗi mùa khí hậu được đặc trưng bởi các thông số khí h.ậu
chú yếu sau đây:
- Nhiệt độ khoiig khí. T^^C;
- Độ ám khôn?
- Mùa lạnh (mùa đỏng): Từ tháng X đến tháng III với T = 16 - 24°c và
Q = 400 - 600 kcal/m lh.
Với sự phân chia này thì mùa nóna đồng thời có lượng mưa cao hơn.
Bảng 1.1. Các sô liệu khí hậu chủ yếu của khu vực Hà Nội
Tháng
1
11
111
IV
V
VI
Vil
VIII
IX
X
XI
XII
87
83
83
83
85
85
81
81
81
2,4
2,7
2,7
2,9
2,7
2,4
708
6 15
576
507
12-13h
444
534
534
738
648
738
792
780
702
603
18
25
16
84
192
240
296
310
258 125
47
20
C h ỉ số
Nhiệt độ
khóng khí trung
binh,
T °c
V
Q
M
%
m/s
kcal/m ^h
mm
1
M ùa nóng (H è)
IV-IX
>27
>80
2 ,2 -3 .0
>700
>190
Vlll
IX
Thõng số
XI
X II
Nhiệt độ không
khí trung bình,
25,7
26,6
27,8
28,8
28,2
27,4
27,0
27,0
7 7 ,8
2,6
2,9
3.3
3,3
2,8
3,1
3,2
3,1
3,0
2,5
2,4
2 ,3
344
401
trung bỉnh,
80% và M = 115 - 332inim
(gọi chung là trên 115mm).
- Mùa khô: Từ tháng XII đến tháng IV với cp < 80% và M = 4,5 - 51,4mim
(gọi chung là dưới 52mm).
Như vậy có thể phân chia khí hậu khu vực TP Hồ Chí Minh thành 2 miùa
thích ứng với công tác bê tông với các thông số khí hậu cơ bản nêu troing
Bảng 1.4.
2 ,4 - 3.4
>340
> '2 0 )
2
M ùa khô
X II-IV
70
2,3- 2,3
>340
KHÍ HẬU
Mỗi kết cấu bê tông làm \'iệc trong một môi trường khí hậu cụ thể. Vì vậy
việc đảm bảo sự tương thích với điều kiện khí hậu địa phưcmg theo vùng và
theo thời gian trong nãm sẽ đám bảo chất lượng của cõng tác bẽ tỏng và độ
bền lâu của công trình.
Những vấn đề sau đây trong cống tác bê tông cán có sự tương thích với
điều kiện khí hậu xung quanh:
- Quá trình đóng rắn của bè tông trong những ngày đầu có thể bị tác động
của các yếu tố khí hậu làm nứt mặt bê tông và giảm cường độ mác và độ
chống thấm về sau;
- Thi công kết cấu bê tỏng khối lớn trong điều kiện nắng nóng dễ làm nứi
kết cấu do hiệu ứng nhiệt thuỷ hoá của xi mãng trong bé tông:
- Kết cấu BTCT làm việc lâu dài dưới tác động của khí hậu nóng ấm địa
phương có thể bị nứt do biến dạng nhiệt ẩm theo chu kỳ, hoặc bị ãn mòn bẽ
mặt bê tông do quá trình cíicbônat hoá dài ngàv liong không khi
- Kết cấu làm việc trong inôi trường khí hâu \ ùiig ven biến chỊU tac đọng
đồng thời của các điều kiện khí hậu nóng ẩin và klií hàu biến, có thế nhanh
chóng bị phá hoại do ãn mòn C1.
Những phân tích khí hậu nêu trên mang tính đặc thù cùa vùng khí hậu
Việt Nam. Trong công tác bê tông cần phải chú trọng vấn đề thích ứng với
môi trường khí hậu cụ thể này.
10
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM ĐÓNG RẮN CỦA BÊ TÔNG
TRONG ĐIỂU KIỆN
Bán chất quá trình mất nước (hay còn gọi là quá trình thay đổi chất) của
bê tỏng trong những giờ đầu đóng rắn dưới tác động của các yếu tố khí hậu
được thể hiện ờ Hình 2.1: Một sàn bê tông sau khi hoàn thiện sẽ chịu tác
động của bức xạ mặt trời, độ ẩm, gió, nhiệt độ không khí làm cho nước trong
bê tông bị bốc hơi.
11
Hình 2.1. Sơ dồ quá trình mất nước của bê tông
dưới tác dộng của khí hậu nóng ẩm
2. Đường cong cơ bản quá trình mất nước của bê tông
Việc khảo sát quá trình mất nước cùa bê tỏng ở Hà Nội và các vùng k]iác
trong nước đã được tác giả cùng các cộng tác viên tiến hành bằng một loạt
thí nghiệm với các thành phần bê tòng khác nhau và vào các mùa vùng khác
nhau [7].
Hình 2.2 là một đirờiig cong cơ bàn mô tả diễn biến của quá trình mât
nước của bê tông trong những giờ đầu đóng rắn ^’ào một ngày nắng hè ở Hà
Nội. Bê tông mác 200 (20MPaì \’Ớ1 tỷ lệ N/X = 0,46 được đúc Irong khuôn
lOxlOxlOcm với các mò đun mặt hở khác nhau.
Hình 2.2 cho thấy bê tông mất tới 40-60% lượng nước trộn ban đầu sau
4-6 giờ đóng rắn tuỳ theo mô đun mặt hở Mh của bê tông. Mô đun mặt hở
của bê tông là tỷ số diện tích mặt hở F của bê tông (để cho nước có thể bay
hơi khỏi bê tông), tính bằng m‘ trên khối tích V của bê tông, tính bằng m
Mô đun mặt hở của bê tông được tính bằng — hay m ‘
m
(2 .1)
V
Kết cấu bê tông càng mỏng thì mỏ đun mật hở càng lớn và tốc độ mất
nước càng nhanh.
0
9
10
12
14
16
20
22
23
Giờtrong ngáy
tlỉn h 2.2. Quú trình mất nước của bê ĩông vùo ngày nấng hè ở Hà Nội
1-M„ = 30m'
2- Mi, = lOrn'
Bé tông có N/X = 0,46
Đtéii kiệu khí hậu:
* Cưcmg độ bức xạ mặt trời: Q = 700 - 800 kcal/m^h
* Nhiệt độ không khí:
T = 33 - 35^c
* Độ ẩm không khí;
(p = 80 - 95%
* Tốc độ gió:
maníị tính đặc thù ở điều khiện khí hậu mùa hè ờ mi'ớc tư.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình mất nước của bê tông
a) Ảnh hưởng của cườnịị clộ nắìiỊ’
Khi trời nắng, bê tông gần như bị sấy khò. Vì vậy cường độ bức xạ mặt
trời là yếu tố ảnh hưòng mạnh mẽ tới quá trình mất nước cúa bé tòng
những giờ đầu đóng rắn. Nghiên cứu cho thấy vào lúc 16h trong ngày nánjj
to, độ mất nước của bê tòng có Mị, = 3ơm ‘ đạt 60-63% tuỳ theo tỷ lệ N/X.
Trong khi đó vào ngày nắng yếu chi lĩiất 29-52%. Điều đó cho thấy việc c he
nắng cho bê lông Irơng những t>iờ dàu dỏng rảii dể tranh mất nước là rài
quan trọng.
h) Ảnh hưởng của dộ ấn ì klìonịỊ khí
Những nghiên cứu của tác giả đối với bê tông có tỷ lệ N/X = 0,37^0,54
cho thấy, trong cùng điều kiện nhiệt dộ không khí và cườiig độ bức xạ mặt
trời vào một ngày nắng hè lại Hà Nội, với độ ẩm không khí 40-60%, suu 7h
đóng rắn, bê tông mất 46-56% lưtmg nưéíc. Trong khi đó ớ độ ẩm khống khí
86-93% chỉ mất 32-31% tuỳ theo tỷ lệ N/X. Trong điều kiện thời liết khỏ.
tốc độ mất nước giảm đi rõ rệt sau 5h đóng rắn. Trong khi ở độ ẩm khón‘'
khí cao sau 7h đóng rắn, tốc độ mất nước vẫn không thay đổi
c) Ảnh hưởng của thời điểm hoàn thiện hề mặt hê lóiiịi
Nghiên cứu cho thấy vào mùa hè ớ Hà Nội, tốc độ mất nước của bê lông
trong trong 2-3 giờ đầu đóng rắn đối với bê tông hoàn thiện xong vào lúc 8
giờ sáng và lúc 13 giờ trưa là tương đươiig nhau. Điéu đó cho thấy thi cônị’,
bê tông vào buổi sáng hay buổi trưa thì cũng phải che đậy mặt bê tông sau
khi hoàn thiện để hạn chế mất nước.
14
(Ị) Ảnh hưởng của mùa khí hậu
Quá trình khảo sát độ mất nước theo các mùa cho thấy độ mất nước của
bê tông vào mùa hè ớ Hà Nội cao hơn vào mùa đông. Hình 2.3 cho thấy sau
Thời gian, h
ơ TP Hổ Chí Minh thì độ mất nước của bê lông sau 6h đóng răn vào mùa
khố đạt tới trên 70%, trong khi vào mùa mưa chỉ đạt 25-30% (Hình 2.4). Có
sự sai khác lớii này là do vào mùa khô, độ ẩm không khí thấp liên tục và rất ít
mưa (Bảng 1.4). Đường cong mất nước vào ngày nắng khỏ có đặc điểm là chỉ
có 3 giai đoạn: giai đoạn tăng tốc, giai đoạn giảm tốc và giai đoạn ổn định,
khác với ngày nắng hè ở Hà Nội có 4 giai đoạn như đă nêu trên.
Ị
80
1
70
Hinh 2.4. Độ mất nước
của bé ĩông ĩheo thời gian
Ịợị vùng khi hậu TP HCM
1, 2. Mùa khô với M|, = 30 và lOm '
3. Mùa mưa với M|, = lOm '
^60
■ §50
c
40
trong Bảng 2.1 là thời điếm dừng quá trình mất nước của bê tông. C ụ :hể là
77,4% sau 5 ngày đóng răn; 64,6% sau 4 ngày và 52,9% sau 5 ngày, :ưcjng
ứng với bê tông có N/X = 0.65: 0,55 và 0,45. Như vậy bê tông cũng chỉ m;Tt
nước một số ngà\' đầu dưới tác động của các điều kiện của khí hậu nóng ẩm.
Sau đó do cường độ bê tòna đã đạt đến mức có thế tự giữ nước làrri rgìitig
quá trình mất nước của bê tông.
Bảng 2.1. Độ mất nước của bẻ tông theo thời gian ở khu vực H ả Nộii
Độ mất nước, %, sau số ngày đóng rán
N/X
1
2
0,65
60,7
73.3
0,55
50,8
0,45
46,8
4
68,6
66,2
.50,7
51,3
52,5
52,6
52,9
52,9
55,8
25nn'
Với vùng Khí llậu TP Hó ( ’hí Minh thì độ dài quá trình mất nước : ó ’ sự
phân biệt rõ rệt theo mùa: Vào tliời gian mùa khô, bê tông dừng m>ất niước
sau 5 ngày đêri), không phàn biệt tý lệ N/X. Khi đó bê tông đã mất (8487%
lượng nước ban đầu (liàng sô in đậm, Bảng 2.2). Còn vào mùa mưa, bé tông
dừng mất nước sau 1, 2 và 3 ngày tương ứng với tỷ lộ N/X là 0,40; 0,55' và
0,65. Lượng nước đã mát khi đó tương ứng là 32; 34 và 42%. Sô' liệucũíng
cho thấy, vào niùa khò không thấy có ảnh hưởng rõ nét tỷ lệ N/X đối vci cquá
trình mất nước của bẽ tòng, Iihưng vào mùa mưa thì tỷ lệ N/X càng (ca), tốc
độ mất nước của bê tông càng lớn.
73
77
75
38
32
32
41
34
32
-
-
-
76
42
87
-
21.
80
-
-
Những nghiên cứu về quá trình mất nước ở khu vực TP Hồ Chí Minh cho
thấy vào mùa khô, việc che đậy bề mặt bê tông để tránh mất nước là đặc biệt
quan trọng. Sau 1 ngày bê tông có thế mất trên 70% lượng nước ban đầu.
Đối với vùng khí hậu miền Trung ở nước ta thì gió Lào nóng khô sẽ
thúc đấy quá trình nước bay hơi khỏi bê tông. Bảng 2.3 cho kết quả khảo sát
quá trình mất nước của bê tông có N/X = 0,5 được thi công vào ngày có gió
Lào tại khu vực TP Vinh. Số liệu ở bảng 2.3 cho thấy trong điều kiện có gió
Lào, sau 7h đóng rắn, bê tông đã bị mất 63,3% và 43,9% nước tương ứng với
= 30 và lOm '. Và sau một ngày đóng rắn, mất tương ứng 65 và 47,2%
nước. Sau 2 ngàv đối với M(, = 10m ‘ và 3 ngày đối với Mị, = 30m ' bê tỏng
đã dừng quá trình mất nước. Thời gian này là ngắn hơn vào mùa hè ở Hà Nội
và mùa khô ớ TP Hồ Chí Minh. Như vậy khi thi công vào lúc có gió Lào thì
nhất thiết phải che đậy cho bê tòng, tránh tác động của gió Lào, để hạn chế
mất nước của bê tông trong những giờ đầu đóng rắn.
Bảng 2.3. Độ mất nước của bê tông theo thời gian khi có gió Lào
Thời gian mất nước,
f)
50,0
5
67,0
50,0
Sự hình thành cấii trúc rỗng trong bê tông ão mất nước
Một lượng nước lớn đã bị bay hơi khỏi bê tỏng dưới tác động của khí hậu
nóng ẩm như đã nêu trên sẽ để lại trong bê tông nhiều lỗ rỗng, tạo nên một
câu trúc rỗng của bê tông. Hình 2.5a cho thấy mới chỉ bay hơi 1 ngày đầu,
nước đã để lại trong bê tông nhiều lỗ rỗng lớn và nhỏ mà nó chiếm chỗ.
17
a) Bé tông khôníị CĨKỢC hdo dưỡng ẩm:
b) Bé tông có báo dưỡng ẩm
Hình 2.5. Cấu Irúc rỏiiỊỊ của bé tông tuổi 7 n^ày khi bị mất nước
Đến tuổi 7 ngày đã hìnli ihành một cấu trúc rỗng rõ nét trong lòng bê
tông. Nếu được che đ.ậy đc hạn chế quá trình mất nước thì độ rỗng trong bê
tông ít đi nhiều, \ à bê lõiiị', có càu triic đặc chắc hơn (Hình 2.5-b). Việc hình
thành một cấu trúc rỗng do bê tônu bị mất nước tất yếu sẽ làm cho cường đo
và độ chống thấm cùa bti lỏng vé sau dều bị kém đi. Điều đó khẳng định tầm
quan trọng của việc báo dưỡng árn bẽ tông trong điều kiện khí hậu nóng ẩni
Việt Nam.
2.1.2. Quá trình biên dạnịỉ mcni cúa bê tỏng
klií trên 75%, nhiệt độ không khí chưa cao, giá trị mất nước còn ở mức thấp,
do đó tốc độ co diễn ra chậm. Giai đoạn này có thể gọi là giai doụn hắt đầu
co mềm.
- Giai đoạn 2: Khoảng 2h tiếp theo (đoạn AB):
Lúc này tốc độ mất nước của bê tông phát triển mạnh. Đường cong co
mềm gần như dốc đứng, và đạt giá trị cực đại vào khoảng 12’’. Giai đoạn này
có thể gọi là giai đoạn co mạnh.
- Giai đoạn 3: Khoảng 2h tiếp theo (đoạn BC):
Lúc này là vào khoảng 12 - 14\ mặc dù độ ẩm không khí giảm xuống
dưới 70%, bức xạ mặt trời, tốc độ gió, nhiệt độ không khí đều ớ mức cao, tốc
độ mất nước vẫn phát triển mạnh, nhưng do bê tông đã bắt đầu có cường độ
có tác dụng cản co mềm, nên hầu như không co tiếp nữa. Giai đoạn này có
thể gọi là giai đoạn co chậm.
- Giai đoạn 4: Khoảng 14 - 18'’ trong ngày (đoạn CD):
19
N„ = 0, 25 X
(2.2)
Trong khi để có độ dẻo đủ thi công, ta cần phải cho vào bê tông một
lượng nước trộn gấp đôi lượng nước N,|, hoặc hơn nữa. Lượng nước dư thừa
đã chiếm chỗ trong lòng bê tông dưới dạng các bọt nước lớn nhỏ và các bọt
mao dẫn. Khi nước bay hơi đã tạo trong bê tông những lực mao dẫn. Lực này
đầu tiên tác động lên bề mặt các vi bọl và các ví nứt kín. Sau đó tác động lên
bề mặt các màng nước ngãn cách trong lưới tinh thể đá xi măng, tạo bên
trong pha lỏng một áp lực âm làm cho đá xi măng và cả khối bê tỏng bị ép
mọi phía. Khi đó bê tông bị ngót thể tích, gây nên hiện tượng co mềm. Hình
2.9 là sơ đồ mô tả quá trình áp lực âm tạb ra do nước bốc hơi khỏi một bọt
nước nhỏ và kín. Hiện tượng này giống như ta xì hơi một quả bóng khí. Khi
khí thoát ra, áp lực âm đã làm cho quả bóng dúm lại. Nếu trong bê tông có
vô số bọt nước kín và các bọt mao dẫn kín cùng có áp lực âm thì cả khối bê
tông sẽ bị co lại.
21
Giờ trong ngày
Hinh 2.8. Ảnh hưởng của Mị,
đến biến dạng mềm của bé tỏỉìg
E
iE
1- Bê tống được phủ nilon, Mh = 0
lần so với bê tông có cốt thép.
J. Co mềm tự co
Trong quá trình ihuỷ hoá của xi mãng trong bê tông, thể tích tuyệt đối
của sản pháin thu được sau phản ứng thuỷ hoá nhỏ hơn thể tích của chất
tham gia phàn ứng. Nphĩa là liổ xi măng trong bê tòng đã “lự ngót” đi. Có
thể lấy thí dụ về phản ứng C;A víM nước:
3Q0. A1,0, + 6H,0 = 3C,p. Al,()„ ÔH^O
Ta biết phân tử lượng của 3C,0, AKO, và của nước tương ứng là 270,2 và
18,016; khối lượng riêng là 3,04 và Ig/cin'. Vậy thể tích của các chất tham
gia phản ứne sẽ là:
270,2 6.18,016
— — + ----- ^----- = 196,97cm
3 ,1
1
Trong khi đó khối lượng riêng và phân tử lượng của 3Q0. AI2OV 6 H2O là;
2,52 và 378,29. Nghĩa là sản phẩm thu được sau phản ứng sẽ là;
378,29: 2,52= 150,11 cm \
Như vậy khi thuỷ hoá Q A thể tích giảm đi:
196,97-150,11 =46,86cm ' hay 23,79%.
Cũng vậv, hiện tượng ngót thể tích cũng xảy ra khi thuỷ hoá các thành
phần khác của xi măng. Thí dụ, khi thuỷ hoá c ,s thể tích giảm 9cm \ hay
9,14% v.v...[10].
23
Hiện tượng này đã góp thêm một phần làm cho co mềm của bê tông tăng
lên. Tuy nhiên lượng tăng này là rấĩ ít so với co mềm do bị mất nước. Vì
trong vài giờ đầu đóng rắn của bê tông quá trình thuỷ hoá các pha rắn của xi
măng còn chưa nhiều. Giá trị co mềm tự co của bê tông chỉ đạt khoảng dưới
0,35mm/m, trong khi co mềm do mất nước có thể đạt tới 3-4mm/m.
0.60
51
80
0.625
1.20
30
100
0.80
59
75
0.460
2.90
29
77.7
2.60
cấu bê lông do biến dạng mém
a), b) Bẽ lông có cốt thép
c) Bê tông không cốt thép
Vì co mềm diễn ra mạnh Urêii bổ mặt bê tông nên khi bị nứt thì cũng chi
nứt trên bề mặt, ta gọ i ià vếií nứt mặt bè tỏng. Các vết nứt mặt thường có
chiều sâu khoảng 1-3'Cn. rộms khoán« 0 ,2-l,5m m tuỳ theo mức độ biến
dạng mềm. Kinh nghiệm cho thấv trong điều kiện khí hậu nóng ẩm Việl
Nam, vết nứt mặt thườíng xuấit hiện vào thời điểm bê tông kết thúc quá trình
nở mềm, tức là sau khoảng 2-4h đóno rắn \'ào lúc trời nắng hè.
Việc sửa chữa các vết nứt này có thế tiến hành sau khoảng 3 ngày đóng
rắn của bê tông. Nguyên tắc sừa chữa là làm đầy các vết nứt bằng hồ xi
mãng: Thổi sạch bụa trong \'ẽ't nứt. Tưới nước cho thấm no các vết nứt. Sau
đó tưới hồ xi măng vào các 'vết nứt \'à dùng các phương tiện gõ hoặc rung
nhẹ cho hồ xi măng xuiống dầm làm đầv các vết nứt.
Hình 2.12 cho thấy các vét nứt do biến dạng mềm của lớp trát tường hồi
nhà. Nguyên nhân lả do đã d ùng vữa trát quá nhão nên nước trong vữa trái
bay hơi rất nhanh làrn cho co mềm có giá trị lớn.
ĩỉim h 2.12. Vết nia lớp vữa trát do biến dạng m ềm
2.1.3. Kết luậni
Quá trình mát rnưức và biến dạng mềm của bê tông như đã trình bày ở trên
đã gây ảnh hưcnng: xiu đến chất lượng bê tông, tạo cấu trúc rỗng và gây nứt
mặt bê tông. Cơ clhế tLCơng tác giữa các quá trình có thể biểu diễn bằng sơ đồ
như sau: Mất niướíc (dẫn đến cấu trúc rỗng và biến dạng mềm bê tông. Biến
dạng mềm gây mứt miặt bê tông. Từ đó bê tông bị giảm cường độ và độ
chống thấm. Do» đló (Cần thiết phải bảo dưỡng ẩm bê tông để tránh những tổn