Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để phân tích vấn đề
nạn phá rừng ở việt nam hiện
Một phản ứng hóa học không thể xảy ra nếu không có sự tương tác giữa phân tử của
các chất tham gia; bóng đèn sẽ không phát sáng nếu như không có sự tác động qua
lại giữa dòng điện và dây dẫn; sẽ không có các mùa nếu trái đất không quay…. Rõ
ràng, không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại,
không có kết quả nào lại không có nguyên nhân. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và
kết quả là mối liên hệ được lặp đi lặp lại nhiều nhất, phổ biến nhất trong sự vận
động của hiện tượng. Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên
đầu tiên được phản ánh vào đầu óc của con người. Do vậy mối quan hệ nguyên
nhân kết quả là mối quan hệ đặc biệt quan trọng.
Nội Dung:
Phần I:Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả và mối quan hệ biện chứng
giữa chúng:
1.Khái niệm nguyên nhân và kết quả:
Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các
sự vật với nhau gây ra sự biến đổi nhất định.
Kết quả là những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tao ra.
2.Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:
- Theo quan điểm biện chứng duy vật mối liên hệ nhân – quả là mối liên hệ khách
quan của bản thân các sự vật. Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người không phụ
thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không.
- Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả còn thể hiện ở chỗ: 1 hiện
tượng nào đó trong đó mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác
lại là kết quả và ngược lại.
- Thực tiễn cho thấy cùng một nguyên nhân có thể gây nên nhiều kết quả khác nhau
tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại một kết quả có thể gây nên bởi nhiều
nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng lúc.
3.Phân loại nguyên nhân:
tượng nào đó cần tìm trong những mặt, những sự kiện những mối liên hệ đã xảy ra
trước khi xuất hiện.
- Vì dấu hiệu đặc trưng của nguyên nhân trong mối liên hệ với kết quả là nguyên
nhân sinh ra kết quả, nên khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú
ý đến dấu hiệu đặc trưng ấy.
- Vì mối liên hệ nhân – quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các
loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường
hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
- Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể
do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn mang
tính toàn diện và lịch sử - cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ
nhân – quả.
- Vì mối liên hệ nhân – quả mang tính chất tất yếu nên ta có thể dựa vào mối quan
hệ nhân – quả để hành động trong quá trình hành động ấy cần lưu ý :
+ Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân làm nảy sinh ra nó.
+ Muốn cho hiện tượng xuất hiện cần tao ra nguyên nhân cùng những điều kiện cần
thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng.Vì hiện tượng này có thể xuất
hiện do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc đồng thời trong hoạt động thực
tiễn cần tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hành động chứ
không hành động rập khuôn theo một phương pháp nhất định.
+ Vì các nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân bên trong giữa vai trò quyết định
trong sự xuất hiện, vận động và tiêu vong của hiện tượng nên trong hoạt động thực
tiễn cần dựa trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân bên trong.
+ Để đẩy nhanh hay kìm hãm ( hoặc loại trừ ) sự phát triển của 1 hiện tượng xã hội
nào đó cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều ( hay lệch hoặc
ngược chiều ) với chiều vận động của mối liên hệ nhân quả khách quan.
Phần II : Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để phân tích vấn đề suy
thoái rừng ở Việt Nam hiện nay
chặt phá trái phép, trong khi đó các cơ quan chức năng mới thu hồi được gần
2.000ha để trồng lại. Điều này cho thấy một thực trạng đáng báo động cho chúng ta
về vấn đề mất rừng.
+ Do xây dựng cơ bản như xây dựng đường giao thông, công trình thủy điện,…
Trong công cuộc phát triển đất nước thì điều này ta không thể tránh khỏi nhưng
chúng ta đang quy hoạch các dự án thủy điện một cách không hợp lý và có nhiều
vấn đề bất cập chúng ta cấp phép xây dựng thủy điện quá dễ dàng, dẫn đến việc các
đối tượng lợi dụng dự án chặt phá rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn một cách kiệt
quệ.
Ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng suy thoái nguồn tài
nguyên rừng,trên đây chỉ là một số nguyên nhân chính mà em tìm hiểu được mong
các thầy cô cho ý kiến góp ý.
2. Hậu quả
Theo thống kê của Bộ NN & PTNT, hiện nước ta có tổng diện tích rừng là
13.118.773 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.348.591 ha và rừng trồng là 2.770.182
ha. Trong số đó, hơn một nửa diện tích rừng tự nhiên của nước ta thuộc loại rừng
nghèo hoặc tái sinh, trong khi rừng già và rừng tán kín chỉ chiếm trên 9%.
Thống kê mới nhất của Cục Kiểm lâm thì đầu năm đến tháng 9/2010 có 1.553,68 ha
rừng bị chặt phá và 5.364,85 ha rừng bị cháy. Diện tích rừng tự nhiên của nước ta
đang suy giảm với tốc độ chóng mặt và độ che phủ của rừng ở khu vực miền Trung
đã bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện nay độ che phủ của rừng chỉ còn chưa đầy 40%,
trong đó diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn 10%. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng,
bởi do biến đổi khí hậu, trong thời gian tới, VN nói chung và miền Trung nói riêng
sẽ tiếp tục phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai do các hiện tượng thời tiết cực đoan
như El Nino, La Nina gây ra với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt.
+ Tình trạng thiên tai, lũ quét, sạt lở đất…, gây nguy hiểm cho cuộc sống của con
ha chủ yếu là canh tác lúa nước nhưng Từ năm 2001 đến nay dòng chảy mùa kiệt
nhỏ đã gây trở ngại cho các nhu cầu kinh tế, dân sinh và môi trường ở hạ lưu. Mực
nước các cống lấy nước tự chảy vào hệ thống và các trạm bơm tưới hai bên bờ hệ
thống sông Hồng luôn thấp, gây khó khăn và hạn chế công suất hoạt động của các
trạm bơm tưới như phải giảm số máy bơm, kéo dài thời gian bơm.
Trên đây là một số hậu quả nghiêm trọng và nguy hiểm do suy thoái nguồn tài
nguyên rừng gây ra, ngoài ra còn có vô số hậu quả nữa như gây biến đổi khí hậu
toàn cầu, xâm nhập mặn..vv.
3. một số biện pháp khắc phục, hướng giải quyết
a. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý, bảo vệ rừng.
+ xây dựng các chương trình về thông tin- giáo dục - truyền thông , phổ biến kiến
thức pháp luật cho các chủ rừng nhằm nâng cao nhận thức cho họ.
+ học hỏi các nước quản lí tài nguyên rừng tốt điển hình như Nhật Bản. Nhận thức
của người Nhật rất cao trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, từ năm 1980, xuất hiện
phong trào tìm hiểu về rừng bắt nguồn từ những ngư dân trồng cây ven biển vùng
châu thổ sông, vùng núi và lan rộng chưa từng có. Đến nay phong trào này đã có tác
động tích cực đến môi trường và luôn được chính phủ khuyến khích.
+ Phải có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương để
triển khai các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng. Gắn trách nhiệm quản lý nhà
nước trên địa bàn của các cấp chính quyền và đề cao trách nhiệm cá nhân trong bảo
vệ rừng. Tăng cường sự phối hợp có hệ thống, có kế hoạch với các lực lượng liên
quan để tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động về xâm hại tài nguyên rừng. Dựa
vào nhân dân để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý
bảo vệ rừng. Với công tác phòng cháy chữa cháy rừng, phải quán triệt phương châm
phòng là chính, chữa cháy kịp thời và hiệu quả
+ Xây dựng và duy trì hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại các địa
phương. Có chính sách khen thưởng và động viên kịp thời đối với các tổ chức, cá