CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Chủ đề tạo động lực làm việc đã được các nhà nghiên cứu tâm lý xã hội học, chủ
doanh nghiệp… đặt nhiều mối quan tâm từ ngay sau khi các mạng công nghiệp hóa
bùng nổ ở phương Tây. Những nghiên cứu về nhu cầu, động lực, động cơ ở một số nơi
làm việc khác nhau như nhà nước, doanh nghiệp tư nhân…đã giải thích nguồn gốc về
hành vi, các yếu tố thúc đẩy hành vi của con người trong những môi trường làm việc
khác nhau. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu trong nước và thế giới:
Theo hướng tâm lý học hành vi: Các tác giả Alfred Adler, Erik Erikson tiếp cận
theo hướng này họ cho rằng bản năng, mặc cảm về sự thua kém là những động lực
thúc đẩy con người cố gắng làm việc, những yếu tố liên quan tới động lực thúc đẩy
con người hoạt động thuộc về chính bản thân con người. Các tác giả này nhấn mạnh
động lực của con người chính là do các yếu tố bên trong của mỗi người thậm trí là do
di truyền. Tuy nhiên tác giả cho rằng không phải tất cả những yếu tố này đều trở thành
động lực thúc đẩy con người hoạt động vì con người biết nhận thức, đánh giá và chọn
lọc các yếu tố sao cho phù hợp với xu hướng phát triển của bản thân, sao cho phù hợp
với các điều điện môi trường khác...hoặc cũng có thể là do các yếu tố thuộc môi
trường bên ngoài tác động làm cho con người xuất hiện các nhu cầu và từ đó thúc giục
họ hoạt động để thỏa mãn nhu cầu đó.
Theo hướng tiếp cận lịch xử xã hội: Tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là các
nghiên cứu của các tác giả như A.N. Leonchiev, L.X. Vygotsky... Các nghiên cứu này
chỉ ra rằng động lực của con người được hình thành và phát triển cùng với quá trình
phát triển của cá nhân mỗi người thông qua hoạt động giao tiếp. Nhóm các tác giả này
cho rằng khi xem xét vấn đề động lực, động cơ của con người thì phải xem xét nó
trong mối quan hệ với nhu cầu. Động lực, động cơ xuất phát từ nhu cầu, có mối quan
hệ chặt chẽ với nhu cầu. Vì vậy khi nghiên cứu về động lực của con người phải nghiên
cứu mối quan hệ của con người với các yếu tố thuộc môi trường hoạt động của con
người.
Re’em thực hiện nghiên cứu năm 2010: “Tạo động lực thúc đẩy nhân viên ở khu
vực công: công cụ ứng dụng trong thực tiến.” Nghiên cứu thực hiện nhằm hướng đến
việc tìm ra các nhân tố lý thuyết và các chiến thuật có thể áp dụng trong thực tế, từ đó
Theo từ điển tâm lý học tiếng anh của Raymond J. Corsini thì động cơ được xem
là cái thúc đẩy, nuôi dưỡng và định hướng các hành động tâm lý hay sinh lý. Động cơ
bao gồm các lực thúc đẩy nội tâm như các xung năng, các hứng khởi và mong muốn
cần thiết trong quá trình này. Vậy nên động cơ là cái có sẵn vì những xung năng cũng
trở thành lực thúc đẩy con người tiến hành hành vi.
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc
Ở trong nước, tác giả nhận thấy có khá nhiều đề tài luận văn liên quan đến
chuyên đề tác giả nghiên cứu, mỗi đề tài đều có những điểm mạnh riêng, các đề tài đã
đưa ra được cách thức tạo động lực cho người lao động và nhiều bài học kinh nghiệm
được rút ra từ các doanh nghiêp. Cụ thể như:
Tác giả Vũ Thị Uyên với đề tài luận án tiến sĩ “Tạo động lực lao động quản lý
trong các Doanh nghiệp nhà nước đến hết năm 2020”, Đại học Kinh tế Quốc dân
2008.
2
Thang Long University Library
Luận án đã hệ thống hóa lý luận căn bản về lao động quản lý và vai trò của lao
động quản lý trong hoạt động sản xuất Doanh nghiệp. Luận án đã phân tích, đánh giá
thực trạng làm việc của lao động quản lý, các yếu tố tạo động lực cho lao động quản
lý, mức độ thỏa mãn nhu cầu lao động quản lý qua các biện pháp tạo động lực, chỉ ra
được nguyên nhân làm hạn chế động lực quản lý trong Doanh nghiệp Nhà nước ở Hà
Nội. Và luận án đã đề xuất quan điểm giải pháp tạo động lực cho lao động quản lý
trong Doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội, tạo đà cho sự phát triển của Doanh nghiệp
Nhà nước trong thời kỳ đổi mới.
Tác giả Nguyễn Anh Việt với đề tài luận văn thạc sĩ : “Giải pháp tạo động lực
cho người lao động tại công ty cổ phần FTG”, Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2011.
Ngoài một số mô hình như các tác giả trên đã trình bày, tác giả còn đưa ra thuyết
ERG của Clayton Aderfer. Thêm nữa, tác giả còn trình bày các công cụ và phương
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương với đề tài luận văn thạc sĩ: “Tạo động lực cho
người lao động tại công ty LG Electronics Việt Nam”, Đại học Kinh tế Quốc dân ,
năm 2009
Ngoài những vấn đề lý thuyết cơ bản tác giả nêu thêm sự cần thiết phải tạo động
lực cho lao động quản lý. Người lao động quản lý là người lao động hoạt động trong
bộ máy quản lý và tham gia vào chức năng quản lý như: nhân viên quản lý kỹ thuật,
quản lý kinh tế, quản lý hành chính...Sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện
pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động làm cho họ có động lực làm việc,
cảm thấy hài lòng với công việc và mong muốn đóng góp cho doanh nghiệp. Tác giả
cũng nêu ra một số kinh nghiệm tạo động lực quản lý của các công ty LG trên toàn thế
giới như ở Thailand, Australlia, Malaysia, Ấn Độ.
Tác giả Đỗ Xuân Tùng với đề tài luận văn thạc sĩ : “Tạo động lực cho người lao
động tại công ty Cảng Hà Nội”, Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009.
Ở chương phân tích thực trạng tác giả nêu ra nhóm các yếu tố duy trì động lực
làm việc như điều kiện làm việc, phân phối thu nhập, chính sách, các quy định của
doanh nghiệp và chính sách nhân sự. Ngoài ra tác giả còn đưa ra nhóm các yếu tố tạo
động lực làm việc như tính chất đặc điểm công việc, sự công nhận, trách nhiệm, cơ
hội. Tác giả phân tích thực trạng tạo động lực làm việc theo nội dung thuyết kỳ vọng
của Victor Vroom với các hính thức động viên khuyến khích trong công việc và khen
thưởng kỷ luật.
Tác giả Đỗ Thị Thu với đề tài luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện công tác tạo động
lực tại công ty TNHH Cửa sổ Châu Âu Euro Window”, Đại học Kinh tế Quốc Dân
năm 2008.
Trong đề tài này, luận văn đã hệ thống hóa lý thuyết về tạo động lực trong doanh
nghiệp. Ở chương II, tác giả phân tích thực trạng công tác tạo động lực tại công ty
Euro Window, và chương giải pháp tác giả cũng đề xuất một số giải pháp phù hợp
giúp công ty cải thiện tình hình thực tế, nâng cao sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Các chương trình nghiên cứu ở trong nước cũng như ở nước ngoài đã nêu khá rõ
về công tác tạo động lực. Ở bất kỳ lĩnh vực nào thì tạo động lực lao động luôn là yếu
tố được doanh nghiệp hết sức coi trọng. Có thể tạo động lực ở cấp nhân viên, cấp quản
người lao động. Tác giả cũng đi sâu về vấn đề tạo động lực trong sản xuất nói chung
và Công ty Goshi – Thăng Long nói riêng, từ đó có thể hiểu được sản xuất luôn là
ngành thu hút nhân lực nhiều, được coi là ngành ổn định có chế độ đãi ngộ tốt.
5
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN
VIÊN QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP
2.1 Lý luận về động lực và công tác tạo động lực trong doanh nghiệp
2.1.1 Lý luận về động lực
2.1.1.1 Khái niệm động lực
Những hoạt động của con người đều là những hoạt động có mục đích, vậy những
nhân tố ảnh hướng đến mục đích của họ là động lực làm việc. Các nhà quản trị nhân sự
trong doanh nghiệp coi động lực làm việc là nội dung quan trọng vì động lực làm việc
thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngược nhau đó là tích cực và tiêu cực. Người lao
động có động lực tích cực thì sẽ có tâm lý làm việc tốt, lành mạnh đồng thời góp phần
làm cho doanh nghiệp ngày càng trở nên phát triển, bền vững hơn. Thực tế có rất nhiều
cách giải thích về động lực thúc đẩy con người làm việc. Do đó có rất nhiều khái niệm
về động lực:
“Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường
nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.”
(Th.s Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyên Ngọc Quân, Giáo trình Quản trị
nhân lực,NXB Văn hóa Thông tin, năm 2006, trang 18).
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người
nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của
động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
cũng như của bản thân người lao động.”
(PGS.TS Bùi Anh Tuấn và PGS.TS Phạm Thúy Hương, Giáo trình hành vi tổ
chức,NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2011, trang 85).
Vậy nên rất nhiều khi chúng ta nhầm lẫn giữa hai khái niệm này vì vậy cần phải nắm
rõ những điểm tương đồng và khác biệt để nhận thức sâu sắc hơn về động lực lao
động.
Theo bài giảng của PGS.TS Trần Xuân Cầu thì giữa động lực làm việc với động
cơ có những điểm tương đồng và cũng có những điểm khác nhau như sau:
Giống nhau:
Động cơ và động lực lao động mang tính trìu tượng, đều là những cái không thể
nhìn thấy được, không thể đo lường được mà chỉ thông qua quan sát hành vi, thái độ
làm việc của người lao động rồi phỏng đoán.
Đều chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân người lao động.
Không ai có thể điều khiển theo ý muốn được mà chỉ có thể tác động một cách nhất
định và từ đó bản thân người lao động sẽ ý thức được và thay đổi.
Khác nhau:
Động cơ lao động chịu sự tác động lớn từ phía bản thân người lao động, gia đình
của họ và môi trường xã hội xung quanh. Còn động lực lao động chịu sự tác động từ
phía bản thân người lao động và môi trường tổ chức nơi họ làm việc và những chính
sách liên quan đến bản thân họ.
Động cơ lao động là sự phong phú, đa dạng; có thể có nhiều động cơ tồn tại cùng
một lúc trong họ. Động lực lao động là sự biến đổi về mức độ cao hay thấp, có hay
không.
7
Động cơ là cần đến sức mạnh, năng lượng hay tác động ngoại vi trong khi
động lực tồn tại từ bên trong, do sức mạnh hay năng lượng bên trong của người lao
động tạo ra mà không cần đến yếu tố ngoại vi.
Động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: Vì sao người lao động lại làm việc. Còn
động lực lao động lại trả lời cho câu hỏi: Vì sao mà người lao động làm việc trong tổ
chức có hiệu quả như vậy. Cũng chính vì lẽ này, động cơ là cụ thể, còn động lực là
Thang Long University Library
“Tạo động lực là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức
quản lý tác động đến người lao động, nhằm làm cho người lao động có động lực trong
công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn, nỗ lực hết sức mình
để đóng góp cho doanh nghiệp.”
(Theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn – Giáo trình Hành vi tổ chức)
Mục tiêu của nhà quản trị luôn muốn doanh nghiệp của mình ngày càng phát
triển hơn nữa do đó nhiệm vụ của họ là tạo động lực cho đội ngũ nhân viên của mình
thông qua những chính sách; khen thưởng bằng vật chất, tinh thần áp dụng hiệu quả
đối với các nhân viên từ đó phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
2.1.2.2 Vai trò của tạo động lực trong doanh nghiệp
Vai trò của lao động quản lý
Lao động quản lý không trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ nhưng lại có vai trò
quyết định tới mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua việc lập kế
hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp. Các chức
năng quản lý có được thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc vào chính bản thân
người thực hiện các chức năng đó.
Hoạt động sản xuất kinh doanh càng phát triển, sự cạnh tranh càng gay gắt thì vai
trò quan trọng của người quản lý càng tăng. Nhưng mức độ thể hiện vai trò khác nhau
là tùy thuộc vị trí công việc mà họ đảm nhận trong doanh nghiệp. Ở cấp lãnh đạo
doanh nghiệp, nhiệm vụ của họ mang tính chiến lược, đòi hỏi phải có khả năng nhìn xa
trông rộng, biết phân tích tình hình, biết cách giành lấy cơ hội để xây dựng các chiến
lược kinh doanh phù hợp giúp doanh nghiệp có thể thích ứng với sự biến động của môi
trường kinh doanh nhằm khẳng định vị thế trên thương trường. Cấp quản lý trung gian
có nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động của một hoặc nhiều bộ phận thông qua việc lập kế
hoạch, phân bổ các nguồn lực, phối hợp các hoạt động và quản lý kết quả của cả
nhóm. Nhà quản lý các cấp cần thiết lập và duy trì được các mối quan hệ với mọi
người trong doanh nghiệp để có được sự hợp tác nhịp nhàng trong các hoạt động của
thỏa mãn và tự nguyện thực hiện công việc.
Tăng năng suất lao động cá nhân, người quản lý có động lực sẽ đem hết tâm
huyết và khả năng của mình cống hiến cho công ty, khi năng suất lao động tăng lên thì
tiền lương, thu nhập của họ cũng tăng lên.
Khi có động lực người quản lý sẽ có một bầu nhiệt huyết cho công việc, hăng say
với công việc từ đó tăng sự găn bó công việc và với công ty.
Người quản lý đạt được thành tích cao được toàn thể công ty tôn trọng họ sẽ cảm
thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích nên họ sẽ không
ngừng hoàn thiên bản thân.
Đối với xã hội
Các thành viên trong xã hội được phát triển toàn diện, có được cuộc sống hạnh
phúc hơn khi mà các nhu cầu của họ được thỏa mãn.
Động lực giúp người lao động thôi thúc bản thân hoàn thành mục tiêu của mình
gặt hái được nhiều thành quả từ đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội, làm
cho xã hội ngày càng phát triển.
10
Thang Long University Library
Từ đó động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa
trên những thành công của người lao động và sự phát triển của các tổ chức kinh doanh.
Tóm lại: Để có động lực làm việc thì phải xuất hiện nhu cầu, khi nhu cầu xuất
hiện sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy người lao động làm việc. Động cơ lao động là lý do để
họ tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là mức độ hưng phấn của
người lao động khi tham gia làm việc. Động cơ vừa có thể tạo ra một động lực mạnh
mẽ cho người lao động và cũng có thể ngược lại. Vì vậy nghiên cứu đánh giá về động
lực làm việc của người lao động bản chất là đi nghiên cứu động cơ làm việc của người
lao động và chỉ ra nhóm những động cơ nào tác động tích cực, tiêu cực tới động lực
lương, thưởng, chính sách, cơ chế của doanh nghiệp, cơ hội làm thăng tiến được người
lao động quan tâm hơn.
Hiện nay Việt Nam đã đồng thời tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập khu
vực và quốc tế thông qua nỗ lực xây dựng Cộng đồng Asean và đàm pháp các hiệp
định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới với các đối tác quan trọng như EU, Hàn
Quốc, Liên minh kinh tế Á – Âu, Hiệp định TPP…Cho thấy nền kinh tế Việt Nam
ngày càng mở cửa sẽ thu hút rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài về Việt Nam đầu tư.
Vậy các doanh nghiệp sẽ cần nguồn lao động lớn hơn hết họ cần những nhân viên
quản lý giỏi đã có kinh nghiệm từ đó sẽ có sự cạnh tranh lớn về nguồn nhân lực vì vậy
11
cần có những nghiên cứu về các yếu tố cơ bản tạo động lực của người lao động để giữ
chân người lao động.
2.2 Một số lý thuyết tạo động lực
Nhóm này gồm có các học thuyết về nhu cầu của Maslow, Frederichk Herzberg,
McClelland, Victor Vroom, Stacy Adams.
Điểm tường đồng là các học thuyết này đều cho rằng động lực là nguồn lực tạo ra
từ sự khao khát của cá nhân để thỏa mãn về nhu cầu tâm sinh lý của họ. Tất cả các học
thuyết đều có kết luận chung là việc tăng cường động lực đối với người lao động sẽ
dẫn đến nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức. Sau đây là
một số học thuyết cơ bản về tạo động lực cho người lao động.
2.2.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow (1943)
Vào năm 1943, nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm
về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau.
Học thuyết của ông được dựa trên những con người khỏe mạnh, sáng tạo, những người
sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc. Vào thời điểm đó,
phương pháo này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý của con người khác
được dựa trên việc quan sát cn người bị chi phối bời các phiền muộn là chủ yếu.
Theo quan điểm của Maslow con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu.
an toàn đối với bản thân. Người lao động muốn làm việc trong môi trường an toàn, có
người lãnh đạo quan tâm đến an toàn và bảo hộ lao động, bảo vệ họ khỏi những điều
bất trắc, muốn có sự ổn định về việc làm, không muốn bị sa thải vì lý do không chính
đáng. Như vậy, tổ chức cần mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
và bảo hiểm tai nạn,... cho nhân viên của mình.
Nhu cầu xã hội là nhu cầu muốn được giao lưu để thể hiện hay chấp nhận tình
cảm, sự hợp tác với người xung quanh. Những hoạt động ăn trưa trong nhà ăn tập thể,
cùng tham quan, giao lưu văn hóa, chơi thể thao, học tập…giúp người lao động có cơ
hội tiếp xúc, giao lưu một cách cởi mở để thân thiện với nhau trong cuộc sống và hợp
tác trong công việc, phát triển tinh thần làm việc theo nhóm. Bởi vậy, doanh nghiệp
cần khuyến khích sự giao lưu, thành lập các câu lạc bộ ngoài giờ ngay trong tổ chức.
Nhu cầu được tôn trọng là mong muốn có địa vị, được người khác công nhận,
tôn trọng cũng như tự tôn trọng bản thân. Tại nơi làm việc, người lao động được thăng
tiến, được trao tặng những vật có giá trị, có phòng làm việc tiện nghi, phần thưởng
13
xứng đáng cho thành tích có thể đáp ứng được nhu cầu này vì nó thể hiện sự thừa nhận
thành tích của doanh nghiệp đối vơi những đóng góp của họ theo thời gian.
Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất thể hiện qua việc vận dụng và phát triển
các khả năng cá nhân trong công việc. Họ muốn được đảm nhận các công việc đòi hỏi
sự sáng tạo có tính thách thức, vươn lên để đạt được các thành tích mới nhằm khẳng
định bản thân. Do vậy, tổ chức cần tạo môi trường thuận lợi, tăng tính tự quản để
người lao động có thể phát huy sáng kiến để đạt được thành tích, kỷ lục mới.
Ưu điểm:
Học thuyết này cung cấp mô hình thuận tiện cho việc xem xét những nhu cầu và
mong đợi khác nhau của nhân viên. Maslow đã chỉ ra rằng, để tạo động lực cho người
lao động thì cần xác định được người lao động đang ở bậc nhu cầu nào, mức độ nhu
cầu đó như thế nào.
động lực, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất.
2.2.2 Học thuyết hai nhóm yếu tố của Frederichk Herzberg
Năm 1959, Frederichk Herzberg và các đồng nghiệp của mình, sau khi thực hiện
các cuộc phỏng vấn với hơn 200 người kỹ sư và kế toán của ngành công nghiệp khác
nhau và đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích. Ông đặt các loại nhân tố đã ảnh hưởng đến
người lao động như: khi nào thì có tác dụng động viên họ làm việc và khi nào thì có
tác dụng ngược lại. Bằng kinh nghiệm chuyên môn, ông chia các nhu cầu của con
người theo hai loại độc lập và ảnh hướng tới hành vi con người theo những cách khác
nhau: khi con người cảm thấy không thỏa mãn với công việc của mình thì họ rất lo
lắng về môi trường họ đang làm việc, còn họ cảm thấy hài lòng về công việc thì họ rất
quan tâm đến công việc của mình. Ông đã phân thành hai nhóm yếu tố liên quan đến
tạo động lực cho người lao động. Trong đó:
Nhóm thứ nhất, bao gồm các yếu tố thuộc về "môi trường" như:
Các chính sách và chế độ quản trị của công ty
Sự giám sát công việc
Tiền lương
Các quan hệ con người
Các điều kiện làm việc
Theo Herzberg, nhóm yếu tố "môi trường" có tác dụng duy trì trạng thái tinh thần
tốt, ngăn ngừa sự bất mãn trong công việc, nhưng không làm họ thực hiện công việc
tốt hơn. Mọi người lao động muốn doanh nghiệp có những chính sách nhân sự đúng
đắn và thực hiện chúng nhất quán, công bằng, điều kiện làm việc được đảm bảo và
được nhận mức lương tương xứng với công sức bỏ ra. Họ xem việc thỏa mãn các yếu
tố đó là điều tất nhiên, trái lại sẽ làm họ trở lên bất mãn và dẫn tới giảm kết quả thực
hiện công việc.
Nhóm thứ hai, bao gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thỏa mãn
trong công việc như:
Sự thành đạt
Sự thừa nhận thành tích
Bản chất bên trong của công việc
Học thuyết có một số hạn chế về phương pháp luận, khi công việc được thực hiện
nhanh chóng, thuận lợi thì những người trả lời thường quy các yếu tố này do chính bản
thân họ nếu không họ sẽ đổ lỗi về sự thất bại cho môi trường bên ngoài. Ông đã đưa ra
giải thuyết về một mối quan hệ giữa sự thỏa mãn và năng suất, nhưng phương pháp
luận nghiên cứu mà ông sử dụng lại chỉ xem xét đến sự thỏa mãn công việc chứ không
xem xét đến năng suất.
Ứng dụng trong quản lý:
Học thuyết này giúp cho các nhà quản trị biết được các yếu tố gây ra sự bất mãn
cho nhân viên và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tố này. Tuy nhiên khi các nhân tố
gây bất mãn được loại bỏ thì cũng không có nghĩa là nhân viên sẽ hài lòng. Nếu muốn
16
Thang Long University Library
động viên nhân viên, làm cho họ hài lòng trong công việc thì người quản trị cần chú
trọng đến những yếu tố như sự thành đạt, sự thừa nhận và giao việc.
Những ứng dụng của mô hình hai yếu tố vào quản lý là rất quan trọng. Tuy nhiên
các nhà quản trị cần áp dụng đồng bộ cả hai yếu tố, bởi các yếu tố duy trì không thể
giải quyết những vấn đề như nạn vắng mặt, bỏ việc, sự bất bình hay năng suất thấp.
Tuy có một số điểm hạn chế nhưng nhiều nhà quản trị đã chấp nhận học thuyết và học
thuyết càng ngày càng được phổ biến rộng rãi.
2.2.3 Học thuyết về sự kỳ vọng của Victor Vroom (1964)
Năm 1964, thuyết kỳ vọng của giáo sư, tiến sĩ khoa học Trường Đại học
Michigan (Hoa Kỳ) đưa ra một lý thuyết tạo động cơ làm việc trong tổ chức, bổ sung
cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow. Khác với Maslow, Vroom không tập trung
nhiều vào nghiên cứu nhu cầu mà chủ yếu tập trung vào nghiên cứu kết quả. Maslow
nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa nhu cầu nội tại và những nỗ lực nhằm thỏa mãn
nhu cầu, còn Vroom lại nghiên cứu tách biệt giũa sự nỗ lực, hành động và kết quả.
Ông cho rằng, mỗi cá nhân trong tổ chức sẽ hành động theo một cách nhất định dựa
Hóa trị
I
V
E
Vroom đã đưa ra công thức để xác định động lực cá nhân:
17
M=E×I×V
Trong đó:
M: Động lực làm việc (Motivation).
E: Kỳ vọng (Expectancy) Là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt.
I: Tính chất công cụ (Instrumentality): Là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến
phần thưởng xứng đáng. Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa hành
động và phần thưởng.
V: Hóa trị (Valence) là phản ánh mức độ quan trọng của phần thưởng đối với
người thực hiện công việc. Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa phần
thưởng và mục tiêu cá nhân.
Vroom cho rằng người lao động chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả
ba khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực. Nói cách khác là khi họ tin rằng nỗ
lực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó dẫn đến phần thưởng xứng đáng và
phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ.
Lý thuyết kỳ vọng được xây dựng dựa trên sự nhận thức của người lao động, nên
có khả năng xảy ra trường hợp là cùng làm ở một công ty với cùng một vị trí như nhau
nhưng có động lực làm việc không giống nhau.
Ưu điểm:
Các quyền lợi cá nhân
Đóng góp của cá nhân
>=
thể là cho họ tham gia vào quá trình quản lý của tổ chức, cử đại diện của mình tham
gia vào nhóm ra quyết định trong công ty hay tham gia vào quá trình quản lý chất
lượng, chia cổ phiếu cho nhân viên.
Thực tế những cá nhân có nhu cầu về thành tích cao sẽ thành công trong các hoạt
động doanh nghiệp. Nhưng có nhu cầu thành tích cao không nhất thiết sẽ trở thành một
nhà quản lý tốt, đặc biệt trong các tổ chức lớn. Người quản lý làm việc tốt nhất khi có
nhu cầu về quyền lực cao và nhu cầu liên minh thấp. Hơn nữa nhu cầu thành tích có
thể được khuyến khích phát triển thông qua đào tạo. Do đó, tổ chức có thể tổ chức các
chương trình đào tạo để phát huy thế mạnh của các nhu cầu này.
Đánh giá tổng quan các học thuyết tạo động lực
20
Thang Long University Library
Trên đây tác giả đã trình bày một số học thuyết cơ bản về tạo động lực cho người
lao động, ta thấy mặc dù không phải học thuyết nào cũng đúng hoàn toàn mỗi học
thuyết đều có những ưu nhược điểm riêng của nó nhưng tất cả cũng cho thấy một cái
nhìn tổng quan. Ứng dụng của các học thuyết này thực tế đã được các nhà quản trị
doanh nghiệp trên thế giới tham khảo và áp dụng linh hoạt, có hiệu quả. Có thể hiểu
hơn về sự thỏa mãn trong công việc và sự thực hiện công việc, nó làm tăng tầm quan
trọng, lợi ích của bản thiết kế công việc. Bản chất của thiết kế lại công việc của tổ
chức và cấu trúc công việc có thể có ảnh hưởng cụ thể tới thái độ và sự thỏa mãn của
nhân viên và mức độ thực hiện công việc. Hơn nữa các học thuyết chỉ ra các yếu tố gợi
ý cho tạo động lực cho người lao động.
Tiền lương, thưởng hay thu nhập mà người lao động nhận được.
Các chính sách, cơ chế làm việc của doanh nghiệp .
Môi trường làm việc, điều kiện làm việc và mối quan hệ đồng nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp.
2.3 Các yếu tố ảnh hƣởng tới động lực làm việc của nhân viên quản lý trong
định, thực hiện quyết định và nhìn nhận về các yếu tố tạo động lực lao động. Sự khác
biệt về văn hóa dân tộc dẫn tới nhu cầu cá nhân khác nhau, mà nhu cầu lại định hướng
các hành vi của họ trong công việc. Bởi vậy cần nhìn nhận tới khía cạnh của văn hóa
dân tộc trong việc xây dựng các chính xác quản lý nhằm đề cao vai trò của các thành
viên khi xu hướng đa dạng hóa nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức xuất hiện cùng với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật pháp, chính sách cơ chế của chính phủ
Luật pháp của chính phủ chính là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích của nhà nước. Luật pháp đảm bảo cho sự
bình đẳng của mọi cá nhân trên thị trường lao động, ngăn cấm sự phân biệt đối xử
trong sử dụng lao động. Hệ thống luật pháp càng tốt thể hiện sự vững mạnh của nền
hành chính quốc gia, sự ổn định về chính trị và người dân được sống trong yên bình.
Cùng với xu hướng phát triển thì hệ thống luật pháp ở Việt Nam ngày càng được hoàn
thiện, góp phần làm cho môi trường làm việc trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư,
tạo thêm cơ hội làm việc cho người lao động, kèm theo đó là các quyền lợi của người
lao động cũng ngày càng được đảm bảo hơn.
2.3.2 Các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp
Mục tiêu của doanh nghiệp
Mục tiêu kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nhà đầu tư nào.
Nhưng không phải lúc nào các nhà lãnh đạo cũng xác định chính xác và đặt ra những
mục tiêu khả thi cho doanh nghiệp của mình và không phải ai cũng hiểu được tầm
quan trọng của mục tiêu trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, mục tiêu đặt
ra cũng phải linh hoạt theo tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và những biến động
của thị trường.
Mục tiêu của doanh nghiệp là hệ thống những giá trị mà doanh nghiệp đặt ra
trong một khoảng thời gian xác định nhằm hướng các thành viên trong doanh nghiệp
nỗ lực làm việc để đạt mục tiêu đó.
22
Thang Long University Library
tương lai. Điều kiện lao động đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công việc
diễn ra suôn sẻ, đảm bảo duy trì khả năng làm việc và sức khỏe của người lao động.
Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
phát triển của người quản lý cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp. Tuy cải thiện điều kiện làm việc có chi phí lớn nhưng bù lại đem lại
một lợi nhuận khổng lồ cho doanh nghiệp. Các nhân viên làm việc trong môi trường
thoải mái tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành công việc đúng thời gian
kế hoạch đã dề ra và phát triển khả năng sáng tạo cho họ. Với một mức lương bình
23
thường nhưng lại có môi trường làm việc tốt có thể thu hút được rất nhiều nhà quản lý
giỏi. Vì vậy các doanh nghiệp cần sắp xếp một cách khoa học, thiết kế nơi làm việc có
tính thẩm mỹ, âm thanh, ánh sáng sẽ giúp người lao động cảm thấy thoải mái hơn khi
làm việc từ đó nâng cao hiệu quả công việc.
Phong cách lãnh đạo
Có ba loại phong cách lãnh đạo cơ bản: phong cách lãnh đạo độc đoán, phong
cách lãnh đạo dân chủ và phong cách lãnh đạo tự do. Mỗi phong cách lãnh đạo có
những ưu, nhược điểm riêng không thể xác định một phong cách lãnh đạo duy nhất
cho mọi tình huống. Người lãnh đạo cần xác định cho mình một phong cách lãnh đạo
phù hợp nhất để dẫn dắt và thúc đẩy nhân viên dưới quyền nhưng không nên quá cứng
nhắc trong một phong cách lãnh đạo cho mọi tình huống có lúc cần sự linh hoạt để xử
lý tình huống. Đôi khi những người lãnh đạo là tấm gương để cấp dưới noi theo. Họ
cần đưa ra các chỉ dẫn rõ ràng, phân chia trách nhiệm cụ thể, thưởng phạt nghiêm
minh. Nhà lãnh đạo cần sẵn sàng tiếp nhận ý kiến của cấp dưới, hiểu cấp dưới muốn
gì. Từ đó, các quyết định đưa ra sẽ được cấp dưới sẵn sàng chấp nhận, họ sẽ có động
lực lao động và điều đó cũng chính là động lực thúc đẩy người lãnh đạo phát triển
trong công việc.
Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các niềm tin, các giá trị được chia sẻ và
người có năng lực và thành tích tốt; khuyến khích nhân viên làm việc hết khả năng và
trung thành khi họ thấy rõ sự công bằng.
Chính sách tiền lương, thưởng và các chế độ đãi ngộ khác
Chính sách tiền lương là hệ thống các quy định của doanh nghiệp về tiền lương
cũng như các quy chế trả lương đối với những người lao động trong doanh nghiệp.
Tiền lương của người lao động tại doanh nghiệp cao hay thấp phần lớn phụ thuộc
vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp đó. Nói cách khác, chính sách tiền lương
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động.
Đối với hầu hết người lao động, tiền lương sẽ giúp họ trang trải cuộc sống, lo cho
gia đình và tiếp tục học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ,…Vì vậy, có thể nói
chính sách tiền lương của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến hiệu quả
làm việc, tiền lương cao sẽ tác động trực tiếp đến tâm lý người lao động, giúp họ nỗ
lực hết mình vì công việc để mang lại hiệu quả cao.
Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả một lần để thù lao
cho sự thực hiện công việc của người lao động. Tiền thưởng cũng có thể được chi trả
đột xuất để ghi nhận những thành tích xuất sắc như hoàn thành dự án công việc trước
thời hạn, tiết kiệm ngân sách hoặc cho các sáng kiến cải tiến có giá trị.
Ngoài chính sách về tiền lương, tiền thưởng, các chế độ đãi ngộ khác cũng có tác
động không nhỏ đến tinh thần của người lao động. Các hoạt động thể thao, du lịch,
thăm hỏi lúc ốm đau, quà tặng sinh nhật, cưới hỏi, tập huấn, đào tạo sẽ luôn có tác
dụng rất lớn trong việc động viên, khuyến khích người lao động, giúp họ gần gũi và
hiểu nhau hơn, đồng thời tạo cho họ sự hứng thú, thoải mái để làm việc hăng say hơn.
Có thể nói đây là một công cụ rất hữu hiệu và cần thiết mà những nhà quản trị hay sử
dụng trong công tác quản trị nhân sự và tạo động lực lao động.
2.3.3 Các yếu tố từ bản thân người lao động
Mục tiêu cá nhân:
25