II. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân
tộc
Chủ nghĩa Mac – Lê Nin vạch rõ con đường và phương pháp để đấu
tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vấn đề
này đã được các nhà kinh điển của giai cấp vô sản nghiên cứu và chỉ ra từ rất
sớm. Ở thời đại của mình, Mac đã nghiên cứu và chỉ ra sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân là lãnh đạo cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ
nghĩa, xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa , đồng thời, trong Tuyên ngôn Đảng
cộng sản 1848, vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con
người cũng đã được đề cập sâu sắc : “ sự phát triển tự do của mỗi người là
điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Tuy nhiên, do điều
kiện lịch sử và nơi sống của các ông là các nước Tư bản ở Tây Âu, mâu thuẫn
sâu sắc nhất là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, đồng thời,
vấn đề dân tộc ở các quốc gia này cũng đã được giải quyết gần xong ngay ở
trong các cuộc cách mạng tư sản trước đó, do đó, cả Mac và Ăngghen đều
nhấn mạnh vấn đề giai cấp và cho rằng đó là điều kiện để tiến tới giải phóng
dân tộc.
Tới thời đại của Lê Nin, khi đó chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa và phát triển thành một hệ thống. Lê Nin đã tiếp tục
kế tục và phát triển sự nghiệp của Mác, Ăngghen nhưng trong công cuộc cách
mạng, Lênin vẫn cho rằng, trước hết phải giải phóng giai cấp, rồi mới tới giải
phóng dân tộc và sau cùng là tiến lên giải phóng con người.
Hồ Chí Minh – với gần mười năm tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn
trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở
nhiều nước thuộc địa, cùng với sự tìm hiểu và nghiên cứu kĩ về chủ nghĩa Mác
– Lê nin đã vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người vào điều kiện
thực tiễn của các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Hồ Chí Minh nhận thấy điều kiện kinh tế- xã hội ở các nước thuộc địa
cách mạng trên thế giới.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước ở nước ta diễn
ra vô cùng sôi nổi và mạnh mẽ, với hai hệ tư tưởng chính :
Đi theo con đường cứu nước với hệ tư tưởng phong kiến là phong
trào Cần Vương ( 1885-1896 ) và phong trào nông dân Yên Thế ( 1883
-1913)
Đi theo con đường cứu nước với hệ tư tưởng dân chủ tư sản có
phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan
Châu Trinh, và phong trào đấu tranh của Việt Nam Quốc dân đảng với
đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Yên Bái…
Tuy nhiên, các phong trào này đều thất bại và bị đàn áp dã mãn.
Hồ Chí Minh nhận thấy con đường cứu nước của Phan Bội Châu là dựa
vào Nhật thì không khác gì “ đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau” vì bản
chất của Nhật cũng là một nước đế quốc. Con đường cứu nước của Phan
Châu Trinh là “ ỷ Pháp tự cường” thì không khác gì “ cầu xin giặc rủ lòng
thương”, phong trào nông dân Yên Thế tuy thực tế hơn nhưng vẫn mang
nặng cốt cách phong kiến.Trong điều kiện lịch sử mới, khi mà chủ nghĩa đế
quốc đã thành một hệ thống thì các hệ tư tưởng đó đã trở nên lỗi thời,
không còn khả năng chỉ ra đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn
cho toàn dân tộc.Do vậy, dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc
tiền bối nhưng Hồ Chí Minh không tán thành con đường của họ và quyết
tâm ra đi tìm đường cứu nước mới.
Ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Sau hơn
10 năm bôn ba ở nước ngoài Người nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế
quốc, đồng thời thấy được tính không triệt để của các cuộc cách mạng tư
sản : các cuộc cách mạng tư sản sau sau khi lật đổ được sự thống trị của
phong kiến thì vẫn không tiếp tục giải phóng con người, bình đẳng quyền
lợi giai cấp, quyền lực xã hội vẫn chỉ tập trung vào giai cấp tư sản và nhân
qua đội quân tiên phong là Đảng cộng sản, thực hiện sứ mệnh lịch sử của
mình là lãnh đạo quần chúng tiến hành cách mạng vô sản, xóa bỏ tư bản tiến
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nguyễn Ái Quốc tiếp thu quan điểm đó, đồng
thời đúc rút từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người nhận thấy một trong
những nguyên nhân khiến phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
thất bại là do không có một tổ chức lãnh đạo với tư tưởng tiên tiến soi
đường. Bên cạnh đó, Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới hơn 90% dân
số là nông dân, họ cũng có lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ,
nhưng tại sao giai cấp nông dân không thể trở thành lực lượng lãnh đạo
cách mạng ? Nguyên nhân chính cũng là do họ không có tổ chức lãnh đạo và
không có hệ tư tưởng riêng của mình. Từ những điều đó, Nguyễn Ái Quốc đã
khẳng định con thuyền cách mạng Việt Nam phải do Đảng cộng sản- đội quân
tiên phong của giai cấp công nhân, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lê
Nin chèo lái. Để phát huy vai trò của mình trong cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc, Đảng cộng sản phải thực hiện được những nhiệm vụ nhất định. Đó là
:
Đảng Cộng sản Việt Nam phải vận dụng sáng tạo để chuyển hóa
đường lối và phương pháo đấu tranh của cách mạng vô sản vào thực tiễn
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta.Đồng thời phải tập hợp, quy tụ
được lực lượng và gắn kết chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế
giới.Như chúng ta đã biết, mâu thuẫn nổi bật nhất ở các nước thuộc địa,
trong đó có Việt Nam chính là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc bị áo bức,
bóc lột với chủ nghĩa đế quốc, do vậy, cuộc cách mạng ở thuộc địa là cách
mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh xác định cách mạng nước ta đi theo
con đường cách mạng vô sản, nhưng do tính chất đặc trưng của các nước
thuộc địa sai khác với tình hình của các nước tư bản phương Tây, do vậy khi
Trước khi Đảng ra đời, phong trào đấu tranh của nước ta bị bế tắc về tổ chức
lãnh đạo, các cuộc đấu tranh tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng chủ yếu là tự phát.
Đảng ra đời đã đánh dấu sự chuyển mình hoàn toàn sang đấu tranh tự giác
của phong trào cách mạng Việt Nam, đồng thời đánh dấu kết thúc thời kì
khủng hoảng về tổ chức cách mạng. Từ khi Đảng ra đời, đã lãnh đạo toàn thể
nhân dân đấu tranh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng
tháng Tám thành công là mình chứng lịch sự rõ nét nhất, khẳng định con
thuyền cách mạng Việt Nam dưới sự chèo lái của Đảng cộng sản cập bến vinh
quang.
3.
Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết
của toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông
Một trong những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải
phóng dân tộc, đó là lực lượng của công cuộc này chính là toàn dân, trên cơ
sở liên minh công nông. Chủ nghĩa Mác- Lê nin trong lí luận của mình, đã chỉ
rõ : quần chúng nhân dân là người sáng tạo lịch sử, cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng. Về
thực tiễn : Dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, nhân dân ta vốn đã
khổ cực nay càng rơi vào cảnh khốn cùng. Giai cấp công nhân và giai cấp
nông dân là hai giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Giai cấp tư sản dân
tộc, một bộ phận địa chủ và tầng lớp tiểu tư sản cũng phải chịu chung kiếp nô
lệ. Chính vì vậy, trong lòng họ cũng có tinh thần yêu nước, cũng có khát khao
được giải phóng dân tộc. Nhận thấy được điểm tương đồng giữa các giai cấp,
tầng lớp trong xã hội Việt Nam, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã khẳng định cách
mạng giải phóng dân tộc “ là việc chung của quần chúng nhân dân chứ không
phải việc của một hai người”. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của nhân
dân trong khởi nghĩa vũ trang, người coi sức mạnh và năng lực sáng tạo vô
tận của quần chúng là then chốt đảm bảo thắng lợi : “ Dân khí mạng thì quân
Trong khi đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng cần phải cân bằng và
điều hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung của dân tộc và lợi ích riêng của mỗi
thành phần tham gia. Tuy nhiên Hồ Chí Minh cũng quan triệt quan điểm : “
Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng
một lợi ích gì của công nông mà đi vào thỏa hiệp”.
Thực tiễn đã chứng minh, quan điểm của Hồ Chí Minh luôn được vận
dụng trong cách mạng của Việt Nam : tương ứng với mỗi thời kì, mỗi giai
đoạn cách mạng của dân tộc, Đảng luôn lãnh đạo và tổ chức ra mặt trận với
những tên gọi phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong thời kì đó. Trong “ Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Hồ Chí Minh cũng viết “ …Bất kì đàn ông, đàn
bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là
người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu nước”. Trong “
Chỉ thị thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”, Người cũng viết “
Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên, vũ
trang toàn dân”. Chính việc nhất quán trong thực hiện tư tưởng về đoàn kết
giai cấp, cách mạng nước ta đã có được sức mạnh tổng thể của toàn dân, đó
trở thành động lực quan trọng đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi cuối
cùng.
4.Cách mạng giải phóng dân tộc cần tiến hành chủ động, sáng
tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc
Đây là quan điểm mới mẻ và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Là sự cống
hiến quan trọng bổ sung vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và
cách mạng vô sản thế giới.
Trong phong trào cộng sản quốc tế, quan điểm cũ của Quốc tế cộng
sản luôn là “Chỉ có thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa
khi giai cấp vô sản đã giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”.
Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, Quốc tế cộng sản
Quốc tế Cộng sản ( tháng 6 năm 1924) : “ …Nọc độc và sức sống của con rắn
độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa”, và nếu không đánh giá
đúng vai trò của cách mạng thuộc địa, xem nhẹ, khinh thường cách mạng
thuộc địa là “ muốn đánh chết rắn đằng đuôi”. Có thể thấy, thuộc địa vừa là
nơi cung cấp tài lực cho đế quốc, vừa là nơi tiêu thụ hàng hóa chính quốc, bởi
vậy nó như là động mạch lớn, cung cấp máu cho hoạt động của đế quốc, đó là
nơi đế quốc khai thác làm giàu, đồng thời cũng là yếu huyệt trí mạng của
chính quốc.
Năm 1919, Hồ Chí Minh dưới tên Nguyễn Ái Quốc gửi “ Bản yêu sách
tám điểm” của nhân dân An Nam đến Hội nghị Véc xai. Bản yêu sách không
được các nước đế quốc đếm xỉa đến, từ đó Người đã nhìn thấy rõ hơn bộ mặt
thật của chủ nghĩa đế quốc và rút ra kết luận : muốn giải phóng dân tộc, thì
chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của chính mình. Cách mạng thuộc địa phải
huy động được lực lượng của toàn dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản, cuộc cách mạng là để đánh đổ đế quốc, giành độc lập cho dân tộc,
sau đó là giải quyết vấn đề lợi ích giai cấp. Nhận thức được tầm quan trọng
của thuộc địa, đánh giá đúng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ngay từ rất
sớm, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “ cách mạng thuộc địa không những
không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà còn có thể giành
thắng lợi trước”. Sau khi dựa vào sức mình và tranh thủ sự ủng hộ của quốc
tế, tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, các nước thuộc
địa sẽ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và từ đó sẽ có những đóng góp thiết
thực cho phong trào vô sản quốc tế. Khi cách mạng ở thuộc địa thành công
cũng là lúc chủ nghĩa đế quốc bị thương nặng và suy yếu, lúc đó cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc sẽ thuận lợi hơn.
Thực tiễn cách mạng của nhiều nước thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam
đã chứng minh quan điểm mới của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân
tộc là hoàn toàn đúng đắn. Năm 1945, giai cấp vô sản ở Pháp chưa đấu tranh
và hòa bình, Người luôn tranh thủ giải quyết mọi việc bằng biện pháp hòa
bình, khi không còn lựa chọn nào khác thì mới dùng phương án bạo lực. Như
trong “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Người viết “ Chúng ta muốn hòa
bình, chũng ta phải nhân nhượng…” nhưng nếu bọn thực dân không chịu từ
bỏ, vẫn tiếp tục bóc lột nhân dân ta, thì sẽ dùng phương pháp bạo lực để dập
tắt ý chí của chúng. Phương pháp bạo lực cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí
Minh đòi hỏi phải huy động lực lượng toàn dân, tiến hành cuộc chiến tranh
nhân dân trên cả ba mặt : chính trị, quân sự, binh vận …Và cuộc tổng khởi
nghĩa phải được chuẩn bị kĩ càng, phải có tính chất của một cuộc khởi nghĩa
quần chúng, phải có sự tương thích với cuộc cách mạng vô sản ở Pháp và
phải gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng thế giới.
Thực tế lịch sử nước ta, trong suốt chiều dài lịch sử của con đường
đấu tranh giành độc lập, đấu tranh cho thống nhất nước nhà đã chứng minh,
việc dùng bạo lực cách mạng là tất yếu và đúng đắn :
Trong cách mạng tháng 8/ 1945 : bạo lực cách mạng là sự kết hợp
chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa sự nổi dậy của
quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân. Con đường bạo lực cách mạng
đã được Đảng xác định rõ tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
tháng 5/ 1941họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Hội nghị đã xác định hình thái của
cuộc khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần để tiến tới tổng khởi nghĩa
trên phạm vi cả nước. Để chuẩn bị cho điều đó, Đảng đã chỉ đạo thành lập
mặt trận Việt Minh ( 19/5/1941) để tập hợp lực lượng, đào tạo cán bộ, xây
dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt chỉ cờ thời
cơ đến … Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra và giành tháng lợi chỉ trong mười ngày.
Trong chín năm kháng chiến chống pháp, quân và dân ta tiếp tục đấu
tranh bằh phương pháp bạo lực cách mạng. Các chiến dịch Việt Bắc thu –
đông 1947, Chiến dịch Biên giới năm 1950..và đỉnh cao là chiến dịch Điện
Biên Phủ đã buộc Pháp phải kí hiệp định Giơ – ne- vơ, trao trả độc lập cho ba