Đề cương ôn thi Tốt nghiệp THPT về tác phẩm "Tuyên ngôn Độc lập" của Hồ Chí Minh. - Pdf 10

Trường: THPT Trần Phú Giáo án ôn thi tốt
nghiệp
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
- Hồ Chí Minh -
Ngày soạn: 2/3/2013
A. Kiến thức cơ bản:
I. Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác và giá trị của bản tuyên ngôn:
1. Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác:
- Ngày 19/8/1945, CMT8 thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt
Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập”. Ngày
2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước VN Dân chủ Cộng
hòa đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước VN mới.
- HCM viết và đọc bản “TNĐL” khi đế quốc, thực dân đang âm mưu chiếm lại nước ta. Dưới danh nghĩa
quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật, quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc tiến vào từ phía
bắc, quân đội Anh tiến vào từ phía nam; thực dân Pháp theo chân quân Đồng minh, tuyên bố: Đông Dương
là đất “bảo hộ” của người Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương phải thuộc quyền
của người Pháp.
- “TNĐL” không chỉ là lời tuyên bố với nhân dân VN mà còn là tuyên bố với nhân dân thế giới, phe Đồng
minh và cả kẻ thù của dân tộc về quyền tự do, độc lập và quyết tâm bảo vệ quyền độc lập tự do của dân tộc
VN. Bản tuyên ngôn còn bao hàm một cuộc tranh luận ngầm nhằm vạch trần luận điệu xảo quyệt của bọn
thực dân Pháp trước dư luận quốc tế với âm mưu cướp nước ta lần nữa. Đồng thời, Bác cũng muốn tranh thủ
sự đồng tình của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân VN.
2. Giá trị của bản TN:
- Giá trị lịch sử: Có thể xem “TNĐL” là một văn kiện có giá trị lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa của
dân tộc VN về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần một trăm năm của
dân tộc ta để có quyền thiêng liêng đó. Bản TN đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở VN và
mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân làm chủ đất nước.
- Giá trị văn học:
+ “TNĐL” là một áng văn yêu nước lớn của thời đại. Tác phẩm khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập của
dân tộc, gắn độc lập dân tộc với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống
nhân đạo của người VN.

Đây là một đóng góp lớn của Người đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới sẽ phát triển mạnh
mẽ vào nửa sau thế kỉ XX.
→ Như vậy, với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản TN, nêu cao chính nghĩa
của ta, đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc.
ĐỀ 2: Cuộc tranh luận ngầm với luận điệu của Pháp trong TNĐL.
Trước khi theo chân quân đội Anh vào giải giáp quân đội Nhật ở Đông Dương, thực dân Pháp đã tung ra
trong dư luận quốc tế những luận điệu xảo trá nhằm tạo cơ sở pháp lí cho việc tái xâm lược nước ta. Chúng
tuyên bố: VN là đất bảo hộ của Pháp, là thuộc địa của Pháp, Pháp có công khai hóa thì sau khi phát xít Nhật
thất bại, VN lại trở về tay Pháp. Bản TNĐL của HCM đã bác bỏ những luận điệu ấy một cách hùng hồn mà
kín đáo (tranh luận ngầm):
- Bản TNĐL đã kể tội Pháp mở mang, “khai hóa”, bằng biết bao tội ác của chúng đã gây ra về mọi mặt
(kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục…) cho đất nước ta, đồng bào ta trong 80 năm qua.
- Công “bảo hộ” của thực dân Pháp được HCM vạch trần bằng chứng cứ trong năm năm qua chúng đã bán
nước ta hai lần cho phát xít Nhật.
- Thực dân Pháp khẳng định VN là thuộc địa của chúng thì bản TNĐL nêu rõ: Đông Dương đã trở thành
thuộc địa của Nhật từ mùa thu năm 1940 và khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước đã nổi dậy
giành chính quyền độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.
- Chúng nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã thắng Nhật, vậy chúng có quyền lấy lại Đông
Dương thì bản TNĐL vạch rõ chúng chính là kẻ đã phản bội Đồng minh, không đánh Nhật mà còn bán nước
ta cho Nhật hai lần (mùa thu năm 1940 thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật; ngày
9/3/1945 Pháp bỏ chạy hoặc đầu hàng). Trên thực tế chỉ có Việt Minh (VN độc lập đồng minh hội) mới thực
sự thuộc phe Đồng minh vì đã đứng lên đánh Nhật giải phóng Đông Dương.
- Ngoài ra bản TNĐL còn lên án tội ác dã man và tư cách đê tiện của thực dân Pháp khi trốn chạy còn tàn
sát các chiến sĩ cách mạng trong tù, trong khi Việt Minh đã tỏ rõ lòng nhân đạo khi giúp đỡ, bảo vệ… người
Pháp.
Với tất cả các lí lẽ và bằng chứng trên, HCM dẫn đến kết luận không thể phủ nhận được: “Nước VN có
quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập”.
ĐỀ 3: Suy nghĩ của anh (chị) về lời tuyên bố cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản “Tuyên ngôn
độc lập”.
- Nội dung:

- Để phản bác nhưng lí lẽ của kẻ cướp nước hòng nấp sau quân Đồng minh quay trở lại xâm lược nước ta,
Chủ tịch HCM đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm thống trị và sự hèn nhát của chúng
qua việc hai lần bán nước ta cho Nhật. Người cũng chỉ rõ: Đông Dương không còn là thuộc địa của Pháp,
nhân dân ta đã giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Không có lí lẽ nào thuyết phục
hơn lí lẽ của sự thật. Bởi vậy, Người đã láy đi láy lại hai chữ “sự thật” (sự thật là từ mùa thu năm 1940,
nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa; Sự thật là dân ta đã lấy lại
nước VN từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp; Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã
trở thành một nước tự do, độc lập).
→ Chính vì vậy mà “TNĐL” được coi như một áng “thiên cổ hùng văn” của thời đại mới.
ĐỀ 6: Bình luận về sức thuyết phục của bản “TNĐL”.
I. Mở bài: Giới thiệu giá trị to lớn của bản “TNĐL”, trong đó nhấn mạnh đến sức thuyết phục của bản tuyên
ngôn.
II. Thân bài:
1. Vài nét về tác giả, tác phẩm.
2. Bình luận sức thuyết phục của tác phẩm:
- Bình luận về đối tượng mà bản tuyên ngôn hướng tới: đồng bào ta, nhân dân thế giới, phe Đồng minh và
cả kẻ thù của dân tộc là thực dân Pháp.
- Bình luận vì sao HCM trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Và từ tuyên ngôn về
quyền con người trong “TNĐL” của Mĩ, Người “suy rộng ra” quyền của các dân tộc.
- Bình luận về những dẫn chứng HCM đưa ra để vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta,
sự phản bội Đồng minh của Pháp.
- Bình luận về những lí lẽ Người đưa ra để vạch trần âm mưu quay trở lại xâm lược VN của thực dân
Pháp.
- HCM nhắc nhiều đến “quyền”, đến “sự thật” chính là để khẳng định quyền của VN, sự thật về cuộc cách
mạng giành chính quyền của VN.
Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác đáng, lí lẽ sắc sảo, Người đã thuyết phục toàn thế giới về quyền chính
đáng được hưởng tự do, độc lập của VN.
III. Kết bài: “TNĐL” là một văn kiện lịch sử vô giá. Một trong những giá trị to lớn của nó chính là sức
thuyết phục của một áng văn chính luận mẫu mực.
Giáo viên: Phạm Huỳnh Hồng Diễm 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status