BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊNTẠI TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Th.S Lê Hồng Hạnh
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Trên cơ sở lý luận về đào tạo nghiệp vụ sư phạm (NVSP) theo chuẩn
nghề nghiệp giáo viên, đào tạo NVSP tại Trường ĐH Thủ đô Hà Nội tập trung đến:
1)Mục tiêu đào tạo NVSP; 2)Nội dung đào tạo NVSP; 3) Cấu trúc các học phần NVSP
trong chương trình đào tạo giáo viên; 4) Chương trình chi tiết; 5)Thời lượng các học
phần NVSP; 6) Hình thức tổ chức và phương pháp đào tạo NVSP; 7) Đánh giá sinh
viên tốt nghiệp Trường ĐH Thủ đô Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp GV. Bài báo đưa
ra một số đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NVSP tại Trường ĐH
Thủ đô Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Abstract: On the basis of the theories related to pedagogical training in
accordance with Professional Teaching Standards, pedagogical training at Hanoi
Metropolitan University (HNMU) is focused on the following things: (1) Pedagogical
training objectives; (2) Pedagogical training contents; (3) Structure of the pedagogical
traning modules in teacher training programs, (4) Syllabuses; (5) Amount of time
spared for each of the pedagogical training modules; (6) Pedagogical training
organization forms and methods; (7) Assessment criteria for graduates from Hanoi
Metropolitan in accordance with professional standards. In this article, some
recommenations on the improvement of pedagogical training at Hanoi Metropolitan
University are offered with a view to meeting the demands of the current educational
innovation.
Key word: pedagogic training, Professional Teaching Standards,
1. Đặt vấn đề
Bước vào thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa
phát triển kinh tế- xã hội địa phương trên cơ sở tối ưu hóa điều kiện học tập cho sinh
viên và một bộ phận dân cư đa dạng ở địa phương, giúp họ trở thành những người lao
động có hiệu quả thích ứng được với những thách thức mới trong phát triển kinh tế- xã
hội địa phương.
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội - trường đại học đa ngành, là một trong những
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng của thành phố Hà Nội; là cơ sở
nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực chủ
yếu cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Hà Nội.
2. Nội dung
2.1. Đào tạo nghiệp vụ sư phạm
Đào tạo sư phạm là dạy các kỹ năng thực hành, nghề dạy học hay kiến thức liên
quan đến dạy học và giáo dục, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ
năng một cách có hệ thống để chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống và khả năng
đảm nhận được công việc Error! Reference source not found.. Nội dung đào tạo sư
phạm bao gồm lý luận chung về khoa học giáo dục, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư
171
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
phạm, giảng dạy và nghệ thuật sư phạm, lý luận giáo dục chuyên ngành và bộ môn,
nhân cách người giáo viên và những kỹ năng, kỹ xảo sư phạm. Kết quả của quá trình
đào tạo sư phạm sẽ thực sự có hiệu quả chỉ khi quá trình đào tạo sư phạm biến thành
quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác điều này đồng nghĩa với việc giáo sinh
sau này để trở thành nhà giáo giỏi cần phải chuyển từ tự ý thức thành hành động chủ
động tích cực tự giác trọng học tập và rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ của bản thân.
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
(1) Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục: Có phương pháp thu
thập và xử lí thông tin thường xuyên: về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng
các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục;về điều kiện giáo dục trong nhà trường
và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin
thu được vào dạy học, giáo dục.
(2) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học: bảo đảm kiến thức môn
học, chương trình môn học, vận dụng các phương pháp dạy họ, sử dụng các phương
tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập, quản lí hồ sơ dạy học.
(3) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục: giáo dục qua môn học,
giáo dục qua công tác chủ nhiệm, hoạt động đoàn đội, qua các hoạt động cộng đồng,
vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, năng lực kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức HS.
(4) Năng lực hoạt động chính trị xã hội: Phối hợp với gia đình và cộng đồng
trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần
huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;Tham gia các hoạt
động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng
đồng, xây dựng xã hội học tập
(5) Năng lực phát triển nghề nghiệp: Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về
phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học và giáo dục; Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục.
Đây là những năng lực cốt lõi, cần thiết của người GV giúp họ thực hiện các
chức năng, vai trò, nhiệm vụ giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của nhà trường phổ thông
hiện nay.
CNN là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
và các năng lực nghề nghiệp mà người GV phải đạt được để thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học và giáo dục đáp ứng mục tiêu của giáo dục phổ thông. CNN GV được xây
dựng trên cơ sở mô hình năng lực của GV, trong đó đưa ra các tiêu chuẩn năng lực và
kiểm tra, đánh giá sinh viên tốt nghiệp... Đặc biệt các yêu cầu liên quan đến phẩm chất
đạo đức, chính trị, lối sống được đặc biệt nhấn mạnh đối với giáo viên nói chung và
sinh viên tốt nghiệp nói riêng. Tuy nhiên khi đi sâu phân tích thì thấy cách viết về cơ
bản vẫn theo cách tiếp cận nội dung và chưa phản ánh được đầy đủ những yêu cầu của
CNN GV, cũng như những yêu cầu mới của giáo dục phổ thông.
2. Nội dung đào tạo NVSP
Theo chương trình khung đào tạo hiện nay của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
thì nội dung đào tạo NVSP bao gồm các học phần: tâm lý học, giáo dục học và giáo
dục học bộ môn, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học, rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên, rèn luyện phẩm chất người
giáo viên, rèn luyện năng lực dạy học, rèn luyện năng lực giáo dục của người giáo
viên, và tương ứng là các phần thực hành, thực tế, thực tập sư phạm. Bên cạnh đó còn
có các học phần tự chọn như: Giao tiếp sư phạm, Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực, ....... giúp sinh viên có kiến thức và kĩ năng tìm hiểu người học và môi trường
giáo dục, lập kế hoạch giáo dục, dạy học, công tác chủ nhiệm lớp, quản lí tổ chức lớp
174
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
học. Tuy nhiên nội dung NVSP vẫn chưa thể hiện được sự gắn kết chặt chẽ với thực
tiễn giáo dục phổ thông.
Các nội dung nghiệp vụ sư phạm nhằm mục đích giúp sinh viên thích ứng dần
với hoạt động của người giáo viên tương lai, được sắp xếp theo một hệ thống lý thuyết
và thực hành . Một trong những nội dung cơ bản để nhằm phát triển nghiệp vụ nói
riêng và nhân cách người giáo viên nói chung chính là thực tập sư phạm.
Nội dung thực tập sư phạm của trường yêu cầu khi sinh viên đi TTSP bao gồm:
(i)Tìm hiểu về thực tế nhà trường, địa phương, học sinh, giáo viên và các hoạt động
trong nhà trường và làm những bài tập nghiên cứu khoa học về tâm lí- giáo dục, thực
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
tập sư phạm (TTSP) có sự vận dụng kiến thức vào thực tiễn khá phù hợp và thuận lợi.
Thực tập sư phạm là phần thực hành cho nội dung đào tạo giáo viên của các trường sư
phạm, Thực tập sư phạm được xem là có ý nghĩa đặc biệt nhất trong đào tạo kĩ năng
nghề nghiệp, thời lượng TTSP của trường đại học Thủ đô Hà Nội là 9 tín chỉ được trải
đều trong các năm đào tạo: 02 tuần cho năm thứ hai, 04 tuần cho năm thứ ba và 08 tuần
cho năm thứ tư. Có thể thấy rằng thực tập sư phạm đã thể hiện sự liên hệ giữa lý luận và
thực hành hướng đến sự gắn kết với thực tiễn trong đào tạo nghề.
Phần chung của đào tạo NVSP dành cho toàn bộ sinh viên các ngành học sư
phạm của trường, nội dung bao gồm các học phần giúp sinh viên có các kiến thức cơ
sở để hình thành và phát triển các năng lực cơ bản của giáo viên: Năng lực hiểu đối
tượng giáo dục và môi trường giáo dục; Năng lực giải quyết các tình huống sư phạm,
Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục, năng
lực tự học nghiên cứu, năng lực kiểm tra đánh giá và rèn luyện phẩm chất người giáo
viên, năng lực phát triển cộng đồng và phần riêng đặc trưng dành cho từng chuyên
ngành. Đây là sự thay đổi phù hợp, khoa học tạo được sự thống nhất, logic khá tốt
trong toàn trường trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên và hướng đến hình
thành phát triển năng lực đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên mà Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành.
4. Chương trình chi tiết
Chương trình đào tạo GV cụ thể đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong trường Đại
học Thủ đô Hà nội có những ưu điểm như: “i) được xây dựng theo hướng tiếp cận
mục tiêu phát triển năng lực; ii) có các học phần lựa chọn, học phần tích hợp, đáp ứng
yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực cần đạt theo mục tiêu và chuẩn đầu ra
của chương trình; iii) chặt chẽ, có tính liên kết và cấu trúc hợp lý nhằm trang bị năng
lực cần có của người GV; iv) Đảm bảo tính hệ thống v) Đảm bảo tính cân đối, có tỷ
lệ hợp lý giữa đại cương và chuyên nghiệp; vi) đảm bảo tính cân đối có tỷ lệ hợp lý
giữa chuyên môn và NVSP; vii) có tỷ lệ hợp lý giữa cơ sở ngành và chuyên ngành;
viii) có tỷ lệ hợp lý giữa lý thuyết, thực hành và tự học, tự nghiên cứu; ix) nội
dưới phổ thông (như cách lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án; trình bày bài giảng,
sử dụng các phương tiện, đồ dùng trực quan, tổ chức các hoạt động DH-GD ngoài giờ
lên lớp…).
5. Thời lượng các học phần NVSP
Khối kiến thức về NVSP của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội trong cấu trúc
chương trình có tỷ lệ thời lượng phân bổ chiếm khoảng 24,6% tổng quỹ thời gian học
tập của khóa học trong đó thực tập sư phạm chiếm khoảng 6,9% còn lại là các học
phần liên quan đến chuyên môn sư phạm. Với tỷ lệ thời lượng phân bổ khối kiến thức
về NVSP trong toàn bộ chương trình đào tạo của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
chiếm tỷ lệ khá cao so với các trường đào tạo sư phạm trong cả nước, chẳng hạn, Đại
học Sư phạm Hà Nội chiếm khoảng 19,6% trong toàn bộ chương trình đào tạo; Đại
học Cần Thơ chiếm khoảng 14-17%, tỷ lệ này gần bằng tỷ lệ trung bình về thời lượng
phân bổ khối kiến thức về NVSP trong toàn bộ chương trình đào tạo các nước trên thế
giới (khoảng 30%.) [1]
177
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Có thể thấy rõ rằng mối quan hệ và tỷ lệ hợp lý giữa khoa học chuyên ngành,
khoa học giáo dục và thực tiễn phổ thông trong nội dung đào tạo của trường đại học
Thủ Đô Hà Nội đã thể hiện theo định hướng năng lực của nghề dạy học.
6. Hình thức tổ chức và phương pháp đào tạo NVSP
Phương pháp rèn luyện NVSP cho sinh viên trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
theo hướng lấy việc tự học, tự rèn luyện làm cơ sở, dưới sự hướng dẫn của giáo viên
để định hướng nội dung rèn luyện, cách thức rèn luyện, cách kiểm tra đánh giá và tự
kiểm tra đánh giá có hiệu quả.
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
lũy qua các học phần . Kết quả thực hành, thực tập sư phạm, khóa luận tốt nghiệp hay
điểm học phần các môn học thay thế khóa luận đều được tính là điểm thành phần của
tổng kết quả chung như các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và kiến
thức giáo dục chuyên nghiệp. Điểm khác biệt giữa SV sư phạm và SV các ngành khác
trong đánh giá tốt nghiệp là hoàn thành các học phần về NVSP: Tâm lý học, Giáo dục
học, phương pháp dạy học, rèn luyện NVSPthường xuyên, thực hành, thực tập sư
phạm. Như vậy, nếu chương trình đào tạo GV nói chung và cụ thể là đào tạo NVSP của
các trường được thiết kế trong đó mô tả mục tiêu, các khối kiến thức, năng lực, phẩm chất
cụ thể, các phương pháp, hình thức tổ chức, kế hoạch đào tạo, các tiêu chí để kiểm tra
đánh giá những phẩm chất năng lực người giáo viên mà quá trình đào tạo phải đạt được
theo CNN GV thì việc đánh giá sinh viên sư phạm tốt nghiệp sẽ có chất lượng cao và
phù hợp thực tiễn.
3. Đề xuất, kiến nghị
3.1. Xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm
- Chương trình nghiệp vụ sư phạm phải luôn cập nhật những vấn đề mới của
chương trình, sách giáo khoa, những phương pháp dạy học hiện đại đang áp dụng và
sẽ áp dụng ở trường phổ thông trong một thời gian gần, những chủ trương mới trong
giáo dục và đào tạo điều này sẽ giúp trường sư phạm đào tạo giáo viên sẽ đào tạo
những sinh viên mới tốt nghiệp sẽ có những phương pháp mới hiện đại hoặc ít nhất bắt
kịp những đổi mới ở phổ thông.
- Chương trình chi tiết nên thể hiện những năng lực cần thiết mà sinh viên cần
để giúp họ tích lũy đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong tương lai, do vậy chương trình
tiết phải làm sao gắn kết chặt chẽ được với phổ thông, cụ thể, trong học phần liên quan
đến NVSP nên có thời gian thực hành tại trường phổ thông. Ví dụ: 60% lý thuyết môn
học tại trường, 25% thảo luận nhóm, 15% thực hành tại trường phổ thông.
3.2. Phương pháp hình thức đào tạo nghiệp vụ sư phạm
- Thường xuyên tổ chức mời giáo viên giỏi phổ thông trình bày báo cáo về kinh
nghiệm làm công tác chủ nhiệm, giáo dục học sinh cá biệt, kinh nghiệm giảng dạy,
thực hành để cùng thực hiện. Hiện nay, hầu hết các trường sư phạm địa phương đều có
nhiều loại hình đào tạo giáo viên cho nhiều cấp học, nên cần phải đầu tư xây dựng các
trường thực hành để phục vụ cho nhiều loại hình đào tạo giáo viên cho các cấp học.
3.4. Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghiệp vụ sư phạm
Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo nghiệp vụ sư phạm là điều kiện cần
thiết để quá trình đào tạo NVSP có hiệu quả: Thiết bị dạy học chuyên ngành, thiết bị
công nghệ thông tin, giáo trình, tài liệu tham khảo về nghiệp vụ sư phạm. Việc xây
dựng các phòng thực hành nghiệp vụ sư phạm chuyên ngành của các khoa, trang thiết
bị phục vụ cho đào tạo NVSP cũng đang cần sự đầu tư không nhỏ về kinh phí. Trường
thực hành trực thuộc trường sư phạm và mạng lưới các trường thực hành nằm ngoài
trường sư phạm cũng cần có sự đầu tư kinh phí hợp lí. Không có cơ sở vật chất tốt
không thể có chất lượng nghiệp vụ sư phạm tương ứng.
3.5. Bồi dưỡng công tác đào tạo nghiệp vụ sư phạm
Giảng viên giảng dạy NVSP nên thường xuyên được tham gia các hội thảo
chuyên đề để trao đổi và bổ sung kinh nghiệm trong đào tạo, hơn nữa nên trực tiếp
tham gia với các hoạt động ở phổ thông chẳng hạn bồi dưỡng các chuyên đề về các
180
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
khoa học cơ bản hoặc công tác chủ nhiệm, tư vấn trong các hội thi như: Giáo viên giỏi
giáo dục công dân, toán , lý.... và giáo viên chủ nhiệm giỏi.
Kinh phí chi bồi dưỡng cho lực lượng tham gia đào tạo về nghiệp vụ sư phạm
chi cho sinh viên, giảng viên trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên rất ít,
hầu như không có; chi cho thực tập sư phạm, thực hành sư phạm, rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm thường xuyên cũng không nhiều. Công tác tổ chức những hội thi về nghiệp
vụ sư phạm cũng rất khó khăn về kinh phí. Để tạo động lực tích cực và có hiệu quả
trong hoạt đông NVSP cần thiết phải có sự điều chỉnh về kinh phí chi hoạt động
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
[3]. Đề án đổi mới chương trình đào tạo GV THCS, THPT của trường ĐHSP Hà
Nội. Tháng 3/2015.
[4]. Michel Develay (1998), Một số vấn đề về đào tạo giáo viên, (Nguyễn Kì, Vũ
Văn Tảo, Phan Hữu Chân biên dịch), Nxb Giáo dục.
[5]. Phạm Thị Kim Anh (2015) Chương trình đào tạo giáo viên ở Việt Nam- Một số bất
cập và định hướng phát triển (Báo cáo tại Hội thảo khoa học Quốc tế: “Phát triển
chương trình đào tạo GV-Cơ hội và thách thức”. ĐHSP Thái Nguyên ngày
20.8.2015)
182