BỘ ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN TIẾNG ANH CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT - Pdf 35

1 trao duyen

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta phải đứng trước những sự lựa chọn khắc
nghiệt :Chữ Tình và chữ Hiếu. Tuy nhiên công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả ,bởi vậy nếu
là một người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy, người
ta vẫn quyết định chọn chữ Hiếu để trả ơn bố mẹ. Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã
chọn chữ Hiếu lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn bù đắp cho tình yêu dang dở của mình. Vì
thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Đoạn trích “trao duyên” thể hiện được
tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên của mình cho nàng Thúy Vân
…..
Thuý Kiều đã mở đầu câu chuyện mà đáng lí ra chẳng ai nói đến bao giờ :

Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Nghe xong Thuý Vân chắc sẽ rất bất ngờ. Lời chị khẩn khoản, thiết tha chắc không thể chỉ là
chuyện bình thường. Trong nhóm các từ biểu đạt sự nhờ vả, Nguyễn Du đã chọn được hai từ đắt
nhất và cũng hợp với hoàn cảnh nhất : cậy và chịu. Cậy không chỉ là nhờ. Cậy còn là trông đợi
và tin tưởng. Cũng vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép. Chuyện chưa nói ra
nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động đưa Vân vào thế
khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Lời xưng hô nghiêm cẩn và trang trọng của Thuý Kiều lại càng có
tác dụng gây áp lực đối với Thuý Vân.
“Chọn” và “đặt vấn đề” một cách nhanh chóng và kĩ càng, Thuý Kiều dường như ngay lập tức
tiếp lời như nếu để lâu sẽ không thể nào nói được :
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Vậy là cái điều tưởng như khó nhất, Thuý Kiều đã nói. Thuý Vân hết sức ngỡ ngàng nhưng cũng
nhanh chóng hiểu nỗi niềm của chị. Đoạn thơ ngắn gọn, hướng vào những chuyện riêng tư. Tình
yêu dở dang, tan vỡ được thông tin ngắn gọn trong một thành ngữ nặng nề, chắc nịch (đứt
gánh tương tư). Câu thơ thứ 4 lại hay ở hai chữ tơ thừa. Với Thuý Kiều, tình yêu trao cho em
chỉ là sự nối tiếp, chỉ là chắp mối tơ thừa mà thôi. Mặc em ở đây có thể hiểu là Kiều phó thác
cho em, gắn trách nhiệm ở em phải cứu vãn tình yêu đó. Lời Kiều sâu sắc và cũng thật xót xa.

nguyền) cũng là để được về với tình yêu của nàng. Những kỉ vật đẹp đẽ đó gắn liền với những
ngày đẹp nhất đời Kiều. Nó thiêng liêng khi nó chỉ là của riêng nàng và Kim Trọng. Tình yêu
không có người thứ ba, khi có người thứ ba, sự thiêng liêng bắt đầu đổ vỡ. Câu thơ “Duyên này
thì giữ vật này của chung” thể hiện tâm trạng của Kiều xiết bao đau đớn. Tình yêu và niềm tin đối
với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn toàn trượt mất.
Cố níu kéo tình yêu bằng kỉ vật (dù chỉ trong tâm tưởng), Thuý Kiều đành ngậm ngùi đau xót nghĩ
về tương lai :
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Thuý Kiều như chìm trong tê dại, mê man trong cảm giác xót xa. Nhưng ngay trong lúc tưởng
chừng như đã hoàn toàn cách biệt âm dương thì lời thề vàng đá của Kiều vẫn không hề thay đổi
:Hồn còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai. Tìm về tình yêu
bằng cảm giác từ cõi tâm linh, Thuý Kiều vẫn không quên nghĩ về sự tủi hổ, bất hạnh của mình
:Dạ đài cách mặt khuất lời,Rảy xin chén nước cho người thác oan.


(8 câu cuối):Kiều trở về với thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
Hướng đến tương lai đã không cho Kiều một sự giải thoát, quay về thực tại Kiều càng đau đớn
bội phần. Tiếng nói thành tiếng than khóc, nói với em mà như nói với chính mình, rời quên hẳn
xung quanh chỉ còn hướng đến người yêu đang vắng mặt:
« Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vài ái ân !
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi !
Phận sao phận bạc như vôi !
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim lang hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây »

ruyện Kiều là một kiệt tác văn học mà Nguyễn Du đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam.
Đoạn trích “Nỗi thương mình” kể về nỗi đau đớn tủi nhục trong quãng đời của Kiều khi bị Sở
Khanh lừa gạt, Tú Bà đầy vào chốn lầu xanh.
Cảnh Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà thật đau đớn, cùng cực:
“Biết bao bướm lả ong lơi;
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”.
Các ẩn dụ: “Bướm lả ong lơi”, “cuộc say”, “trận cười”, các thi liệu, điển tích: “lá gió cành
chim”, Tống Ngọc, Trường Khanh đã được sử dụng để diễn tả hiện thực chốn lầu xanh.
“Biết bao” là không đếm được, “suốt đêm” là sự triền miên vô tận. Kiều bị ném vào bùn nhơ,
bị chà đạp không thương tiếc. Kiều thương cho số phận mình phải đem tài sắc làm thú vui
cho những khách làng chơi:

Phân tích “Nỗi thương mình” – văn lớp 10
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Từ một cô gái khuê các, Kiều bị xã hội nhơ bẩn, vì tiền đẩy vào cảnh cùng cực. Nhớ lại
những năm tháng êm đềm bên cha mẹ càng làm Kiều thêm tủi nhục:
“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”.
Sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ kết hợp thủ pháp phân hợp từ ngữ: “dày gió dạn sương”,
“bướm chán ong chường”, nhà thơ đã cực tả nỗi tụi nhục của một người con gái bị đẩy vào


vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp. Nhưng Kiều vẫn ý thức được nhân phẩm của mình:
“Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì?

hùng.
Đoạn trích Chí khí anh hùng thuộc phần gia biến và lưu lạc trên đoạn trường m ười lăm năm.
Kiều bị lừa và rơi vào lầu xanh lần thứ hai, cuộc đời nàng hầu như bế tắc hoàn toàn thì đột
nhiên Từ Hải xuất hiện đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục. Hai người rất tâm đầu ý hợp, sống
hạnh phúc. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng kiều tài
sắc, chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm “Hương lửa đang nồng” đã từ bi ệt Ki ều
ra đi. Đoạn trích này cho thấy chí khí của Từ Hải.


Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát và đạt đến trình độ mẫu mực, vận dụng thành công
các điển cố, điển tích trong văn học Trung Hoa, xây dựng nhân vật sống động, ngôn ngữ
trong sáng, trau chuốt, giàu giá trị biểu cảm.
Thân bài:
4 câu thơ đầu - Khát vọng, tư thế của Từ Hải:
Từ đầu, Từ Hải đã được miêu tả là một anh hùng hảo hán, “đầu đội trời, chân đạp đất”,
nhưng khi kết duyên cùng Kiều, Từ Hải thực sự là một người đa tình. Tuy là đa tình, nh ưng
chàng vẫn không hề quên mình là một tráng sĩ. Trong thời phong kiến, thân nam nhi phải có
chí khí, phải vùng vẫy giữa đất trời cao rộng. Chính vì vậy, dù cho cuộc sống v ới nàng Kiều
đang êm đềm hạnh phúc, thì chàng vẫn nghĩ đến chí hướng của bản thân, thoắt đã lại “rộng
lòng bốn phương”, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức một
minh với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong để tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang
còn dang dở:
“Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.”
Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của sự
nghiệp anh hùng, là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ “thoắt” thể hiện quy ết định nhanh
chóng, dứt khoát cùa chàng. “Động lòng bốn phương” là thấy trong lòng náo nức cái chí
tung hoành khắp bốn phương trời. Con người phi thường như chàng chẳng thể giam hãm

Từ Hải có lý tưởng công danh lớn lao. Những khát vọng của chàng đều phi th ường. Phải có
được “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường”. Khi ra đi chỉ có ngựa
và một thanh kiếm, nhưng Từ Hải tin rằng mình sẽ có nhiều “tinh binh”, sẽ trở v ề trong hào
quang chiến thắng, đem lại vẻ vang cho người phụ nữ mà chàng hết lòng yêu mến và trân
trọng. Chàng muốn có công danh, có được sự nghiệp vẻ vang rồi mới tính chuyện rước
Kiều về nhà chồng trong danh dự. Chàng nghĩ rằng, có làm được như vậy thì m ới x ứng
đáng với sự gửi gắm niềm tin, sự trông cậy của người vợ tương lai.
Từ “mặt phi thường” cho thấy sự tự tin, kiêu hãnh của Từ Hải. Đây không chỉ là lời riêng của
Từ Hải mà còn là cái nhìn đầy trân trọng và tự hào của Nguyễn Du.
“Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Hiện thực trong đời con nhà lính là “bốn bể không nhà”, Từ đã giải thích cho Kiều hiểu. Nàng
đi theo ta chỉ làm ta thêm vướng bận. Gian nan vừa mới bắt đầu, mọi thứ chưa đâu vào đâu.
Từ Hải khuyên Kiều nên hãy chịu khó chờ đợi:
“Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Chàng khẳng định với Kiều bằng một thái độ quyết tâm, tự tin về sự nghiệp trong t ương lai.
Chàng có niềm tin sắt đá rằng chỉ cần trong khoảng một năm, chàng sẽ nhanh chóng lập
được công lớn và trở về thật vẻ vang. Qua đó, ta thấy Từ Hải có lí tưởng cao cả, hoài bão
lớn lao và niềm tin sắt đá vào tài năng của mình.
2 câu cuối - Hình ảnh Từ Hải dứt áo ra đi:
Từ Hải đã “dứt áo ra đi” với một thái độ vô cùng cương quyết. Khẳng định phong thái rất
mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng phu trong giây phút li biệt. Không hề dùng dằng,
vương vấn, không bi lụy hay quyến luyến như những cuộc chia tay khác:
“Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường t ượng
trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, mu ốn làm nên sự
nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc

lưu
lạc”).
- Sau khi bị thằng bán tơ vu oan, gia đình Thúy Kiều lâm vào cảnh tan tác, đau thương. Của
cải bị cướp đoạt, cha và em trai Kiều bị lũ sai nha “đầu trâu mặt ngựa” bắt bớ, khảo tra,
đánh đập dã man. Cái giá mà chúng đưa ra thật là khủng khiếp: “Có ba trăm lạng việc này
mới xong”.Kiều đành gạt nước mắt, gác mối tình đầu đẹp đẽ với Kim Trọng để bán mình
chuộc
cha

em
ra
khỏi
chốn
lao
tù.
- Đoạn này nói về việc Mã Giám Sinh đến mua Kiều. Đoạn trích là nốt nhạc buồn, khởi đầu
cho cung đàn bạc mênh của cuộc đời Kiều kéo dài suốt mười lăm năm.
2.
Bố
cục
đoạn
trích:
2
phần:
- Phần 1: 10 câu đầu: ( Từ đầu đến …”giục nàng kíp ra” ): Sự xuất hiện của Mã Giám Sinh.
- Phần 2: Đoạn còn lại: Cảnh mua bán người.

II – Đọc – hiểu đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
1.
Chân

cách
ăn
nói:
Cái tài của Nguyễn Du là không miêu tả chung chung mà đi sâu vào những chi tiết tiêu biểu,
chọn lọc, thể hiện được thần thái của nhân vật.Không ai biết rõ tung tích Mã Giám Sinh, chỉ
biết hắn là người từ phương xa tới(“viễn khách”). Hỏi hắn thì hắn trả lời cộc lốc, không có
chủ ngữ, không thèm thưa gửi: “Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh” – Hỏi quê, rằng: “Huyện
Lâm Thanh cũng gần”. Hai câu mà chỉ cung cấp được một thông tin nhỏ là hắn mang họ Mã.
Còn tất cả đều mập mờ, không rõ ràng. “Giám Sinh” là tên gọi chung của các sinh viên
trường Quốc tử giám chứ không phải là tên riêng. Còn “huyện Lâm Thanh” rộng bao la, ai
biết
hắn

chỗ
nào,
gia
thế
ra
sao?
-> Cách nói năng của Mã đã bộc lộ một phần về con người hắn. Hắn chẳng có chút gì là nho
nhã,
thanh
lịch
của
một
chàng
“giám
sinh”,hạng
người


* Kết cấu đoạn trích : 3 phần
+ Sáu câu đầu : hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều.
+ Tám câu tiếp : nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của nàng.
+ Tám câu cuối : tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.
* Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích :
- Giá trị nội dung "Kiều ở lầu Ngưng Bích": miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi
đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo vị tha của Thuý
Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
- Giá trị nghệ thuật: nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất
trong "Truyện Kiều".
PHÂN TÍCH:
1/ Hoàn cảnh và tâm trạng của Kiều thể hiện qua 6 câu thơ đầu:
- Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng (khoá xuân).
- Nàng trơ trợi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng: “bốn b ề bát ngát xa trông”.
Cảnh “non xa”, “trăng gần” gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông
trời nước. Từ trên lầu cao nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù


mịt. Cái lầu trơ trọi ấy giam một thân phận trơ trọi, không một bóng hình thân thu ộc bầu bạn,
không cả bóng người.
- Hình ảnh “non xa” “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” có thể là cảnh th ực mà cũng có thể là
hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả
tâm trạng cô đơn của Kiều.
- Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Tất cả như giam hãm con
người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi “bẽ
bàng mây sớm đèn khuya” sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều “thui thủi quê ng ười một thân”
và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia x ẻ:
“Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến mấy, tâm trạng Kiều
cũng không thể vui được.
2/ Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của Kiều qua ngôn ngữ độc



- Đoạn thơ này được xem là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương c ổ
điển. Để diễn tả tâm trạng Kiều – Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình “tình
trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để khắc hoạ tâm trọng của Kiều lúc bị giam lỏng ở lầu
Ngưng Bích.
- Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời là một
ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác
nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình
buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm,
mãnh liệt hơn.
- Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ. Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác
giả khắc hoạ qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà trông ra bốn
phía, trông ngáng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng.
“Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ bút tầm nhìn, có cả d ự cảm hãi hùng của
người con gái ngây thơ lần đầu lại bước giữa cuộc đời ngang ngược. Điệp ngữ “buồn trông”
kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau. Điệp
ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình, dồn dập, chỉ có một
từ láy tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồn ngày một tăng, dâng lên
lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận. Điệp ngữ tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành đi ệp khúc
của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng.
Cảnh 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm,
.........Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâm nàng
Kiều. Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói
cuối cùng của mặt trời sắp tắt; cũng như Kiều trong không gian vắng lặng của hiện tại nhìn
về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương. Con thuyền gần như mất
hút, vẫn còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với
những người thân yêu.
Cảnh 2: Buồn trông ngọn nước mới ra,

Cảnh thiên nhiên là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc của mình.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status