Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
PHẦN MỞ ĐẦU
Qua sáu tháng học tập lớp Quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính
Khóa 4 - 2012 trong thời gian từ ngày 07 tháng 06 năm 2012 đến ngày 17 tháng
12 năm 2012 với những kiến thức bổ ích và thiết thực cùng với sự giảng dạy nhiệt
tình của các thầy cô và sự giúp đỡ tận tình của các học viên cùng khóa, tôi đã tích
lũy được cho mình một vốn kiến thức nhất định về quản lý Nhà nước để có thể
vận dụng vào thực tiễn công tác, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước, nâng cao
năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực công tác của mình.
Chương trình học gồm 03 nội dung chính:
1. Nhà nước và pháp luật.
2. Hành chính Nhà nước và công nghệ hành chính.
3. Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
Căn cứ vào chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16/3/2011 của
Thành ủy nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về
Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu “tập trung
đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông, hình thành mạng
lưới giao thông đồng bộ, kết nối Vùng thành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh
vận tải hành khách công cộng, ưu tiên giao thông công cộng sức chở lớn; nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông; nâng cao hiệu lực;
hiệu quả quản lý Nhà nước; từng bước cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông, giảm
tai nạn giao thông”.
Ga Nhà Hát
Thành Phố
Hiện trạng ùn tắc giao thông đô thị tại
Đào tạo Trường Cán bộ cùng Quý thầy cô giảng dạy, Cô chủ nhiệm lớp và các
bạn học viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi có thể hoàn thành tốt khóa học cũng
như tiểu luận này.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
2
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1- Khái niệm
Về cơ bản, đô thị là một khu vực định cư của các lao động chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Quản lý đô thị là một ngành khoa học
tổng hợp với sự ứng dụng của nhiều ngành khoa học khác như kinh tế đô thị,
quản lý nhà nước, quy hoạch đô thị, kiến trúc đô thị, xây dựng, giao thông, xã
hội đô thị, khoa học môi trường, v.v…
- Quản lý nhà nước về đô thị là “hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước sử dụng quyền lực công can thiệp và điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội và các quá trình phát triển như tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụng
các nguồn lực (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người), đảm
bảo pháp luật về lĩnh vực quản lý đô thị được thực hiện, nhằm tạo dựng và duy
trì điều kiện thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị và phát triển bền vững.
- Đường sắt đô thị được hiểu là các tuyến đường sắt, mà việc tổ chức chạy
tàu được thực hiện như trên mạng đường sắt (Quốc gia) hoặc trên tuyến đường
sắt có kết cấu chuyên dụng (ngoài 2 ray chính, có thêm ray thứ 3 để cấp điện sức
bền vững.
- Khái quát vai trò của hệ thống đường sắt đô thị trong phát triển kinh tế - xã
hội và giải quyết giao thông đô thị của thành phố Hồ Chí Minh và Vùng đô thị.
+ Hệ thống đường sắt đô thị có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò then chốt trong trong việc giải
quyết ách tắc giao thông đô thị và liên kết Vùng thành phố Hồ Chí Minh.
+ Với quy mô dân số thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 là 10 triệu
người, khách vãng lai là 2,5 triệu người; dân số Vùng thành phố Hồ Chí Minh là
20 – 22 triệu người, để phát triển bền vững cần phải lập quy hoạch điều chỉnh,
bổ sung xây dựng hệ thống giao thông công cộng hoạt động hiệu quả, trong đó
đường sắt đô thị với sức chở lớn đóng vai trò “xương sống”, là “động mạch
chính” của mạch máu giao thông, các phương tiện giao thông khác có sức chở
nhỏ hơn đóng vai trò “mao mạch” lan tỏa khắp thành phố giúp cho người dân dễ
dàng tiếp cận, sử dụng giao thông công cộng một cách thuận tiện, nhờ vậy hạn
chế được phương tiện giao thông cá nhân, khắc phục vấn nạn kẹt xe, ô nhiễm
môi trường và biến đổi khí hậu.
2.2- Đặc điểm:
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện
di dời ra bên ngoài các ngành công nghiệp thâm dụng lao động hoặc gây ô nhiễm
môi trường; dãn dân ra các đô thị vệ tinh; xây dựng các khu liên hợp dân cư –
công nghiệp v.v… Điều này phản ánh tính hiện thực của dự báo nêu trên. Do đó
việc sử dụng dự báo nêu trên khi quy hoạch giao thông đường sắt là cần thiết.
Về quy hoạch đô thị, hiện nay có quan điểm muốn tách bạch giữa giao
thông đối nội và giao thông đối ngoại, yêu cầu đưa giao thông đối ngoại ra
ngoài; nhưng thực tế cho thấy ranh giới giữa vận chuyển khách nội đô và ngoại
ô ở các đô thị lớn trên thế giới ngày càng bị xóa nhòa và trở nên khó phân chia
do dân cư và diện tích lãnh thổ của thành phố liên tục phát triển. Ở thành phố Hồ
Chí Minh tình hình cũng cũng tương tự như vậy: một khu vực hôm nay là ngoại
ô, ngày mai đã thành nội đô (ví dụ như huyện Thủ Đức chẳng hạn); nếu vẫn
quan niệm như trên thì ga khách Sài Gòn sẽ phải di dời sang tỉnh Đồng Nai.
chuyển bằng metro bạn không sợ mưa nắng, khói bụi,…Bạn có thể đi từ nhà
bằng xe đạp, xe máy, xe buýt đến ga metro. Xung quanh nhà ga là hệ thống bến
bãi xe buýt, bãi gửi xe đạp xe máy, ô tô và còn có cả hệ thống siêu thị, trung tâm
thương mại…Sau khi di chuyển bằng metro bạn xuống ga nơi bạn muốn đến,
sau đó bạn có thể sử dụng hệ thống xe buýt nối kết để đến nơi bạn muốn. Trong
tương lai bạn có thể đi đến bất cứ nơi đâu trên thành phố chỉ bằng metro mà
không bao giờ bị kẹt xe. Ngoài ra, một ưu điểm vượt trội khi sử dụng metro so
với các phương tiện khác là tính chính xác về thời gian, bạn hoàn toàn kiểm soát
được thời gian khi sử dụng metro.
- Thời gian vận hành hợp lý: căn cứ theo thói quen đi lại và xu hướng phát
triển nhu cầu đi lại của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần
đây và nâng cao chất lượng phục vụ của giao thông đường sắt đô thị đối với
hành khách.
3. Cơ sở pháp lý:
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý đô thị gồm nhiều nguồn, trong đó có
nguồn văn bản quy phạm pháp luật: Luật và dưới luật của Trung ương và địa
phương; các đồ án quy hoạch đô thị và các quy chuẩn tiêu chuẩn; các Nghị
quyết Quốc hội; Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Các văn
bản dưới luật bao gồm Nghị định, Thông tư, và kể cả các Chỉ thị và văn bản chỉ
đạo điều hành khác.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
5
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đô thị ở Việt Nam chưa được
tổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này. Vì vậy, các
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1- Đặc điểm:
1.1- Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị:
- Tình trạng xây dựng còn lộn xộn, đa số không phép, trong sử dụng đất đô
thị còn phổ biến hiện tượng không theo quy hoạch và pháp luật.
- Chất lượng của các đồ án quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị nhìn
chung còn yếu, tính khả thi chưa cao, mỹ quan đô thị nghèo nàn, đơn điệu, chắp vá.
- Các cơ sở pháp luật và văn bản pháp quy về quy hoạch xây dựng kiến
trúc đô thị còn thiếu cụ thể và thiếu đồng bộ.
- Cơ chế và thủ tục hành chính trong việc giao đất, cấp giấy phép xây dựng
vẫn chưa được thực hiện triệt để theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản
pháp luật khác cũng như Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, nhìn chung còn phức
tạp, phiền hà và tiến bộ rất chậm.
- Năng lực cán bộ thiết kế quy hoạch kiến trúc đô thị, quản lý quy hoạch
xây dựng kiến trúc đô thị nhìn chung còn yếu kém, chưa tương xứng với phát
triển đô thị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hệ thống cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng kiến trúc đô thị chưa hoàn
thiện, nhất là cấp cơ sở.
- Phương thức quản lý quy hoạch xây dựng kiến trúc đô thị còn mang
những đặc điểm của cách làm chắp vá, tùy tiện, riêng rẽ, thiếu thống nhất, chưa
chuyển đổi kịp theo cơ chế kinh tế thị trường, vv....
1.2- Thực hiện công tác lập Quy hoạch: Làm cơ sở để xây dựng và từng
bước hoàn chỉnh, hiện đại hoá mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ, đường hàng không đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 nhằm
đảm bảo cho thành phố phát triển ổn định, cân bằng, bền vững và lâu dài, góp
phần đưa thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đô thị trung tâm cấp quốc gia, là
Dương…) tạo thành vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là một trong những
trung tâm ngoại giao, kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hoá và du lịch lớn của cả
nước, là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng gồm: hệ thống giao
thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và hàng không. Trong những năm gần
đây, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, TPHCM đã có sự phát triển
mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có hạ tầng giao thông vận tải, góp
phần giải quyết phần lớn các vấn đề bức xúc trong giao thông đô thị đem lại
hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Ngày 22/01/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 101/QĐ-TTg
phê duyệt quy hoạch phát triển GTVT TPHCM đến năm 2020 và tầm nhìn sau
năm 2020. Trong đó việc quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị trong thành phố
có các nội dung chủ yếu sau:
Quy hoạch kết hợp sử dụng các tuyến đường sắt quốc gia hướng tâm cho
chạy tàu ngoại ô và xây dựng 2 tuyến đường sắt nhẹ: Trảng Bàng - Tân Thới
Hiệp, Thủ Thiêm - Nhơn Trạch - Cảng hàng không quốc tế Long Thành;
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
8
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Quy hoạch hệ thống tàu điện ngầm (metro): Xây dựng 6 tuyến xuyên tâm
và vành khuyên nối các trung tâm chính của thành phố, bao gồm:
- Tuyến số 1: Bến Thành - Suối Tiên, dài 19,7km. Hướng tuyến đi theo
trục các đường: Lê Lợi – Ba Son – Rạch Văn Thánh – Công viên Văn Thánh –
cầu Sài Gòn – xa lộ Hà Nội.
9
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
- Bổ sung bản đồ mới (nếu có)
HÌNH ẢNH VỀ METRO KHI ĐƯA VÀO KHAI THÁC VẬN HÀNH
HÌNH ẢNH VỀ TRAMWAY VÀ MONORAIL
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
10
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
1.5- Như chúng ta đã biết, với vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế, kết nối
các tỉnh, thành trong vùng, thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong hệ thống các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Thành phố đã
được định hướng phát triển bền vững, hài hòa theo hướng liên kết vùng để trở
thành một thành phố văn minh, hiện đại, từng bước trở thành một trung tâm
công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á. Do vậy,
việc hiện đại hóa giao thông công cộng đối với thành phố Hồ Chí Minh là một
yêu cầu rất bức xúc và cấp bách nhằm giảm bớt áp lực và giải quyết tốt tình
trạng ùn tắc giao thông thường xuyên, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội và văn minh của thành phố. Để thực hiện nhiệm vụ hết sức khó khăn và
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
ngầm số 2 đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt vào tháng 10 năm
2010; đã ký kết thành công các Hiệp định vay vốn với các nhà tài trợ ADB,
KfW, EIB. Hiện đã triển khai công tác tuyển chọn nhà thầu của các gói thầu tư
vấn thực hiện dự án; và gói thầu tư vấn quản lý dự án.
- Tuyến đường sắt đô thị số 5 do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ: Cơ bản
hoàn thành dự án đầu tư, giai đoạn 1 (Ngã tư Bảy Hiền – Cầu Sài Gòn) để chuẩn
bị đàm phán ký kết hiệp định vay với nhà tài trợ. Bên cạnh đó, tiếp tục phối hợp
với Chính phủ Tây Ban Nha tìm kiếm nguồn tài trợ bổ sung cho giai đoạn 2 của
dự án.
- Công tác chuẩn bị đầu tư các tuyến đường sắt đô thị còn lại đang được
khẩn trương thực hiện theo kế hoạch đề ra. Qua tiếp xúc mời gọi các nhà đầu tư
trong và ngoài nước, Tập đoàn Italian – Thai Development Public (Thái Lan)
đang nghiên cứu đầu tư xây dựng tuyến metro số 4; JICA đang nghiên cứu đầu
tư xây dựng Nhà ga trung tâm Bến Thành.
3- Những khó khăn, thuận lợi:
3.1- Khó khăn:
“Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2020 và tầm nhìn sau năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cách đây
hơn 3 năm (quyết định số 101/QĐ-TTg, ngày 22/01/2007) và đã trở thành cơ sở
pháp lý cho việc lập các dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt đô thị nhằm
khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm
trọng, cản trở sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay trong số 6 tuyến đường sắt đô thị được quy hoạch đã có hai tuyến
được khởi công xây dựng theo đúng quy hoạch được duyệt là tuyến số 1 và
tuyến số 2; các tuyến còn lại đang được lập dự án đầu tư. Trong quá trình lập dự
án đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt đô thị đã nẩy sinh một số vấn đề có
nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến việc phải tiến hành nghiên cứu
sắt đô thị:
Việc xây dựng hệ thống đường sắt đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và kết
nối ra các đô thị vệ tinh trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh là một việc làm tất
yếu. Hiện nay đường sắt đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh mới được bắt đầu xây
dựng do vậy tiềm năng để đường sắt đô thị phát triển tại thành phố và mở rộng
ra toàn Vùng là rất lớn.
Động lực cho việc phát triển đường sắt đô thị bao gồm:
• Nhu cầu nội tại xây dựng hệ thống đường sắt đô thị để giải quyết tình ách
tắc giao thông ngày càng nghiêm trọng tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như
chính sách của Chính phủ hiện nay đang tập trung nguồn lực xây dựng hệ thống
đường sắt đô thị cho Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là động lực cho phát
triển đường sắt đô thị;
• Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch xây dựng Vùng thành phố
Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” với chính sách xây
dựng các đô thị vệ tinh, các khu liên hợp đô thị công nghiệp để kéo dãn dân từ
thành phố Hồ Chí Minh ra bên ngoài cũng như chuyển các ngành sản xuất thâm
dụng lao động ra các tỉnh trong Vùng nhằm chuyển đổi cơ cấu sản xuất của
thành phố Hồ Chí Minh từ thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp sang kỹ
thuật cao cũng tạo thành động lực cho sự phát triển đường sắt đô thị;
• Quy hoạch phát triển đô thị gắn với hệ thống vận tải khối lượng lớn mang
lại nhiều lợi ích cho cả nhà khai thác đường sắt lẫn các nhà đầu tư địa ốc do vậy
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
13
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
có thể huy động vốn cho phát triển đường sắt đô thị theo hình thức nhà nước –
tạo điều kiện cho thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm, là đầu tàu cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn Vùng.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
14
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG III
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ NHẰM PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Mục tiêu:
1.1- Mục tiêu tổng quát phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: “Từng
bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý
trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị phát triển ổn định, cân bằng, bền
vững và trường tồn, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”.
Nhiệm vụ chủ yếu chỉ của công tác quản lý và phát triển đô thị nước ta là:
- Tập trung thu hút đầu tư phát triển các đô thị lớn trung tâm hạt nhân gắn
với xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, tạo ra sự phát triển cân bằng giữa ba
miền để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước.
- Phải dành nguồn lực phát triển thích đáng các đô thị vừa và nhỏ trên cơ sở
khai thác lợi thế và tiềm năng của tất cả các vùng, liên kết hỗ trợ nhau để tất cả
các vùng đều phát triển.
- Tại các đô thị, cần tập trung mọi nỗ lực để hoàn chỉnh việc lập, điều
- Thúc đẩy nhận thức của xã hội về các vấn đề giao thông đô thị trong hiện
tại và tương lai.
- Quản lý sự tăng trưởng và phát triển đô thị bền vững.
- Thúc đẩy và phát triển hệ thống giao thông công cộng hấp dẫn.
- Quản lý hiệu quả nhu cầu giao thông đường bộ.
- Phát triển tổng thể không gian giao thông và môi trường.
- Nâng cao an toàn giao thông.
- Củng cố hệ thống hành chính ngành giao thông vận tải và năng lực quản lý.
2. Quan điểm:
2.1- Quan điểm quy hoạch đô thị: Xuất phát từ mục tiêu, phương hướng
xây dựng đất nước của Đảng ta, quan điểm phát triển đô thị nước ta đến năm
2020 là:
- Phát triển đô thị phải phù hợp với phân bố và trình độ phát triển lực lượng
sản xuất cả nước, tập trung xây dựng cơ sở kinh tế - kỹ thuật vững chắc làm
động lực phát triển cho từng đô thị.
- Phát triển và phân bố hợp lý các đô thị lớn, trung bình và nhỏ trên địa bàn
cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, kết hợp quá trình
đẩy mạnh đô thị hóa nông thông và xây dựng nông thôn mới.
- Phát triển đô thị phải đi đôi với việc xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ
thuật, với trình độ phù hợp hoặc hiện đại tương ứng với quá trình phát triển của
mỗi đô thị.
- Sự hình thành và phát triển đô thị phải đảm bảo ổn định, bền vững và
trường tồn trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và cân bằng
sinh thái đô thị, quy hoạch đô thị hợp lý, đáp ứng thỏa đáng các nhu cầu cơ bản
của con người và của xã hội.
- Kết hợp cải tạo và xây dựng mới đô thị, coi trọng việc giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc đồng thời với phát triển kiến trúc hiện đại, góp phần làm giàu
thêm nền văn hóa và kiến trúc truyền thống.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
tốt nhất thế mạnh kinh tế - xã hội tổng hợp của toàn vùng.
- Quy hoạch phát triển phải đảm bảo tính kế thừa và ổn định, hạn chế tối đa
giải phóng mặt bằng tại các khu đô thị đã ổn định.
- Tăng quỹ đất để xây dựng hạ tầng giao thông tại các khu đô thị mới, bao
gồm giao thông động và giao thông tĩnh để đến năm 2020 quỹ đất đô thị (tính
cho khu vực nội thành) cần đạt bình quân 16 - 20%, đến năm 2025 đạt 22 - 24%.
3- Những giải pháp:
3.1- Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn thành phố.
3.1.1- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, quản lý và thực hiện quy
hoạch.
Tổ chức rà soát tất cả các loại quy hoạch đã ban hành, bảo đảm yêu cầu
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng để bổ sung,
điều chỉnh cho phù hợp, bảo đảm quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng phải đồng
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
17
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
bộ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2020
tầm nhìn 2025, quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025, quy hoạch
và kế hoạch sử dụng đất của thành phố đã được phê duyệt, quy hoạch phát triển
các ngành; thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy
hoạch phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch kết cấu hạ
tầng,…Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Vùng thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng các quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật
và hạ tầng xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất để triển khai thực hiện đồng
bộ, có hiệu quả. Xây dựng quy hoạch, lập danh mục gắn với ước tính phân bổ
18
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách và kiến nghị
cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, quy định
pháp luật để đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, tạo vốn, thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước từ nhiều thành phần kinh tế, theo nhiều hình thức: xây dựng – khai
thác – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao (BT), xây dựng – chuyển
giao – khai thác (BTO), xây dựng – sở hữu – khai thác (BOO), hợp tác công tư
(PPP), chuyển nhượng quyền kinh doanh, khai thác quỹ đất và các dịch vụ liên
quan, phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình, vay vốn các tổ chức tài
chính nước ngoài. Tranh thủ tối đa các nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA) để
đầu tư các công trình hạ tầng trọng điểm. Tập trung xây dựng một số đề án
mang tính đột phá để kiến nghị Trunng ương cho phép thực hiện thí điểm đối
với những vấn đề mới phát sinh mà chưa có quy định hoặc có quy định nhưng
không còn phù hợp với thực tiễn thành phố để huy động các nguồn vốn (ngoài
ngân sách), xã hội hóa đầu tư lĩnh vực kết cấu hạ tầng.
Tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả giá trị
tăng thêm của đất sau khi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - văn hóa – xã hội, bảo
đảm thu hồi hợp lý phần giá trị tăng thêm bổ sung nguồn đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng đô thị; kiên quyết thu hồi các diện tích mặt đất, mặt nước đã giao
cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không
hiệu quả để đấu giá và chủ động bồi thường đất, tạo thêm quỹ đất cho Nhà
nước trực tiếp quản lý để đấu giá giá trị quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn đầu
tư các công trình hạ tầng hoặc cho các nhà đầu tư có năng lực khai thác, sử
dụng có hiệu quả hơn.
3.3- Tập trung huy động các nguồn lực đáp ứng chương trình phát triển hệ
thống giao thông đô thị.
- Nghiên cứu, đề xuất Chính phủ cho phép thực hiện một số chính sách thu
hút nguồn vốn đầu tư phát triển giao thông đô thị thông qua việc phát hành trái
phiếu ra thị trường quốc tế, vay vốn các tổ chức tài chính nước ngoài; có cơ chế
đặc thù cho thành phố thực hiện các công trình giao thông trọng điểm, công
trình giao thông cấp bách như: chỉ định thầu tư vấn và thi công; chỉ định chủ đầu
tư; nhà đầu tư được thực hiện ngay bước lập dự án đầu tư (bỏ qua bước lập đề
xuất dự án); triển khai trước các hạng mục quan trọng khi dự án đầu tư còn đang
trong quy trình phê duyệt,…để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trên.
- Xây dựng cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả giá trị tăng thêm của đất
đai sau khi đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật đô thị, bảo đảm thu
hồi hợp lý phần giá trị tăng thêm bổ sung nguồn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
đô thị.
- Đẩy mạnh chương trình kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông vận tải,
khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia thông qua
phương thức hợp tác giữa Nhà nước với tư nhân (PPP) và các phương thức
khác (BOT, BTO, BT).
3.4- Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giao thông vận tải
- Tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản trong phạm vi thẩm
quyền của thành phố, đồng thời nghiên cứu, kiến nghị Trung ương chính sách tỷ
giá ổn định của các dự án ODA, để làm việc với các đối tác, từng bước tháo gỡ
khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
- Củng cố, kiện toàn tổ chức hệ thống quản lý Nhà nước về giao thông đô
thị (Hội đồng phát triển hạ tầng kỹ thuật thành phố; Hội đồng tư vấn giảm ùn tắc
giao thông đô thị; Cơ quan quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng
(PTA); trung tâm điều hành giao thông đô thị; Viện nghiên cứu giao thông vận
tải đô thị; Ban quản lý giao thông đô thị; Ban chuẩn bị đầu tư các dự án giao
thông đô thị trọng điểm,…). Nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ cho phép thực
hiện mô hình quản lý kết cấu hạ tầng giao thông và quản lý giao thông phù hợp
nguồn vốn để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
trong và ngoài nước tham gia xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận
tải thành phố theo quy hoạch được duyệt bằng các hình thức BOT, BTO, BT,
liên doanh theo quy định của pháp luật. Trong đó có phương án huy động vốn
thông qua phát hành trái phiếu đầu tư trong nước, trình Thủ tướng Chính phủ
xem xét, quyết định;
- Đối với các dự án giao thông do Trung ương quản lý trên địa bàn thành
phố, có ý nghĩa quyết định cho phát triển giao thông thành phố và toàn vùng
nhưng chưa đủ điều kiện thực hiện đầu tư, cho phép Bộ Giao thông vận tải chủ
trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân các
tỉnh có liên quan nghiên cứu cơ chế tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định để thực hiện việc giải phóng mặt bằng, thu hồi đất và giao cho
chính quyền địa phương tạm thời quản lý để đảm bảo quỹ đất phát triển giao
thông theo quy hoạch;
- Cho phép Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được huy động mọi
nguồn lực để phát triển đường sắt đô thị thành một trong những loại hình giao
thông công cộng chủ lực ở thành phố Hồ Chí Minh;
- Các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, vận hành đường sắt đô thị được hưởng
các chính sách ưu đãi phát triển đường sắt đô thị theo quy định của pháp luật.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
21
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
4- Những kiến nghị:
- Để đạt mục tiêu phát triển bền vững, kiến trúc đô thị cần được phát triển
theo định hướng:
công bố rộng rãi quy hoạch, xác định chỉ giới đất giành cho giao thông và bàn
giao cho chính quyền sở tại quản lý nhằm tránh tình trạng chồng lấn trong cấp
phép xây dựng.
Lớp bồi dưỡng về quản lý Nhà nước – ngạch Chuyên viên chính Khóa 4 năm 2012
22
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Đối với mạng lưới tàu điện ngầm (metro), ngoài việc quản lý chỉ giới
trên mặt đất, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cần chỉ đạo các Sở, Ban,
ngành và chính quyền sở tại có liên quan quản lý chặt chẽ việc quy hoạch và cấp
phép xây dựng các nhà cao tầng, các công trình có móng sâu chiếm dụng lòng
đất ngầm dọc hành lang tuyến metro, xác định và quản lý chặt chẽ quỹ đất dành
cho đề pô metro.
+ Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân các địa phương có liên quan cần
thường xuyên chỉ đạo kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng quỹ đất giành
cho giao thông, đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch.
Trường hợp phát hiện vi phạm phải kiên quyết thu hồi nhằm đảm bảo quỹ đất
cho phát triển giao thông.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt
đô thị;
- Nhanh chóng hoàn thiện công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng
đáp ứng yêu cầu thi công các dự án;
- Xây dựng, ban hành các quy hoạch chi tiết, triển khai các thủ tục chuẩn bị
để kêu gọi đầu tư các dự án chỉnh trang, phát triển đô thị dọc theo các tuyến
đường sắt; có cơ chế, chính sách ưu đãi nhà đầu tư để huy động mọi nguồn lực
tập trung phát triển nhanh đường sắt đô thị;
Quản lý Nhà nước về
Định hướng Quy hoạch đô thị nhằm phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN
Giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, cần ưu tiên đầu tư phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền
vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc
phòng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Phát huy tối
đa lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đất nước để phát triển hệ
thống giao thông vận tải hợp lý, giảm thiểu chi phí vận tải, tiết kiệm chi phí xã
hội.
Sự phát triển giao thông đô thị của thành phố Hồ Chí Minh hiện tại không
giống như bất kỳ các thành phố đang phát triển khác, đa số các hành trình được
thực hiện bằng phương tiện cá nhân mà chủ yếu là xe gắn máy. Vì thế để giảm
thiểu tình trạng ùn tắc giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh ta phải phát triển
hệ thống giao thông vận tải hành khách công cộng vì vậy cần phải có sự đầu tư
tương xứng từ phía Nhà nước thông qua chính sách trợ giá, chính sách đầu tư
phương tiện, cơ sở hạ tầng, bến bãi,… thì hệ thống vận tải hành khách công cộng
mới có thể phát triển kịp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
Cho đến nay thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có đường sắt đô thị tuy rằng
đường sắt này đã xuất hiện ở các nước công nghiệp hóa từ cuối thế kỷ 19. Phân
tích các số liệu về hiện trạng giao thông thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hệ
thống giao thông công cộng của thành phố hiện nay phát triển không tương xứng
với quy mô dân số 7,5 triệu dân (theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh
năm 2011) mà chỉ có xe buýt, điều này đang là lực cản cho sự phát triển kinh tếxã hội của thành phố trong tương lai.
Hệ thống giao thông, trong đó có mạng lưới đường sắt đô thị là xương sống
của mọi quy hoạch, nó đóng vai trò bảo đảm cho sự hoạt động của thành phố và
các khu vực phụ cận. Một siêu đô thị như thành phố Hồ Chí Minh mà đến nay
vẫn chưa có đường sắt đô thị là điều không bình thường, nhất là khi thành phố