ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO TUẤN ANH
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC
MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO TUẤN ANH
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC
MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội
giết người ............................................................................................ 10
1.1.3. Phân biệt các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các tình
tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người ..................... 12
1.2.
Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người .......................... 13
1.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985 .............................................. 13
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999....................................... 20
1.3.
Nội dung của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của
tội giết người theo quy định của BLHS năm 1999 ......................... 24
1.3.1. Nội dung của tình tiết “giết người vì lý do công vụ của nạn nhân” ......... 24
1.3.2. Nội dung của tình tiết “giết người để thực hiện hoặc che giấu tội
phạm khác”.......................................................................................... 29
1.3.3. Nội dung của tình tiết “giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” ..... 30
1.3.4. Nội dung của tình tiết “thuê giết người” ............................................. 31
1.3.5. Nội dung của tình tiết “giết người vì động cơ đê hèn” ....................... 32
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÌNH
TIẾT TĂNG NẶNG THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI
GIẾT NGƯỜI .................................................................................... 37
2.1.
Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng quy định về
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong áp dụng quy định
về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ....... 58
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT TĂNG
NẶNG THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI .........64
3.1.
Hoàn thiện quy định về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ
quan của tội giết người ..................................................................... 64
3.1.1. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người vì lý do công vụ của
nạn nhân”............................................................................................. 64
3.1.2. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người để thực hiện hoặc
che giấu tội phạm khác” ...................................................................... 66
3.1.3. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân” ...................................................................................... 70
3.1.4. Hoàn thiện quy định về tình tiết “thuê giết người” ............................. 71
3.1.5. Hoàn thiện quy định về tình tiết “giết người vì động cơ đê hèn” ....... 72
3.2.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về các tình
tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người ................... 73
3.2.1. Nâng cao chất lượng điều tra tội phạm giết người liên quan đến
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ......................................... 73
3.2.2. Nâng cao chất lượng truy tố tội phạm giết người liên quan đến
các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan ......................................... 76
3.2.3. Nâng cao chất lượng xét xử tội phạm giết người liên quan đến
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm giết
người ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014
37
Bảng 2.2: Số liệu xét xử các tội phạm xâm phạm tính mạng
con người giai đoạn 2010 - 2014
39
Bảng 2.3: Số liệu về tội chống người thi hành công vụ giai
đoạn 2010 - 2014
40
học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Vì vậy, học viên lựa
chọn đề tài “Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người”
nhằm đi sâu nghiên cứu tội giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Qua đó, đưa ra những kiến nghị để
hoàn thiện quy định của pháp luật và có nghiên cứu thực tiễn xét xử tội này
trong những năm gần đây làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đề tài
luận văn đã có một số đề tài khoa học, sách chuyên khảo, luận văn thạc sỹ,
luận án tiến sỹ và các bài báo. Sau đây, học viên nêu một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu, có liên quan mật thiết hoặc một phần đến đề tài luận
văn mà mình lựa chọn.
Nhóm các công trình khoa học
Dưới góc độ pháp lý, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về tội giết
người có liên quan đến các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan như: “Tội
giết người và đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” của TS. Đỗ Đức Hồng Hà, Nxb. Tư pháp, 2008; Phùng
Thế Vắc - Trần Văn Luyện: “Bình luận khoa học BLHS 1999”, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2001; Đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao
chất lượng công tác kiểm sát điều tra án giết người", Ban chủ nhiệm: Trần
Phong Thanh - Nguyễn Duy Hồng - Đỗ Xuân Tựu, Hà Nội, 1995.
Bên cạnh đó, các bài báo khoa học được công bố có liên quan đến đề
tài như: Một số quan điểm khác nhau về định nghĩa và đối tượng tác động
của tội giết người của Đỗ Đức Hồng Hà - 2004 - TC Tòa án nhân dân, Tòa
án nhân dân tối cao, 2004, Số 13, tr.15-17; Phân biệt tội giết người với một
số tội phạm khác xâm phạm tính mạng của con người của Đỗ Đức Hồng
Hà - TC Tòa án nhân dân - 2/2003 - Số 2 - Tr.13-15; Vấn đề lỗi của người
bị hại liên quan đến việc xác định tội danh đối với người phạm tội khi xét
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những quan điểm về
tội phạm và hình phạt trên phương diện lý luận, thực tiễn đấu tranh và phòng,
chống tội phạm giết người với những tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
thông qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân trong những năm gần đây. Học
viên sẽ đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn áp
dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Xây dựng và nghiên cứu cơ sở lý luận về các tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người.
- Phân tích, so sánh các quy định pháp luật, đánh giá mức độ hoàn thiện
các quy định của pháp luật hiện hành.
- Nêu quá trình hình thành và phát triển của khoa học pháp luật hình sự
Việt Nam về những trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan.
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật trong
thực tiễn.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện và các giải pháp áp dụng trong thực tế
các quy định pháp luật và áp dụng thống nhất pháp luật của chế định này.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan được nghiên
cứu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học điều tra hình sự, tố
tụng hình sự, xã hội học, tâm lý tội phạm, tội phạm học… Trong phạm vi luận
4
5
tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan để làm rõ thực tiễn áp
dụng quy định này.
6. Điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình mới nghiên cứu về các tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội giết người có tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan. Cụ thể:
- Đưa ra được khái niệm, đặc điểm về các trường hợp giết người có tình
tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan theo quy định pháp luật Việt Nam và
những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Phân tích những dấu hiệu pháp lý đặc trưng cơ bản về một hành vi
giết người với các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan. Luận văn đưa các
luận giải khoa học về mặt nhận thức luận và đánh giá quy định của pháp luật
hiện hành về những trường hợp này.
- Luận văn sẽ nghiên cứu thêm những thành tựu và hạn chế trong
phòng, chống và đấu tranh với tội giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan theo quy định pháp luật Việt Nam. Từ đó, giúp cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc ngăn chặn
và đẩy lùi hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan của tội giết người trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về tình tiết tăng nặng thuộc
mặt chủ quan của tội giết người
Nhóm 3, các tình tiết phản ánh tính chất của động cơ và mức độ lỗi của
người phạm tội bao gồm: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân; giết người
7
để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân; giết người thuê; giết người vì động cơ đê hèn.
Nhóm 4, các tình tiết phản ánh đặc điểm về nhân thân người phạm tội
bao gồm: thực hiện tội phạm một cách man rợ; giết người mà liền trước đó
hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm
trọng; giết người có tính chất côn đồ; giết người thuộc trường hợp tái phạm
nguy hiểm [21, tr.33].
Như vậy, nhóm tình tiết tăng nặng của tội giết người thuộc mặt chủ
quan gồm các tình tiết thuộc nhóm thứ 3 (theo cách phân loại của tác giả Đỗ
Đức Hồng Hà) gồm có: giết người vì lý do công vụ của nạn nhân; giết người
để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân; thuê giết người; giết người vì động cơ đê hèn. Các tình tiết này
phản ánh động cơ, mục đích và lỗi của người phạm tội khác với trường hợp
thông thường và chính điều đó làm cho hành vi phạm tội có mức độ nghiêm
trọng hơn so với trường hợp thông thường.
Để tìm hiểu về khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan
của tội giết người trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu về mặt chủ quan của
tội phạm. Theo lý luận về luật hình sự, hành vi của con người bao giờ cũng là
sự thống nhất giữa những biểu hiện cụ thể bên ngoài thế giới khách quan và
những nội dung tâm lý bên trong (ý chí) của chủ thể thực hiện hành vi đó. Tội
phạm là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan. Vì vậy, Luật
hình sự Việt nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là truy cứu
TNHS chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội
không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý của người thực hiện
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm về các tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan của tội giết người như sau:
“Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người là các tình
9
tiết thuộc về mặt chủ quan như lỗi, động cơ, mục đích phạm tội mà khi người
phạm tội thực hiện hành vi giết người với những yếu tố đó làm cho tội phạm trở
nên nguy hiểm đáng kể hơn so với trường hợp giết người thông thường khác”.
1.1.2. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của
tội giết người
Từ khái niệm các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết
người chúng ta có thể rút ra 4 đặc điểm của các tình tiết này như sau:
Thứ nhất, các trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng thuộc mặt
chủ quan có các đặc điểm như tội giết người nói chung. Tức là có hành vi
cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có
năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS do BLHS quy định (từ đủ 14 tuổi trở
lên) thực hiện [21, tr.14]. Như vậy, các trường hợp giết người có tình tiết
tăng nặng thuộc mặt chủ quan cũng cần phải có dấu hiệu cố ý gây ra cái
chết của người khác một các trái pháp luật. Điều này có nghĩa là lỗi trong
trường hợp phạm tội giết người nói chung và giết người có tình tiết tăng
nặng thuộc mặt chủ quan nói riêng đều đòi hỏi phải là lỗi cố ý có thể là cố
ý trực tiếp, có thể là cố ý gián tiếp. Đây chính là dấu hiệu phân biệt giết
người với các tội phạm khác như vô ý làm chết người; cố ý gây thương tích
dẫn đến hậu quả chết người....
Thứ hai, các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người có
đặc điểm chung là khi xuất hiện các tình tiết này trong tội phạm làm cho hành
vi phạm tội trở nên nguy hiểm cho xã hội hơn so với các trường hợp phạm tội
thông thường. Theo lý luận về luật hình sự đã chỉ ra rằng, các tình tiết tăng
người thân, gia đình nạn nhân mà còn tạo dư luận xấu trong xã hội...
Thứ tư, việc điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường hợp giết người
có tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội phạm là rất khó khăn. Vì đây
là các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan – tức mặt bên trong của tội phạm. Thể
hiện trong lỗi, động cơ, mục đích là cái bên trong hoặc cái mà người phạm tội
11
hướng tới, hình dung tới khi thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì vậy, việc
xác định đúng người phạm tội có hành vi giết người có tình tiết tăng nặng
thuộc mặt chủ quan hay không đòi hỏi phải có những kinh nghiệm, kỹ năng
nhất định. Đồng thời cần có sự đánh giá tổng hợp các tài liệu chứng cứ khác
nhau để đưa ra được kết luận chính xác. Bởi lẽ, tội phạm là thể thống nhất
giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài. Thông qua các biểu hiện bên ngoài của
tội phạm có thể đánh giá được lỗi, động cơ, mục đích (là những yếu tố bên
trong). Do đó, để đảm bảo hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử đối với các trường
hợp phạm tội giết người có các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan này cần phải
thực hiện các công việc đó.
1.1.3. Phân biệt các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các
tình tiết tăng nặng thuộc mặt khách quan của tội giết người
* Giống nhau
Cả hai tình tiết này đều là các tình tiết thuộc cấu thành tội phạm tăng
nặng của tội giết người.
Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan và các tình tiết tăng nặng
thuộc mặt khách quan của tội giết người đều là các tình tiết mà khi người phạm
tội thực hiện hành vi giết người với những yếu tố đó làm cho tội phạm trở nên
nguy hiểm đáng kể hơn so với trường hợp giết người thông thường khác.
* Khác nhau
Nếu các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người là
27-SL ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát; Sắc lệnh
số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và
an toàn đối ngoại của Nhà nước; Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị
địa chủ chống pháp luật; Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 tổng kết án lệ
về một số tội phạm thông thường, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
Thứ nhất: Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định riêng
về tội giết người mà tội giết người chỉ được đề cập trong các văn bản quy
13
định về một nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công sản
và một số đối tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế,
phản phong. Ví dụ: Điều 4 Mục 2 Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng
trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước
quy định: “Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà
hiếp cán bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt
lính, thu thuế cho địch, sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ
mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân...”; Điều 6 Sắc lệnh số
151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:
Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1) Cấu kết
với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ
chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại
kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân
viên... thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình....
Thứ hai: trong giai đoạn này, hành vi phạm tội giết người được quy định
dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ám sát, giết hại, cố ý giết người... Ví dụ,
Điều 1 Sắc lệnh số 27- SL ngày 28/02/1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền
và ám sát quy định: “Những người phạm tội bắt cóc, tống tiền, ám sát sẽ bị
phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử”; khoản 1 Điều 6 Sắc lệnh số
nhiều loại là mức hình phạt có tính chất nghiêm khắc khác nhau. Ví dụ: Tại
điểm 3 Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy định: “Cố ý giết người:
phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến
1 năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình”. 2. Hình phạt bổ sung
được quy định và áp dụng đối với người phạm tội giết người nhằm hỗ trợ cho
hình phạt chính và mở thêm khả năng pháp lý cho toà án có thể lựa chọn hình
phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và
nhân thân người phạm tội [40, tr.132]. Ví dụ: Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày
12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:
15
Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1. Cấu kết
với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những
tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại
kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân
viên;... thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình,
phải bồi thường thiệt hại cho nông dân, bị tịch thu một phần hay
tất cả tài sản.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cách mạng
Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Ngày 30/6/1955, Bộ Tư pháp đã có
Thông tư số 19-VHH-HS, yêu cầu các toà án không áp dụng luật lệ của đế
quốc và phong kiến vì “chính sách trừng trị trong chế độ dân chủ nhân dân
khác nhau về căn bản với chính sách trừng trị của chế độ trước”.
Để thực hiện đường lối mà Đảng ta đề ra trong giai đoạn từ năm 1955
đến năm 1976, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và TANDTC đã
ban hành nhiều văn bản hướng dẫn đường lối xử lý tội giết người như: Chỉ thị
số 1025-TATC ngày 15/6/1960 của TANDTC về đường lối xử lý tội giết
người vì mê tín; Chỉ thị số 01-NCCS ngày 14/3/1963 của TANDTC về xử lý
- Giết người kèm theo tình tiết giảm nhẹ đặc biệt sau đây thì bị phạt
thấp hơn 15 năm tù: Giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động một
cách mạnh mẽ và đột xuất do hành vi sai trái nghiêm trọng của nạn nhân.
- Giết người trong những trường hợp thông thường, không có tình tiết
tăng nặng cũng không có tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ 5 năm đến 20
năm. Thứ hai, so với giai đoạn trước, quy định về tội giết người trong giai
đoạn này đã có sự phát triển đáng kể trong việc phân hoá TNHS cũng như
trong đường lối xử lý người phạm tội. Cụ thể là: 1. Nhiều tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ được bổ sung thêm trong giai đoạn này. Nhưng điểm
đáng chú ý nhất là lần đầu tiên luật hình sự có sự phân biệt tình tiết tăng nặng
chung với tình tiết tăng nặng đặc biệt và tình tiết giảm nhẹ chung với tình tiết
giảm nhẹ đặc biệt.
17