VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ TÁ KHÁNH
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP
Ở MỘT SỐ NƢỚC THÀNH VIÊN LIÊN MINH CHÂU ÂU TRONG
NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số : 62 31 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
ii
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Người hướng dẫn 1: GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn
Người hướng dẫn 2: PGS.TS. Nguyễn An Hà
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:
Nhiều cuộc thảo luận về chính sách công nghiệp ở Việt Nam và nhiều công trình
nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển công nghiệp cho Việt Nam đã được
thực hiện, chủ yếu là kinh nghiệm của các nước Đông Á và các nước đang phát triển.
Chính vì vậy, các nghiên cứu về chính sách công nghiệp ở các nước quốc gia công
nghiệp phát triển ở EU sẽ bổ sung nh ng kinh nghiệm và bài học cho quá trình hoạch
định chính sách công nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt đặt trong bối cảnh ASEAN cũng
đang hướng đến tiến trình liên kết khu vực chặt chẽ hơn.
Với bối cảnh thế giới mới và nhu cầu kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách công
nghiệp ở một số nước thành viên Liên minh Châu Âu trong những thập niên đầu
thế kỷ XXI” làm luận án của mình.
2. Mục đích nghi n c u và nhiệm vụ nghi n c u
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích và đánh giá nội dung và kết quả đạt
được của chính sách công nghiệp của Cộng hòa Italia, Cộng hòa Pháp và Vương
quốc Anh trong nh ng thập niên đầu thế kỷ XXI, t đó rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam.
2
Để đạt được mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Làm rõ cơ sở l luận và thực tiễn của chính sách công nghiệp ở ba quốc gia
được nghiên cứu;
+ Làm rõ nh ng nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách công
nghiệp cũng như đánh giá kết quả thực hiện chính sách công nghiệp;
+ Rút ra một số kinh nghiệm góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chính
sách công nghiệp tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng nghi n c u và phạm vi nghi n c u
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính
sách công nghiệp của ba quốc gia công nghiệp chủ chốt, thành viên của EU, gồm
Italia, Pháp và Vương quốc Anh.
t
U
Giả thuyết nghiên cứu:
G ả t uyết 1: Chính sách công nghiệp của các nước công nghiệp chủ chốt ở EU phải
điều chỉnh t chính sách công nghiệp theo chiều dọc sang chính sách công nghiệp
theo chiều ngang để đáp ứng yêu cầu của quá trình liên kết khu vực.
G ả t uyết 2: Chính sách công nghiệp theo chiều ngang ưu việt hơn chính sách công
nghiệp theo chiều dọc.
G ả t uyết 3: Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển công nghiệp bị hạn chế trong
thời kỳ toàn cầu hóa và liên kết khu vực.
3
- Phương pháp nghiên cứu:
+ P ơn p p t u t ập t l u: i Sách: sách đang lưu tại thư viện của Viện Nghiên
cứu Châu Âu, lưu trong các thư viện online internet và qua trao đổi trực tiếp với các
học giả đã xuất bản các công trình có liên quan; ii Bài viết tạp chí; iii Các nguồn
trên internet; iv Trao đổi học thuật: trao đổi trực tiếp t các học giả trong lĩnh vực
nghiên cứu
+ P ơn p p xử lý t l u: Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội: tổng
hợp, phân tích, so sánh và dự báo. Luận án cũng sử dụng cách tiếp cận lịch sử cùng
phương pháp phân tích lịch đại.
5. Những đóng góp của Luận án
T ứ n ất, luận án đã hệ thống hóa được sự hình thành và phát triển của chính sách
công nghiệp ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt của EU, với trọng tâm là các chính
sách công nghiệp của các nước này trong nh ng thập niên đầu thế kỷ XXI.
T ứ
gợi mở nh ng lĩnh vực Việt Nam có thể tập trung trong chiến lược phát triển công
nghiệp của mình.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các trang bìa, mục lục, danh mục các ch viết
tắt, danh mục bảng biểu, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả luận án,
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm bốn chương:
Chương I: Tổng quan.
Chương II: Một số vấn đề l luận và thực tiễn về chính sách công nghiệp ở Liên minh
Châu Âu.
Chương III: Chính sách công nghiệp ở một số quốc gia thành viên Liên minh Châu
Âu.
Chương IV: Một số vấn đề rút ra và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.
5
CHƢƠNG I
T NG QUAN
1.1. Nghi n c u ngoài nƣớc
N
n ứu n s
n n
pd
ó
lị sử: Một số nghiên cứu đã
thực hiện theo hướng này gồm Ha-Joon Chang (2002) Kicking Away the Ladder:
Development Strategy in Historical Perspective; James Foreman – Peck và Giovanni
Ferderico cùng nhiều tác giả 1999 , European Industrial Policy: the TwentiethCentury Experience.
N
n ứu
n s
Handbook on Industrial Policy.
N
ứu
n ứu
luận n:
n s
n n
p
qu
t u
t
n n
n
Về Cộng hòa Italia, Giuseppe Calabrese và Secondo Rolfo 2001 , „SMEs and
Innovation: the Role of the Industrial Policy in Italia‟; Raffaella Conletti (2007)
„Italia and Innovation: Organisational Structure and Publ Pol es‟. Maria
Chiarvesio, Eleonora Di Maria, và Stefano Micelli (2010), „Global Value Chains and
Open Networks: The Case of Italian Industrial Districts‟; Patrizio Bianchi và
Sandrine Labory (2010), „Industrial Policy after the Crisis: the Case of the EmiliaRomagna Region in Italia‟.
Về Cộng hòa Pháp, Jean-Pierre Dormois (1999), „France: The Idiosyncrasies
V etn m‟s Development Str te y tạm dịch: Các chiến lược phát triển của Việt Nam ;
Dwight H. Perkins và Vũ Thành Tự Anh (2010), “Chính sách công nghi p c a Vi t
Nam: Thiết kế
n s
ể phát triển bền vững”; Đề tài cấp bộ: “Chính sách công
n
p tron m ìn tăn tr ởn m ,
oạn 2011-2020”, do Lê Anh Vũ làm
chủ nhiệm đề tài (2011); Đề tài cấp bộ: „ ều
n
n s
p t tr ển
n
P p‟ thực hiện 2011-2012 do Đinh Mạnh Tuấn làm chủ nhiệm; Đỗ Tá Khánh
chủ biên 2013 , „ ều
n
n s
p t tr ển ở V ơn qu
n
oạn
ậu k n oản t
n v suy t o k n tế to n ầu 200 v b
ọ
oV t
Nam‟.
1.3. M t số vấn đề đ t ra cho luận án
Các đề tài nêu trên vẫn còn có một số hạn chế như chưa phân tích chính sách
công nghiệp đặt trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng,
với tiến trình tự do hóa thương mại và thiết lập các khu vực mậu dịch tự do chồng
chéo. Các đề tài này chưa làm rõ các động lực điều chỉnh chính sách công nghiệp với
hợp các hoạt động can thiệp của nhà nước bằng công cụ chính sách nhằm tạo ra các thể
chế thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp của quốc gia trong môi trường cạnh tranh
và hội nhập.
2.2. M t số loại h nh chính sách c ng nghiệp
2.2.1. Chính sách bảo hộ (can thiệp) và chính sách tự do
Trong lịch sử phát triển chính sách công nghiệp trên thế giới, các quốc gia
thường sử dụng hai hình thức hoặc bảo hộ hoặc tự do nhằm thúc đẩy nền công nghiệp
của họ. Ở châu Âu trước đây, đặc biệt là thời kỳ t cách mạng công nghiệp đến trước
thập niên 1990, chính sách công nghiệp thường được phân thành hai nhóm: bảo hộ ở
Đức, Pháp, Italia… và tự do ở Anh, Đan Mạch, Hà Lan…. Ngày nay, các nước công
nghiệp phát triển Phương Tây thường kêu gọi thế giới dịch chuyển sang thực hiện các
chính sách tự do và coi đó là phương cách để đi đến sự thịnh vượng.
8
2.2.2. Chính sách theo chi u dọc và chính sách theo chi u ngang
Chính sách công nghiệp theo chiều dọc vertical industrial policy hay còn gọi
là chính sách ngành (sector policy) được xem là chính sách có sự hỗ trợ của chính
phủ đối với các doanh nghiệp hoặc các ngành cụ thể. Chính sách theo chiều ngang
chú trọng vào các tác động rộng đến các lĩnh vực của nền kinh tế, thay vì chỉ tập
trung vào một số lĩnh vực như chính sách công nghiệp theo chiều dọc.
2.2.3. Chính sách công nghiệp vĩ mô và chính sách công nghiệp vi mô
Chính sách công nghiệp vĩ mô là nh ng hành động có thể dẫn đến sự hình
thành một hệ thống mang tính thể chế để các hoạt động can thiệp của nhà nước diễn
ra trong đó. Trong khi đó, chính sách công nghiệp vi mô là phương tiện để các quyền
được chuyển đổi thành năng lực tham gia của công dân vào sản xuất công nghiệp.
2.3. Chính sách c ng nghiệp chung
Li n minh Ch u
9
nghiệp và mua sắm quốc phòng. Trong khi đó phần lớn chính sách được chia sẻ gi a
EU và quốc gia, chủ yếu tập trung vào các chính sách thúc đẩy đổi mới, nghiên cứu
và phát triển. Một số chính sách thuộc thẩm quyền riêng của EU tập trung ở các lĩnh
vực bao trùm toàn cộng đồng như thiết lập thị trường chung, kiểm tra tính cạnh tranh
hay các vấn đề liên quan đến thương mại chung.
2.4. M t số nh n tố chính tác đ ng đến hoạch đ nh chính sách c ng nghiệp
quốc gia Li n minh Ch u u
2.4.1. Toàn cầu hóa
Chính sách công nghiệp ngày nay chịu sự tác động to lớn của quá trình toàn
cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ với việc thành lập một mạng lưới chằng chịt các khu
vực mậu dịch tự do, gi a các quốc gia với quốc gia, gi a các quốc gia với tổ chức
liên kết khu vực, hoặc gi a các khu vực với các khu vực. Khi xây dựng chính sách,
mỗi nhà nước sẽ phải tham chiếu với các quy định chung của các khối liên kết mà đất
nước đó đã tham gia. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư không ng ng của
các tập đoàn đa quốc gia đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt gi a các quốc gia.
2.4.2. Quá trình liên kết khu vực
Quá trình liên kết châu Âu thành công trong việc hình thành nên một Thị
trường đơn nhất Single market và một Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) cùng với
sự ra đời của đồng tiền chung – đồng Euro. Với bước tiến này, toàn bộ các nước
thành viên đã trở thành một thị trường hợp nhất, nơi hàng hóa, vốn và lao động được
dịch chuyển tự do. Sự tái phân công lao động trong một thị trường lớn với 28 nước
thành viên đã tạo cho EU trở thành một thực thể kinh tế lớn bậc nhất toàn cầu.
2.4.3. Các chính sách chung c a Liên minh Châu Âu
Cùng với quá trình nhất thể hóa, EU cũng hình thành và liên tục củng cố các
chính sách chung của toàn Liên minh, như chính sách Đối ngoại và An ninh chung,
chính sách nông nghiệp chung, chính sách cạnh tranh, chính sách vùng, chính sách
lương, chính sách thuế, chính sách sử dụng đất, chính sách năng lượng… Chính sách
công nghiệp của EU hiện nay hướng đến chính sách theo chiều ngang, với việc chú
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ NƢỚC THÀNH VIÊN LIÊN
MINH CHÂU ÂU
3.1. Chính sách c ng nghiệp
C ng h a Italia
3.1.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp ở Ita ia đến
iệp ước Maastricht
Tự do và bảo h : chính sách công nghi p c a Italia trong thời kỳ ầu c a quá trình
công nghi p ó ến 1945: Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1861, Italia đã bước
vào thời kỳ phát triển công nghiệp có tính tự do cao. Tuy nhiên, sau hai thập kỷ phát
triển tự do, các chính sách bảo hộ bắt đầu được ban hành với mục tiêu xây dựng Italia
thành một cường quốc.
Tự do ó t ơn mại và sự phát triển c a doanh nghi p n n c ở Italia t 1 45
ến 1 0: Nền kinh tế của Italia trong giai đoạn này là một nền kinh tế “hỗn hợp”,
nơi có sự tồn tại của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước. Chính phủ sử dụng các
doanh nghiệp nhà nước làm đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế, làm động lực để tạo sự tăng
trưởng. Các doanh nghiệp nhà nước trong nh ng năm 1950 hoạt động rất năng động.
Kh ng hoảng kinh tế và sự chuyển
ng chính sách t ầu 1 0 ến 1992: Các
chiến lược xây dựng sức mạnh quốc gia “National Champions” đã thất bại, với nh ng
chi phí rất lớn. Với tư tưởng Tân tự do và tiến trình thống nhất châu Âu, thập niên 90
đã chứng kiến một xu hướng phổ biến trong chính sách kinh tế của Italia là tư nhân
hóa và tự do hóa.
3.1.2. Chính sách công nghiệp ở Ita ia t
Sự uyển
niên 2000
n
12
các tổ chức tài chính tư nhân. “Industria 2015” có hai mục tiêu cụ thể gồm: i phát triển
các hoạt động công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao; ii nâng cấp và tăng cường
sức mạnh cho các doanh nghiệp nh và v a qua nghiên cứu, phát triển công nghệ,
giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy đầu tư và tăng quy mô sản xuất. Chương trình có ba
lĩnh vực nghiên cứu có tính chiến lược gồm: hiệu quả sử dụng năng lượng, giao thông
bền v ng sustainable mobility và phát triển công nghệ mới cho các sản phẩm “Sản
xuất ở Italia” (Made in Italia).
3.1.3. Một số kết quả phát triển công nghiệp c a Italia
Bước vào thế kỷ XXI, Italia vẫn duy trì được vị trí là nước công nghiệp đứng
thứ 5 trên thế giới và đứng thứ 2 tại EU, sau Đức. Mặc dù vẫn gi được thứ hạng cao
trong nền sản xuất công nghiệp trên thế giới nhưng Italia đã chịu sự sụt giảm về cả tỷ
trọng trong nền công nghiệp thế giới và cả giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp.
Italia chỉ gi được 74 thị phần xuất khẩu hàng hóa công nghiệp vào năm 2013 khi
so với năm 2000. Giá trị gia tăng của các ngành sản xuất công nghiệp của nước này
cũng giảm 12,8 vào năm 2012 khi so với năm 2008. Chương trình Industria 2015
chưa mang lại nh ng kết quả rõ rệt. Các chỉ số về giá trị gia tăng của các ngành sản
xuất công nghiệp đã giảm dần đều trong khoảng thời gian 2008 – 2012. Trong khi đó,
thị phần xuất khẩu vẫn tụt giảm 26 trong giai đoạn 2000 – 2013, tức là t khi chưa
thực hiện Chương trình cho đến khi Chương trình sắp kết thúc.
3.2. Chính sách c ng nghiệp
C ng h a Pháp
3.2.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp ở Cộng h a
háp đến iệp ước Maastricht
n s
n n
p
Với định hướng chính sách công nghiệp của EU, chính sách công nghiệp của
Pháp đã chuyển t chính sách theo chiều dọc tập trung theo ngành sang chính sách
theo chiều ngang. Sự tập trung phát triển các doanh nghiệp lớn có lựa chọn như chính
sách “dự án lớn” trong nh ng năm 1970 đã được thay thế bằng các chính sách có tính
bao trùm, tác động lan t a như phát triển vốn con người, đổi mới, cạnh tranh, lập
pháp và củng cố hoạt động của một số lĩnh vực công nghiệp nhất định thông qua sự
phối hợp theo chiều ngang gi a các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước lớn đã
được tư nhân hóa và nhà nước chỉ gi lại nh ng doanh nghiệp trong nh ng ngành
trọng điểm có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia như giao thông, năng lượng.
n s
n n
p 2004
Năm 2004, một khung khổ chính sách công nghiệp đã được ra đời và vẫn đi
theo mô hình chính sách công nghiệp theo chiều ngang, bao gồm 5 lĩnh vực được xác
định rõ cùng với các cơ sở l thuyết cho các lĩnh vực đã được lựa chọn, bao gồm: i
cụm công nghiệp hay cụm cạnh tranh: là nơi quy tụ các doanh nghiệp với hy vọng
chúng sẽ bổ trợ cho nhau và tạo nên một mạng lưới, một chuỗi giá trị có khả năng
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; ii các dự án công nghệ: được tập
trung theo ngành và có tính chuyên môn hóa; iii) Chính sách SME: xây dựng một hệ
sinh thái doanh nghiệp; iv xây dựng một nền kinh tế tri thức; và v đầu tư vào vốn
con người: tăng cường năng lực của các trường đại học, cơ sở đào tạo.
ơn trìn “N
P p
n n
3.3.1. Sơ ược sự h nh thành và phát triển chính sách công nghiệp c a
quốc nh đến iệp ước Maastricht
ương
n s
n n
p
V ơn qu
n t t ế kỷ XIX ến 1 45: Nền tảng cho
chính sách công nghiệp của Vương quốc Anh trong thế kỷ XIX là chủ nghĩa tự do
cạnh tranh và sự thiết lập các thể chế để thị trường vận hành tốt hơn. Trong nửa đầu
thế kỷ XX, Vương quốc Anh đã theo đuổi chính sách công nghiệp định hướng ngành.
Sở h u nhà nước đã được sử dụng như một công cụ nhằm kìm chế thế độc quyền của
các tập đoàn tư nhân trong một số ngành then chốt.
n s
n n
p
V ơn qu
n t 1945 ến 1 0: Mặc dù có nh ng
cam kết tự do thương mại về mặt hình thức nhưng trên thực tế Vương quốc Anh vẫn
áp đặt quota nhập khẩu đối với các ngành công nghiệp sản xuất của nước ngoài nhằm
bảo vệ việc làm trong nước và nhằm đảm bảo vấn đề an ninh. Chính sách sử dụng các
doanh nghiệp sở h u nhà nước vẫn được duy trì và đặc biệt được thúc đẩy mạnh
trong giai đoạn Công đảng năm quyền t 1945 đến 1951.
n s
n n
p
V ơn qu
n t 1980 – 1992: Vương quốc Anh đã
công cho các doanh nghiệp nh và v a vào năm 2015. Bên cạnh các chính sách cơ
bản trên, Chính phủ Anh còn có các chính sách khác nhằm hỗ trợ phát triển công
nghiệp như: sáng kiến về chuỗi cung cấp sản xuất tiên tiến, các trung tâm Catapult,
và chính sách phát triển vùng.
3.3.3. Một số kết quả phát triển công nghiệp c a ương Quốc nh
Trong hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, Vương Quốc Anh đã trải qua nh ng
thăng trầm trong phát triển kinh tế - gồm cả thời kỳ tăng trưởng, suy thoái và phục
hồi, với một số đặc điểm sau: Thứ n ất, nền công nghiệp của Vương quốc Anh, cụ
thể là sản xuất công nghiệp, có xu hướng suy thoái và chiếm tỷ trọng ngày càng thấp
khi so sánh với ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính; T ứ
, sự tăng trưởng
kinh tế của Vương quốc Anh có sự bất cân bằng khi xét theo khu vực địa l ; T ứ b ,
trong so sánh với các nước công nghiệp phát triển khác, Vương Quốc Anh đã bị tụt
hạng hoặc chịu sự đe dọa tụt hạng ở một số tiêu chí như đầu tư kinh doanh và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Sản xuất công nghiệp của Vương Quốc Anh không có sự sụt
giảm về giá trị gia tăng trong nh ng năm gần đây nhưng thị phần trong sản xuất công
nghiệp trên thế giới lại có sự sụt giảm. Chính sách công nghiệp của Vương Quốc Anh
đã chuyển sang thực hiện chính sách theo chiều ngang, tuy nhiên nó vẫn có một số
nội dung có tính chất của chính sách theo chiều dọc, với việc tập trung nguồn lực vào
một số ngành có tính chất chiến lược và có triển vọng đem lại tầm ảnh hưởng lớn
trong tương lai.
16
CHƢƠNG IV
MỘT SỐ V N ĐỀ R T RA VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
4.1. M t số vấn đề r t ra t chính sách c ng nghiệp của Italia Pháp và Vƣơng
Quốc Anh
4.1.1. Ch nghĩa bảo hộ ch nghĩa tự do và chính sách công nghiệp
Pháp và Vương Quốc Anh đã tụt giảm đáng kể trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của toàn thế giới. Italia đã giảm t mức 5,3 năm 1990 xuống còn 3,5 vào
17
năm 2000 và 3,0 vào năm 2010. Pháp cũng đã chịu mức giảm mạnh khi giảm t
4,4 năm 1990 xuống 3,3 năm 2000 và 2,6 năm 2010. Vương Quốc Anh thậm
chí còn giảm mạnh hơn Pháp và Italia, đặc biệt trong giai đoạn t 2000 đến 2010, khi
giảm t mức 4,5 năm 1990 xuống 3,9 năm 2000 và chỉ còn 2,3 năm 2010.
4.1.4. ai tr c a nhà nước trong phát triển công nghiệp
Nhìn lại lịch sử phát triển chính sách công nghiệp của Italia, Pháp và Vương
Quốc Anh, nhà nước đã có vai trò quan trọng trong sư phát triển công nghiệp ở các
nước này. Chính sách bảo hộ bằng các công cụ thuế quan đã giúp các ngành công
nghiệp non trẻ của các nước này phát triển và có khả năng cạnh tranh với các nước
khác trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, sự can thiệp của nhà nước qua việc
quốc h u hóa và sử dụng doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo đầu tàu phát triển lại chỉ
mang nh ng thành tựu hạn chế trong giai đoạn ngắn ngủi sau Chiến tranh thế giới II.
Mặc dù có nh ng thành công, sự can thiệp của nhà nước qua công cụ là các doanh
nghiệp nhà nước cuối cùng lại đưa đến nh ng thất bại buộc Italia, Pháp và Vương
Quốc Anh phải điều chỉnh chính sách. Nhà nước hiện nay chỉ gi một phần chi phối
nền công nghiệp thông qua việc gi cổ phần tại các tập đoàn trong các lĩnh vực quan
trọng của nền kinh tế.
4.1.5. Khoa học-công nghệ: lợi thế cạnh tranh trong tương ai
Chính sách công nghiệp của cả 3 quốc gia đều tập trung đầu tư và thúc đẩy sự đổi
mới và phát triển các công nghệ mới. Đây là một đặc điểm chủ yếu của chính sách công
nghiệp theo chiều ngang khi cho rằng các kết quả nghiên cứu khoa học và cải tiến công
nghệ sẽ có các tác động lan t a đến các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, trong đó có sản
xuất công nghiệp. Italia đã xác định phát triển công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao
là một trong hai mục tiêu chính của „Industria 2015‟, trong khi Pháp xác định 34 dự án
trong chương trình Nước Pháp công nghiệp mới với trọng tâm là các ngành công nghệ cao
trong xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng cùng với sự nổi lên của ngành
điện tử dựa vào đầu tư nước ngoài, nhưng nó không đồng nghĩa với việc người lao
động Việt Nam có kỹ năng cao hơn và trình độ công nghệ cao hơn. T ứ t , cải cách
doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vẫn đang là thách thức và
thu hút sự thảo luận ở Việt Nam. T ứ năm, các ngành được lựa chọn cho thấy rõ
mong muốn khai thác các lợi thế cạnh tranh hiện tại của đất nước hơn là có sự tham
chiếu với các quốc gia khác và dựa vào các dự báo về xu hướng phát triển công
nghiệp trong tương lai. u ùn , sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đang
đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và nền công nghiệp Việt Nam vào thế phải cạnh
tranh bình đẳng trên cả thị trường trong nước và quốc tế.
4.3. M t số khuyến ngh chính sách cho Việt Nam
T kinh nghiệm chính sách công nghiệp của Italia, Pháp và Vương Quốc Anh
cũng như thực trạng phát triển công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, một số khuyến
chính sách có thể rút ra cho Việt Nam như sau:
T ứ n ất, t kinh nghiệm của các nước EU được nghiên cứu, Việt Nam có thể
thúc đẩy sự phát triển của SME nói riêng và doanh nghiệp Việt Nam nói chung bằng
cách ưu tiên mua hàng hóa của các doanh nghiệp này khi thực hiện mua sắm công,
sớm thiết lập một thị trường khoa học công nghệ, tiếp tục cải cách hành chính….
T ứ
, nhà nước cần tập trung thu hút đầu tư của các SME đến t EU vào
Việt Nam. Điều này phù hợp với chính sách của EU về khuyến khích các SME mở
rộng kinh doanh ra thị trường thế giới.
T ứ b , Việt Nam cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước đã được xác định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này
và của cả nền kinh tế.
T ứ t , t kinh nghiệm của một số nước EU nêu trên và thách thức mang tính
thực tiễn đối với lực lượng lao động công nghiệp của Việt Nam hiện nay, Chương
trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề cần tập trung vào chất lượng hơn là số lượng
học viên.
phát triển không đồng đều gi a các vùng trong quốc gia và không khai thác
được sức mạnh của các doanh nghiệp nh và v a. Với hoàn cảnh như vậy, cả
ba quốc gia đã phải tư nhân hóa hàng loạt doanh nghiệp lớn và giảm bớt sự can
thiệp của mình vào nền kinh tế. Do vậy, chính sách công nghiệp chung của EU
cần được nhìn nhận là kết quả của sự đồng thuận gi a các nước thành viên
trong việc định hình chính sách chung của EU và là sự phản ánh xu hướng
chính sách quốc gia trong đó.
2) Chính sách công nghiệp theo chiều ngang đã được triển khai tại EU và ba
nước thành viên được nghiên cứu hơn 20 năm qua, tuy nhiên tính hiệu quả của
chính sách này chưa thực sự rõ ràng nếu „soi‟ vào kết quả phát triển công
nghiệp ở cả ba nước. Mặc dù cả ba nước vẫn thuộc nhóm bảy nước công
nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, tuy nhiên tỷ trọng của các nước này trong
sản xuất công nghiệp toàn cầu đã sụt giảm liên tục. Các nước này đã chịu sự
cạnh tranh mạnh mẽ t các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt tại khu vực Đông và
Đông Nam Á. Ngoại tr Vương quốc Anh, giá trị gia tăng trong sản xuất công
nghiệp của Italia và Pháp đều giảm mạnh. Châu Âu nói chung và ba nước được
nghiên cứu nói riêng đã đánh mất sức mạnh trong nhiều ngành công nghệ cao
như điện tử vào tay các nước Đông Á như Trung Quốc và Hàn Quốc. Tuy
nhiên, cần lưu rằng, sự sụt giảm sản xuất công nghiệp ở châu Âu cũng một
phần do sự dịch chuyển vốn t châu Âu sang các nước đang phát triển ở Đông
21
và Đông Nam Á nhằm khai thác lợi thế so sánh của các khu vực này và sự dịch
chuyển sang giai đoạn phát triển hậu công nghiệp ở EU.
3) Trong môi trường thống nhất khu vực và toàn cầu hóa kinh tế, sự cạnh tranh đã
trở thành t khóa quan trọng cho các chính sách về kinh tế, trong đó có cả
chính sách công nghiệp. Các công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế
nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng đã phải chịu nhiều hạn chế. Các
quốc gia không thể tiến hành các chính sách bảo hộ sử dụng hàng rào thuế
nhà nước nhằm mang lại sự hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp nhưng
nên thực hiện hết sức thận trọng. Nhà nước cũng nên đảm bảo tính cạnh tranh
bình đẳng gi a các thành phần kinh tế và góp phần nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trước sự cạnh tranh do quá trình toàn cầu hóa và khu
vực hóa mang lại. Với việc hội nhập sâu rộng vào khu vực ASEAN và tham
22
gia các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, Việt Nam cần
cân nhắc các quy định trong các hiệp định này trong việc hoạch định chính
sách công nghiệp nhằm khai thác tối đa nh ng cơ hội mà chúng mang lại.
6) Với giới hạn nghiên cứu chỉ ở ba nước thành viên EU, đề tài chắc chắn không
tránh kh i nh ng hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là còn chưa đề cập được một số
kinh nghiệm tốt t các quốc gia công nghiệp khác ở EU như Cộng hòa Liên
bang Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha…vv. Tuy nhiên, nh ng hiểu biết về cơ sở
lý luận về chính sách công nghiệp nói chung và chính sách công nghiệp ở ba
quốc gia cụ thể này sẽ là nền tảng để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và mở
rộng hướng nghiên cứu về chính sách công nghiệp ở các quốc gia EU khác
cũng như các khu vực khác./.
23
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Đỗ Tá Khánh 2015 , “Sự hình thành và phát triển chính sách công nghiệp ở
Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 5 năm 2015, tr.26-35.
2. Đỗ Tá Khánh 2014 , “Chính sách công nghiệp ở Cộng hòa Italia”, Tạp chí
Nghiên cứu Châu Âu, số 10 năm 2014, tr.25-33.