SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ĐỂ DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI VỀ CHẤT
LỚP 11 NÂNG CAO THEO HƯỚNG TÍCH CỰC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Lưu Thị Thu Quyên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2013
1
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................ Error! Bookmark not defined.
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................. 1Error! Bookmark not defined.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: ........................... Error! Bookmark not defined.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ................... Error! Bookmark not defined.
4. PHẠM VI ĐỀ TÀI:......................................... 2Error! Bookmark not defined.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ......................................... Error! Bookmark not defined.
1. LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP ................... 2Error! Bookmark not defined.
1.1. Vì sao cần sử dụng thí nghiệm trong giờ học bài học về chất ở môn Hóa
học ..................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2. Thực trạng sử dụng thí nghiệm Hóa học trong bài dạy về chất ở trường
THPT ............................................................... 3Error! Bookmark not defined.
1.3. Các phương pháp sử dụng thí nghiệm trong các bài dạy về chất .....3Error!
Sử dụng thí nghiệm có ý nghĩa to lớn trong giảng dạy hóa học, là một phương
pháp có hiệu quả để hình thành hệ thống các khái niệm hóa học, dạy cho học sinh
cách thức tư duy hợp lí, rèn luyện óc độc lập suy nghĩ phát triển các kỹ năng kỹ xảo
thí nghiệm.
Thí nghiệm có thể được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, khi
nghiên cứu bài mới, để ôn tập củng cố kiến thức.
Trong dạy học, thí nghiệm được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để đạt được
mục đích dạy học tích cực và việc sử dụng thí nghiệm được coi là tích cực khi thí
nghiệm được coi là nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm kiếm kiến thức mới
dưới nhiều hình thức khác nhau.
Sau đây là ĐỀ TÀI: “Sử dụng thí nghiệm để dạy học một số bài về chất
lớp 11 nâng cao theo hướng tích cực ở trường THPT”
1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về vấn đề sử dụng thí nghiệm một cách tích
cực khi dạy học một số bài học về chất trong chương trình hóa học lớp 11 nâng cao
về các mặt:
- Lý luận về phương pháp.
- Hệ thống câu hỏi khai thác thí nghiệm.
- Một số ví dụ về các thí nghiệm biểu diễn của giáo viên trong các bài dạy về
chất trong chương trình lớp 11nâng cao.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu tài liệu.
- Tiến hành các thí nghiệm có liên quan.
- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượng học tập của
học sinh.
4. PHẠM VI ĐỀ TÀI:
đến nay đã thực hiện được một số thành công mới:
- Chú trọng tới vấn đề tăng cường hoạt động tích cực nhận thức của học
sinh.
- Khuyến khích sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động
dạy học.
- Đầu tư phương tiện dạy học hiện đại.
- Nâng cao tính cơ bản, tính thực tiễn, tính hiện đại của chương trình học.
- Học sinh hoạt động độc lập, tích cực hơn và có khả năng làm việc theo
nhóm cao hơn trước đây.
Trong dạy học môn Hóa học, phương tiện dạy học trực quan, hiện đại đặc biệt
là phòng thí nghiệm, thiết bị thí nghiệm được đầu tư, chú trọng. Giáo viên và học
sinh được thực hành nhiều hơn.
Tuy nhiên còn một số tồn tại cần được khắc phục:
- Thỉnh thoảng giáo viên biểu diễn thí nghiệm nhưng chưa thực sự phát huy
hết tác dụng của thí nghiệm hóa học. Đó là mới tiến hành làm thí nghiệm trên lớp
một cách hình thức mà không chú trọng tới việc khai thác các thí nghiệm đó một
cách tối đa, không rút ra kết luận hoặc mở rộng vấn đề mà chỉ làm thí nghiệm cho
học sinh xem.
- Giáo viên ngại chuẩn bị, biểu diễn thí nghiệm trong giờ học lý thuyết vì ngại
tiếp xúc với hóa chất, dẫn đến tình trạng học bo, học chay. Những giờ thực hành trở
thành những tiết luyện tập.
3
- Hóa chất, dụng cụ còn có sai sót, hỏng hóc, giáo viên chưa quan tâm đến một
số lưu ý trong các thí nghiệm dẫn đến thi nghiệm không thành công và đương nhiên
giáo viên sẽ không đạt được mục đích sư phạm của mình.
1.3. Các phương pháp sử dụng thí nghiệm trong các bài dạy về chất
Trong các trường phổ thông thường sử dụng các hình thức thí nghiệm sau đây:
trong chương trình, tính phức tạp của dụng cụ và độc hại của hoá chất, kĩ năng thí
nghiệm đã có của học sinh. Với các thí nghiêm độc hại, dễ gây cháy nổ thì cần
được thực hiện bởi giáo viên. Các thí nghiệm đơn giản hơn, giáo viên có thể giao
cho học sinh làm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Các thí nghiệm của giáo viên cần tăng cường theo phương pháp nghiên cứu
hạn chế việc sử dụng thí nghiệm theo phương pháp minh hoạ nhằm phát huy tính
tích cực nhận thức của học sinh, rèn luyện tính tự học và tư duy của học sinh.
Ở đây, do chưa có thời gian nghiên cứu sâu, thực hành nhiều và kiểm chứng
nên trong đề tài này tôi chỉ xin đi sâu vào Mức độ 2: Phương pháp nghiên cứu thí
nghiệm biểu diễn của giáo viên trong các bài dạy về chất – cụ thể là với bài dạy về
chất trong chương trình lớp 11 nâng cao.
1.4. Những yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm:
Phương pháp nghiên cứu thường được áp dụng để giúp học sinh phát hiện một
tính chất mới, hoặc dẫn tới một khái niệm mới.
Khi sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu, học sinh không tiếp thu
một cách thụ động những kiến thức có sẵn mà học sinh phải tự giành lấy kiến thức
qua hoạt động tư duy độc lập, không chỉ nhằm giúp học sinh nắm được kiến thức
mà còn dạy học sinh phương pháp để đi đến kiến thức đó. Vì vậy sử dụng thí
nghiệm theo phương pháp nghiên cứu là phương pháp tích cực.
Các bước tiến hành phương pháp nghiên cứu:
- Bước 1: Đặt vấn đề, xác định mục đích nghiên cứu.
- Bước 2: Lập kế hoạch nghiên cứu.
Đề xuất các giả thuyết.
- Bước 3: Thực hiện kế hoạch theo giả thuyết: Làm thí nghiệm.
5
- Bước 4: Kết luận về kết quả nghiên cứu.
- Bước 5: Tìm kiếm, đề xuất các phương trình phản ứng nhằm làm rõ
- Học sinh phái nắm vững những
kiến thức có liên qua đã được học để đặt
ra các giả thuyết và lập kế hoạch giải
quyết ứng với từng giả thuyết.
- Học sinh phải quan sát và mô tả đầy
đủ các hiện tượng của thí nghiệm, xác
nhận giả thuyết đúng.
- Học sinh rút ra kết luận
- Giáo viên phải kết luận lại và mở
6
rộng (nếu cần).
- Học sinh tự đề xuất các phản ứng có
thể chứng minh, mở rộng kết luận đã
đưa ra.
- Một số chú ý khác của giáo viên
+ Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên
cần kết hợp hợp lý thí nghiệm và lời nói,
hướng dẫn học sinh quan sát tập trung
vào những dấu hiệu bản chất.
+ Cách sắp xếp vị trí, sắp đặt đồ dùng
thí nghiệm, cách đưa ống nghiệm lên để
học sinh quan sát tốt nhất.
1.5. Vận dụng sử dụng thí nghiệm hoá học theo hướng dạy học tích cực vào bài
cụ thể trong một số bài dạy về chất lớp 11 nâng cao.
(1): nước không tự phun lên
-
(2): nước tự từ từ phun lên, dung dịch
có màu hồng.
-
(3): nước phun lên nhanh chóng, dung
dịch không đổi màu.
-
(4): nước phun lên nhanh chóng, dung
dịch có màu hồng.
- - Giáo viên làm thí nghiệm
- - Kết luận: NH3 tan nhiều trong nước
tạo thành dung dịch có tính bazơ.
- Lưu ý: để thí nghiệm có kết quả tốt
cần dùng bình thật khô và phải thu
đầy khí. Trước lúc đậy bình bằng
nút có ống vuốt nhọn xuyên qua có
thể nhúng vào nước để khi úp
ngược bình vào chậu nước thì nước
phun lên nhanh chóng.
- Quan sát hiện tượng khẳng định giả
+ Cấu trúc phân tử NH3.
nào?
- - Làm thí nghiệm.
- - Kết luận: NH3 + H+ NH+4
+ Thuyết axit- bazơ của Bronstes - Kế hoạch nghiên cứu: dùng axit HCl
để nghiên cứu.
- Quan sát hiện tượng, giải thích hoàn
thành phiếu học tập số 2: Khói trắng
xuất hiện do những hạt nhỏ NH4Cl
(rắn) được tạo thành.
- Lưu ý: Nên đặt đũa nhúng dung dịch
NH3 dưới đũa nhúng dung dịch axit
HCl ví NH3 khuếch tán nhanh hơn.
Phiếu học tập số 2:
Thí nghiệm
Cách tiến hành Hiện tượng
Giải thích
Kết luận
c. Ví dụ 3: Nghiên cứu thí nghiệm tính ôxi hóa của axit HNO3.
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
(3) Cu , Fe là các kim loại hoạt động
trung bình chỉ đưa HNO3 về NO2
hoặc NO; Cu, Fe được đưa lên số
oxihóa cao nhất.
- Làm thí nghiệm: Giáo viên thực - Quan sát hiện tượng khẳng định giả
hiện một số thí nghiệm
thuyết (3) đúng, giải thích hoàn thành
phiếu học tập số 3:
+ Kim loại tác dụng với HNO3 đặc
và HNO3 loãng
+ Học sinh quan sát màu sắc của khí
thoát ra và viết phương trình:
+ Phi kim tác dụng với HNO3 đặc.
Cu + 4HNO3đ Cu(NO3)2 + 2NO2 +
+ Hợp chất tác dụng với HNO3 2H O
2
loãng.
3Cu + 8HNO3(l) 3Cu(NO3)2 +
- - Kết luận: axit nitơric là chất ôxi hóa
2NO + 4H2O
mạnh, tác dụng được với hầu hết kim
loại, một số phi kim và hợp chất có S + 6HNO3đ H2SO4 + 6NO2 +
tính khử. Khả năng ôxi hóa của axit 2H2O
nitơric phụ thuộc vào nồng độ của
axit và độ hoạt động của chất phản 3FeO + 10HNO3loãng 3Fe(NO3)3 +
ứng với axit và nhiệt độ.
NO + 5H2O
- Lưu ý: các khí sinh ra độc cần đậy
nút kín ống nghiệm hoặc sử dụng
bông tẩm dung dịch NaOH.
-
- Các giả thuyết:
(1) 2NaNO3 2NaNO2 + O2
Cu(NO3)2 Cu(NO2)2 + O2
(2) 4NaNO3 2Na2O+ 4NO2 + 2O2
2Cu(NO3)2 2CuO + 4NO2 + O2
(3) 4NaNO3 2Na2O+ 4NO2 + 2O2
Cu(NO3)2 Cu + 2NO2 + O2
(4) 2NaNO3 2NaNO2 + O2
- Làm thí nghiệm: GV làm thí
nghiệm.
- Kết luận: Muối nitrat dễ bị nhiệt
2Cu(NO3)2 2CuO + 4NO2 + O2
- Quan sát hiện tượng, khẳng định giả
thuyết 4 đúng, giải thích hoàn thành
11
phân hủy, sản phẩm của phản ứng phiếu học tập số 4:
tùy thộc vào bản chất của cation kim
+ Ống nghiệm 1: thấy có khí thoát ra
loại tạo muối:
và làm que đóm bùng cháy (có ôxi),
+ Muối nitrat của kim loại hoạt động khi cho một ít H2SO4 loãng vào chất
mạnh (trước Mg) phân hủy thanh rắn còn lại thấy có khí màu nâu thoát
muối nitrit và ôxi.
- Làm thí nghiệm: Giáo viên thực nghiệm của dung dịch Na3PO4 với
hiện thí nghiệm giữa Na3PO4 với dung dịch AgNO3
AgNO3 sau đó nhỏ vào giọt dung
dịch HNO3 vào ống nghiệm
- Quan sát hiện tượng, giải thích hoàn
thành phiếu học tập số 5: Tạo kết tủa
12
- - Kết luận: thuốc thử để nhận biết Ion màu vàng sau đó kết tủa tan.
PO43- trong dung dịch muối phốt phát
Na3PO4+3AgNO3Ag3PO4+ 3NaNO3
là dung dịch AgNO3.
Ag3PO4+3HNO3 H3PO4 + 3AgNO3
-
Phiếu học tập số 5:
Thí nghiệm
Cách tiến hành Hiện tượng
Giải thích
Kết luận
C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết quả nghiên cứu.
Tôi đã tiến hành kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức và mức độ ghi nhớ kiến
%
SL
%
SL
%
1
2,5
12
27
25
57
6
13,5
2
4,5
Để nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học ở trường THPT, trong đó có
việc nâng cao chất lượng sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học, tôi xin đề
xuất một số ý kiến sau:
- Tăng cường công tác chuyên môn nghiệp vụ thực hành cho các đồng chí giáo
viên bằng nhiều hình thức: tổ chức các lớp học chuyên đề, dạy học rút kinh
nghiệm, tổ chức các buổi hội thảo trong nhà trường, liên trường hoặc do sở
GD – ĐT tổ chức.
- Thường xuyên kiểm tra giám sát việc sử dụng phòng thí nghiệm, số lượng và
chất lượng của hóa chất, dụng cụ có trong phòng thí nghiệm hiện nay.
- Mỗi trường phổ thông cần có một phụ tá thí nghiệm có chuyên môn nghiệp
vụ.
Do thời gian không nhiều dựa trên ý kiến chủ quan của bản thân nên việc
nghiên cứu còn chưa sâu, và còn nhiều thiếu sót. Mặc dù còn nhiều hạn chế, song
tôi hi vọng ít nhiều cũng là đóng góp nhỏ, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông.
Tôi mong nhận được sự góp ý, phê bình của các cộng sự, nhà chuyên môn
và các thầy cô giáo.
Xin chân trọng cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị:
Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi
viết, không sao chép của người khác.
Người viết
Lưu Thị Thu Quyên
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO