TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
-------o0o-------
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ
HÌNH NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN”
MÃ SỐ: T2012-74
Chủ trì đề tài
: ThS. Dương Thị Thu Hoài
Thái Nguyên 12/2012
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. MỞ ĐẦU………………………………………………………......
1.1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………….....................
1.2. Mục đích, mục tiêu của đề tài …………………………………………...
1
1
3
8
nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam………………………………………………
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1. Đối tượng - Địa điểm - Thời gian nghiên cứu……………………………...
11
18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu……………………………………………………..
3.1.1. Thời gian nghiên cứu …………………………………………………….
3.2. Nội dung nghiên cứu……………………………………………………………...
3.3. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...
3.3.1. Phương pháp chọn mẫu…………………………………………………..
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu………………………………………………
3.3.4. Phương pháp phân tích số liệu…………………………………………..
18
18
18
18
18
18
18
19
20
4.3. Nhận xét và đề xuất một số giải pháp để phát triển mô hình nông nghiệp
36
39
công nghệ cao đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội……………………….
4.3.1. Nhận xét đánh giá ………………………………………………………..
4.3.2. Đề xuất giải pháp phát triển mô hình NNCNC ………………………….
42
42
42
* Đối với khu NNCNC…………………………………………………………
* Đối với các mô hình ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp…………..
PHẦN V.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………….
43
44
45
5.1. Kết luận……………………………………………………………………..
5.2. Kiến nghị…………………………………………………………………...
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………
45
45
47
Nghĩa
BVTV
: Bảo vệ thực vật
CNC
: Công nghệ cao
HTX
: Hợp tác xã
KHCN
: Khoa học công nghệ
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
KHSS
: Khoa học sự sống
NNCNC
: Nông nghiệp công nghệ cao
– Mã số: T2012 - 74
– Chủ nhiệm đề tài:
Dương Thị Thu Hoài
Tel: 0986737493
E-mail: [email protected]
– Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Nông lâm Thái Nguyên
– Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
– Thời gian thực hiện: Từ 01/2012 đến 12/2012
1. Mục tiêu:
- Tìm hiểu được thực trạng triển khai mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại
Thái Nguyên.
- Đưa ra được những khó khăn, thuận lợi với các khu NNCNC và các mô hình
ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất được một số giải pháp phát triển khai mô hình nông nghiệp công nghệ
cao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2. Nội dung chính:
- Thực trạng việc triển khai mô hình nông nghiệp công nghệ cao trên đia
bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai mô hình nông
nghiệp công nghệ cao.
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao
đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội.
3. Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế - xã hội,
v.v…)
01 Báo cáo khoa học là tài liệu cho sinh viên và những người quan tâm đến
– Implementing Institution:
– Cooperating Institution(s): Thai Nguyen University of Agriculture and
forestry
– Duration: from 01/2012 to 12/2012
1. Objectives:
– Find out the status deploy high-tech agricultural model in Thai Nguyen
– Given the difficult, convenient with high-tech areas and the application
model science and technology to agricultural production in the province.
– To propose some solutions for deploying high-tech agricultural model in the
province of Thai Nguyen.
2. Main contents:
– Current status of the implementation of high-tech agricultural model in the
province of Thai Nguyen.
–
Evaluate the advantages and difficulties in the implementation of high-tech
agricultural model.
– To propose some solutions to develop high-tech agricultural models meet
the trend of social development.
3. Results obtained:
01 Report science materials for students and those interested in the field of hightech agriculture.
The implementation of deploying high-tech Agricultural activities in the
province of Thai Nguyen in the past with positive changes. The province has
favorable conditions for high-tech Agriculture formation and development: natural
conditions, infrastructure, physical facilities, staff science and technology in
agriculture ... Let So far, the province has had the high-tech agriculture as the
Center for Applied and Science transfer chairs, plant cell zone of the Institute of
cao, các lĩnh vực công nghệ thường được ứng dụng là tạo giống bằng công nghệ
nuôi cấy mô (hoa, cây ăn quả), lai tạo giống cây năng suất cao, chất lượng tốt, sạch
bệnh, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; phương pháp canh tác hữu cơ bảo đảm
sạch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm; kỹ thuật trồng cây trong nhà kính…
Ở nước ta, thời gian qua sản xuất nông nghiệp phát triển khá nhanh, với
những thành tựu trong các lĩnh vực chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác…tạo ra khối
lượng sản phẩm, hàng hoá đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc
dân. Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn còn manh mún, quy mô sản xuất nhỏ,
phương thức và công cụ sản xuất lạc hậu, kỹ thuật áp dụng không đồng đều dẫn
đến năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng sản phẩm không ổn định. Hơn nữa,
sản phẩm lại chưa được chế biến dẫn đến khả năng cạnh tranh kém. Ngay cả trái
cây, rau quả và hoa cảnh là những mặt hàng có lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng
khó có chỗ đứng trên thị trường thế giới và ngay cả thị trường trong nước. Vì vậy,
để thúc đẩy xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, thu hẹp khoảng cách so với
các nước tiên tiến, đặc biệt là trong xu thế hội nhập hiện nay, việc xây dựng các
Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao là cần thiết.
Ông Nguyễn Tấn Hinh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và môi
trường (Bộ NNPTNT) đánh giá, hiện nay chưa có nhiều công nghệ, cũng như mô
hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiệu quả có thể áp dụng tại Việt Nam.
Trong khi đó, kinh phí và nhân lực cho nghiên cứu, nhập khẩu phát triển nông
nghiệp công nghệ cao còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn lúng
túng, chưa có kế hoạch cụ thể cũng như chưa đầu tư cho công tác quy hoạch và
xây dựng vùng nông nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hiện tại
Bộ NNPTNT đang gấp rút chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể khu nông nghiệp
công nghệ cao và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trình Thủ tướng phê
duyệt, dự kiến đến ngày 1/6 sẽ hoàn thành. Thứ trưởng Bộ NNPTNT Bùi
Bá Bổng lưu ý, nông nghiệp công nghệ cao là một chương trình rất phức tạp, do
đó, không thể quy hoạch tràn lan mà phải lựa chọn các vùng có điều kiện thuận
- Đưa ra được những khó khăn, thuận lợi với các khu NNCNC và các mô
hình ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất được một số giải pháp phát triển khai mô hình nông nghiệp công
nghệ cao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài đánh giá một cách tổng quát thực trạng triển khai mô hình nông
nghiệp công nghệ cao tại Thái Nguyên, vì vậy đây cũng sẽ là tài liệu tham khảo
góp phần củng cố thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt động triển khai các
mô hình nông nghiệp công nghệ cao sắp tới.
- Là tài liệu tham khảo cho các bạn đọc quan tâm.
PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm N ông nghiệp công nghệ cao
* Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là gì ?
Theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và PTNT cho rằng Nông
nghiệp công nghệ cao “Là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới
vào sản xuất,bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của
quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới,
công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất
lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền
vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”.
* Chức năng của Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC)
Theo ý kiến của các nhà khoa học trong nước và quốc tế cho rằng :
* Trên thế giới các khu nông nghiệp công nghệ cao trong quá trình hình
thành và phát triển đã thể hiện 5 chức năng lớn:
- Là khu trình diễn, vườn thực nghiệm nông nghiệp hiện đại hóa, là vườn
ươm xí nghiệp chuyển hóa thành quả nghiên cứu khoa học công nghệ thành sức
Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất
2. Giống và góc ghép
3. Quản lý đất và giá thể
4. Phân bón và chất phụ gia
5. Nước tưới
6. Hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật)
7. Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch
8. Quản lý và xử lý chất thải
9. An toàn lao động
10. Ghi chép, lưu trử hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm
11. Kiểm tra nội bộ
12. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
2.1.3. Thế nào là rau an toàn?
* Khái niệm về RAT
RAT là rau được sản xuất với quy trình kỹ thuật đảm bảo an toàn, sản phẩm đến
người tiêu dùng không gây độc hại.
Bốn chỉ tiêu an toàn:
- An toàn về dư lượng thuốc BVTV (nghĩa là dư lượng thuốc BVTV thấp hơn
mức cho phép)
- An toàn về hàm lượng nitơrat (NO3).
- An toàn về kim loại nặng.
- An toàn về vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh cho người.
* Nguyên tắc trong việc sản xuất RAT.
Không trồng rau trên vùng đất ô nhiễm
Không dùng phân tươi, nước giải tưới cho rau.
Không dùng nước bẩn tưới cho rau: Nước thải từ nguồn gây ô nhiễm (như
ở nguyên tắc 1).
những thành tựu khoa học công nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh doanh
của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng cả
nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ.
2.2.1. Sản xuất tại các khu nông nghiệp công nghệ cao đạt năng suất cao kỷ lục
Ví dụ : - Tại Ixarel năng suất cà chua đạt 250 - 300 tấn/ha, bưởi đạt 100 150 tấn/ha, hoa cắt cành 1,5 triệu cành/ha. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đã
tạo ra 1 giá trị sản lượng và thu nhập bình quân 120.000 -150.000 USD/ha/năm.
- Trung Quốc đạt giá trị sản lượng và thu nhập bình quân 40 50.000 USD/ha/năm. Tăng gấp 40 - 50 lần so với các mô hình trước đó.
Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ
cao và sự phát triển các khu NNCNC đã và đang trở thành mẫu hình cho nền nông
nghiệp tri thức thế kỷ XXI.
2.2.2. Những ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây trồng trên thế giới
a. Trong lĩnh vực công nghệ sinh học
Công nghệ sinh học đã góp phần đẩy nhanh sự phát triển về mặt năng suất
và chất lượng cây trồng. Trong lĩnh vực giống cây trồng là việc tạo ra các giống
cây trồng biến đổi gene với các đặc tính kháng được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh.
Diện tích cây trồng biến đổi gene (GMC) trên thế giới liên tục tăng hàng
năm. Năm 2005 có 90 triệu ha. Trong đó đậu nành chuyển gien là loại cây trồng
có diện tích gieo trồng lớn nhất với 54,4 triệu ha (chiếm 60% diện tích GMC), tiếp
đến là ngô (với diện tích trồng là 21,2 triệu ha chiếm 24%), bông (với diện tích 9,8
triệu ha, chiếm 11%) và cải dầu canola (với 4,6 triệu ha, chiếm 5%). Năm 2010 có
148 triệu ha. Trong đó đậu nành chiếm 73,3 triệu ha, ngô 46,8 triệu ha, bông với
diện tích 9,8 triệu ha. Đến nay trên thế giới đã có 29 quốc gia đã trồng cây biến đổi
gene, EU có 08 nước (Tây ban Nha, Bồ đào Nha,Tiệp khắc, Ba Lan, Rumani, Đức,
Slovakia, Anh); Châu á có 04 nước (Trung quốc, Ấn Độ, Philippines, Myanmar…
Hoa Kỳ, Argentina, Brazil, Canada và Trung Quốc là những nước trồng cây
công nghệ sinh học với diện tích lớn trên thế giới. (Hoa Kỳ là 49,8 triệu ha chiếm
55% diện tích trồng cây chuyển gen trên toàn cầu), trong đó khoảng 20 % là các
sản phẩm gien xếp chồng (stacked gene) có chứa hai hoặc ba gien, cây ngô ở Hoa
c. Công nghệ cao trong canh tác và điều khiển cây trồng
* Công nghệ trồng cây trong nhà kính
Được gọi là nhà màng do việc sử dụng mái lớp bằng màng polyethylen
thay thế cho kính (green house) hay nhà lưới (net house).
Trên thế giới, công nghệ trồng cây trong nhà kính đã được hòan thiện với
trình độ cao để canh tác rau và hoa. Các nhà kính với hệ thống điều khiển tự động
khá hiện đại được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như Hà Lan, Pháp, Bỉ, Israel
đã sản xuất lượng lớn hoa và rau phục vụ cho xuất khẩu.
Trong các nhà kính này, các khâu trong quy trình trồng trọt đều được điều
khiển tự động theo lập trình sẵn trong máy vi tính như: chế độ chiếu sáng, nhiệt độ,
tưới nước, bón phân, phun thuốc BVTV…
Tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan hiện nay đã có hệ thống nhà kính
trồng cây phát triển khá nhanh đặc biệt là ở Trung Quốc.
Cùng với sự phát triển của các khu NNCNC thì công nghệ trồng cây trong nhà
kính cũng phát triển. Tuy nhiên, những mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu
tố trong nhà kính cũng có sự thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện khí hậu của
từng vùng, trong đó hệ thống điều khiển có thể tự động hoặc bán tự động.
* Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể
Công nghệ trồng cây trong dung dịch đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và trở
nên quen thuộc đối với các nhà vườn sử dụng hệ thống nhà kính.
Trong những năm gần đây, một số nước như Thái Lan, Israel, Đài Loan đã
phát triển mạnh công nghệ sản xuất rau sạch, trồng hoa để phục vụ nhu cầu trong
nước và xuất khẩu bằng công nghệ trồng cây không đất (soilless culture).
Trong đó các kỹ thuật trồng cây thủy canh (hydroponics) dựa trên cơ sở
cung cấp dinh dưỡng qua nước (fertigation), kỹ thuật khí canh (aeroponics) – dinh
dưỡng được cung cấp cho cây dưới dạng phun sương mù và kỹ thuật trồng cây trên
giá thể - dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp ở dạng lỏng qua giá thể trơ.
Kỹ thuật trồng cây trên giá thể (solid media culture) thực chất là biện pháp
Ở nước ta, các cơ quan nghiên cứu như (Viện, Trường, Trung tâm…) trong
thời gian qua đã nghiên cứu, hoàn thiện nhiều quy trình tiến bộ kỷ thuật, công nhận
hàng chục giống rau, hoa, cây ăn trái, cây công nghiệp, giống vật nuôi…bước đầu đã
có những kết quả ứng dụng trong sản xuất. Nhiều công nghệ cao, công nghệ sinh
học, vật liệu mới ứng dụng trong sản xuất đã làm cho năng suất cây trồng vật nuôi
tăng lên đáng kể góp phần giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giãm nghèo một
cách hiệu quả. Nhiều địa phương đã xây dựng những mô hình nông nghiệp công
nghệ cao. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và PTNT, các lọai hình nông nghiệp
công nghệ cao ở Việt nam hiện nay có thể chia ra như sau:
a. Các khu NNCNC
Các mô hình này chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, hiện nay chỉ có ở
một số tỉnh thành phố đi tiên phong như: TP. Hồ Chí Minh, Hà nội, Hải phòng,
Lâm Đồng, Vĩnh phúc… Đặc điểm của loại mô hình này là Nhà nước quy hoạch
thành khu tập trung với quy mô từ 100 ha trở lên. Tiến hành thiết kế quy hoạch
phân khu chức năng theo hướng liên hòan từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến, giới
thiệu sản phẩm. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ: giao
thông, điện nước, thông tin liên lạc, xử lý môi trường … đến từng phân khu chức
năng, quy định các tiêu chuẩn công nghệ và các lọai sản phẩm được ưu tiên phát
triển trong khu NNCNC. Các tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được
quyền đăng ký và đầu tư vào khu để phát triển sản phẩm.
- Thành phố Hồ Chí Minh: Là địa phương đầu tiên xây dựng khu NNCNC
theo mô hình đa chức năng, gắn nghiên cứu, trình diễn, chuyển giao công nghệ với
việc tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái đồng thời thu hút đầu tư của các doanh
nghiệp. Quy mô diện tích là 88 ha được Thành phố đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ.
Mô hình tổ chức quản lý của khu NNCNC dự kiến giai đọan đầu là đơn vị sự
nghiệp có thu, tự túc một phần kinh phí họat động. Sau vài năm đi vào họat động
có hiệu quả sẽ chuyển sang mô hình quản lý mới là doanh nghiệp, có thể là công ty
cổ phần bao gồm các nhà đầu tư đang sản xuất trong Khu. Qua hoạt động đã có
nghệ cấy mô thực vật, sản xuất cây giống sạch bệnh, sản xuất rau hoa cao cấp,
nấm dược liệu….
Ưu điểm của loại hình này: Đảm bảo được tính đồng bộ liên hoàn từ khâu
nghiên cứu đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp tham gia
sản xuất trong Khu có sản lượng hàng hóa tập trung, kiểm soát được tiêu chuẩn,
chất lượng nông sản, giảm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị
diện tích. Được hưởng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuê đất, thuế….
Hạn chế: Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho Khu lớn nên khả năng thu hồi vốn chậm,
không thích hợp với một số đối tượng cây con đòi hỏi khỏang không gian cách ly lớn.
Các doanh nghiệp có nguồn vốn thấp khó có thể tham gia đầu tư vào Khu.
Đến nay, tại Lâm Đồng đã có nhiều mô hình NNCNC đạt hiệu quả. Tại Đà
Lạt, mô hình trồng ớt ngọt CNC cho doanh thu trên 1 tỷ đồng/ha, cao gấp 1,5 lần,
sản lượng quả loại 1 gấp 1,7 lần so với bình thường; rau an toàn 7 vụ/năm, đạt
doanh thu 400 triệu đồng/ha/năm; dâu tây đạt 300 triệu đồng/ha/năm; hoa cúc 2,53 vụ/năm, đạt doanh thu 180 triệu đồng/ha/năm. Tại huyện Đức Trọng, mô hình
hoa layơn doanh thu 330 triệu đồng/ha/năm, hoa lys 566 triệu đồng/ha/năm, hoa
cúc 2 vụ/năm, doanh thu trên 1 tỷ đồng/ha; cải thảo 3 vụ/năm, doanh thu 180 triệu
đồng/ha. Ở huyện Đơn Dương, mô hình cà chua cho năng suất 200 - 300 tấn/ha,
gấp 5 - 7 lần bình thường.
Sản phẩm NNCNC đạt năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng tiêu chuẩn và yêu
cầu của thị trường quốc tế đã tạo điều kiện cho nông sản Lâm Đồng khẳng định
thương hiệu. Hiện đã có 7 đơn vị được chứng nhận GlobalGAP, 1 đơn vị được
chứng nhận sản xuất rau hữu cơ; 53 tổ chức, cá nhân được cấp chứng nhận sản
xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP; 55 tổ chức, cá nhân được cấp chứng nhận sản
xuất rau an toàn, với tổng diện tích khoảng 600 ha. Tổng giá trị sản xuất rau năm
2010 đạt 3.850 tỷ đồng, tăng gấp 5 lần so với 2004 (khi chưa áp dụng CNC).
Tại Lâm Đồng, nhiều đơn vị cũng đang rất thành công với việc nuôi trồng
thủy sản. Đặc biệt, việc nuôi cá nước lạnh: cá hồi và cá tầm (Nga) tại huyện Lạc
Dương và Đức Trọng. Hiện có 9 doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất con giống cá
Các mô hình thông thường do một doanh nghiệp đầu tư, quy mô tùy theo khả
năng đầu tư vốn và sản phẩm của mô hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp.
Ví dụ :- Như ở TP. Hồ Chí Minh, Công ty Liên doanh hạt giống Đông Tây đã
đầu tư trại sản xuất hạt giống rau với việc nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt giống
lai F1 cùng với việc đầu tư phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học, xưởng chế
biến hạt giống phục vụ cho công tác nghiên cứu, lai tạo và chế biến hạt giống đạt
tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Tại Lâm Đồng Công ty Dalat Hasfarm sản xuất các loại hoa ôn đới
cao cấp. Sản phẩm chính là hoa cắt cành, bao gồm hoa hồng, lily, cúc đơn, cúc
chùm, cẩm chướng đơn, cẩm chướng chùm, đồng tiền, baby, sao tím, salem và các
loại lá trang trí, hoa trồng chậu. Ngoài việc cung cấp cho thị trường trong nước,
thông qua mạng lưới phân phối vững chắc và rộng khắp, Dalat Hasfarm còn xuất
khẩu sang Nhật Bản, Singapo, Thái Lan, Đài Loan, Campuchia…... Hiện nay
công ty có 3 trang trại tại Đà Lạt, Đa Quí và Đơn Dương rộng hơn 250 ha, trong
đó có hơn 41 ha nhà kính, nằm ở độ cao từ 1.000- 1.500 m so với mực nước biển,
nên các chủng loại hoa được sản xuất quanh năm với chất lượng cao. Các loại hoa
được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ hiện đại và theo quy trình hết
sức nghiêm ngặt ( từ diện tích kho lạnh 600m2 có đầy đủ trang thiết bị để giữ hoa
tốt nhất, đến quy trình đóng gói, bảo quản và vận chuyển liên hoàn). Công ty đã
thực hiện việc trồng hoa trong nhà kính giúp ngăn ngừa được mưa gió, côn trùng,
sâu bọ. Cấu trúc nhà kính rất dễ dàng để cài đặt hệ thống cơ giới hóa, giúp tạo điều
kiện tốt nhất cho cây trồng phát triển…
- Mô hình sản xuất rau an toàn tại tỉnh Lâm đồng với diện tích 600 ha được
sản xuất theo 2 dạng là công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới không sử dụng
phân bón, nông dược vô cơ và cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới hạn nông
dược vô cơ thu hút nhiều hộ nông dân tham gia sản xuất và ứng dụng công nghệ
sinh học trong nhân giống và sản xuất hoa.
- Tỉnh Vĩnh phúc xây dựng Mô hình trồng nấm với hơn 100 trang trại tham