ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
BÙI THỊ THUÝ HƯỜNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở
VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM QUANG TUẤN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Luật đất đai năm 2013 đã quy định 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai,
trong đó có công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận). Đây
thực chất là thủ tục hành chính nhằm thiết lập một hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ,
chặt chẽ giữa Nhà nước và đối tượng sử dụng đất, là cơ sở để Nhà nước quản lý toàn
bộ diện tích đất đai và người sử dụng, quản lý đất theo pháp luật.
Với đặc thù là huyện ven đô, nằm phía Tây Nam của thành phố Hà Nội, giáp
quận Hà Đông, huyện Thanh Oai có 20 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên
nghiên cứu của luận văn. Thu thập tài liệu, số liệu về công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận (đối với đất ở).
- Tìm hiểu tình hình, phân tích thực trạng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận.
- Phân tích quan hệ giữa quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, các yếu tố đặc thù
tác động đến công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận tại huyện Thanh Oai.
- Phân tích những ưu điểm, hạn chế trong công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận,
nguyên nhân tồn tại nhằm làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện Thanh Oai.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi không gian nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên phạm vi ranh giới hành chính thuộc huyện Thanh
Oai, thành phố Hà Nội .
Phạm vi khoa học: Đề tài giới hạn nghiên cứu ở các nội dung sau:
+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng
nhận đối với đất ở tại huyện Thanh Oai.
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký đất đai và cấp giấy
chứng nhận đối với đất ở trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
4.2. Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp.
+ Phương pháp điều tra thu thập số liệu số liệu sơ cấp.
2
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp.
+ Phương pháp phân tích, so sánh.
6. Cấu trúc luận văn
1.1.3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để
bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.
1.2 Căn cứ pháp lý của đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở nước ta.
1.2.1. Một số khái niệm liên quan đến việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận.
1. Khái niệm đăng ký.
Đăng ký là một hoạt động của con người nhằm đưa một lượng cơ sở dữ liệu
nhất định vào một hệ thống dữ liệu của một cơ quan, hay tổ chức, cá nhân, pháp nhân
nào đó, mục đích đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên theo một quy luật nhất
định. Có nhiều loại đăng ký như đăng ký hộ tịch, đăng ký giao dịch đảm bảo, đăng ký
bất động sản, đăng ký động sản, đăng ký tên miền, thương hiệu, bản quyền, sở hữu trí
tuệ, v.v…
2. Khái niệm đăng ký đất đai.
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính xác lập mối quan hệ pháp lý giữa
Nhà nước (với tư cách là đại diện chủ sở hữu) và người sử dụng đất được Nhà nước
giao quyền sử dụng, nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ để quản lý thống nhất đối
với đất đai theo pháp luật, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những chủ sử
dụng đất có đủ điều kiện, để xác lập địa vị pháp lý của họ trong việc sử dụng đất đối
với Nhà nước và xã hội.
3. Khái niệm đăng ký quyền sở hữu nhà ở
Đăng ký quyền sở hữu nhà ở là việc cá nhân, tổ chức sau khi hoàn thành, tạo
lập nhà ở hợp pháp thì đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
giao về đăng ký, cấp giấy chứng nhận.
1.3 Nội dung đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo pháp luật hiện hành.
1.3.1. Nội dung của việc đăng ký đất đai.
1. Trình tự đăng ký đất đai.
* Kê khai đăng ký đất đai:
* Thẩm định hồ sơ.
* Ban hành Giấy Xác nhận đăng ký đất đai.
5
2. Thủ tục, hồ sơ đăng ký đất đai.
Hồ sơ gồm:
a) Đơn đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo mẫu 4a/ĐK kèm theo Thông tư
24/2014/TT-BTNMT);
b) Bản photocopy sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân.
c) Bản sao chứng thực giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có);
d) Bản sao chứng thực giấy tờ về tài sản gắn liền với đất (nếu có tài sản và có
yêu cầu chứng nhận quyền sở hữu);
đ) Sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại
điểm d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng);
e) Văn bản ủy quyền nộp hồ sơ (nếu có);
3. Các hình thức đăng ký đất đai: gồm đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến
động đất đai.
a) Đăng ký đất đai ban đầu: Theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính: " Đăng ký
đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu (sau đây gọi là đăng ký lần đầu) là việc thực
hiện thủ tục lần đầu để ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
1.3.3. Công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
1. Khái niệm về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
Theo Luật Đất đai, Luật Nhà ở hiện hành thì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở là Giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất theo
một mẫu thống nhất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, người
sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất”.
2. Khái niệm về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo Luật Đất đai, Luật Nhà ở hiện hành thì “cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với
người đang sử dụng đất ổn định, Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà ở cho người
có quyền sở hữu nhà ở”.
3. Mục đích của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
7
- Để người sử dụng đất, người sở hữu nhà ở có căn cứ pháp lý trực tiếp thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật.
- Xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ để Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp
của người sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở hợp pháp của người sở hữu nhà ở cũng
như thực hiện các chức năng quản lý của mình đối với đất đai, nhà ở.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, dữ liệu đất đai, hệ thống thông tin địa chính
và hệ thống hồ sơ điện tử, trong mô hình Chính phủ điện tử.
- Làm lành mạnh hóa thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử
dụng đất, thị trường nhà ở; Thúc đẩy nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
* Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận.
3. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất ở.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng
đất ở.
* Chỉ có Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới có thẩm quyền ủy quyền cho Sở tài
nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất.
1.4. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc cấp giấy chứng nhận.
1. Vị trí.
Thông qua việc kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận Nhà nước có thể nắm rõ
thông tin về sở hữu nhà ở và sử dụng đất trong dân cư để lập hồ sơ địa chính.
Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận là một trong 15 nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai đã được quy định trong Luật Đất đai hiện hành.
Công tác đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, chịu trách nhiệm của sự song
trùng lãnh đạo, của hành chính (chiều ngang) là Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài
nguyên và Môi trường cấp tỉnh (chiều dọc) là chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ.
2. Vai trò.
Đối với Nhà nước và xã hội: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống
nhất quản lý nên Nhà nước phải nắm rõ các thông tin liên quan đến việc sử dụng đất,
thông qua công tác cấp Giấy chứng nhận.
3. Ý nghĩa của việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
9
* Cấp Giấy chứng nhận là tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền của
mình.
Ngành
Tổng GTSX
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
Năm 2009
Giá trị
Cơ cấu
Năm 2014
Giá trị
Cơ cấu
(tỷ đồng)
(%)
(tỷ đồng)
(%)
1.032
100,00
1.969
100,00
446
43,22
533,00
27,07
382
37,02
995,30
50,55
việc vi phạm về trật tự xây dựng đất đai giảm rõ rệt... Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển đô thị hóa thì đất đai luôn có nhiều diễn biến phức tạp khó khăn trong công tác
quản lý, tình trạng mua bán chuyển nhượng bất động sản không qua đăng ký với cơ
quan nhà nước vẫn diễn ra, đặng biệt khi giao thông được trú trọng đầu tư thì việc lấn
chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng lên. Đây cũng là những khó khăn
bất cập nhất đối với công tác quản lý đất đai của Thanh Oai trong thời điểm hiện nay.
2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Oai:
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 (Bảng 3.9, Hình 3.2) huyện Thanh Oai
có tổng diện tích tự nhiên 12.385,56 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp 8.571,93 ha chiếm 69,21 % diện tích tự nhiên;
- Đất phi nông nghiệp 3.676,98 ha chiếm 29,68 % diện tích tự nhiên;
- Đất chưa sử dụng 136,65 ha chiếm 1,11 % diện tích tự nhiên.
2.2.3. Công tác đăng ký đất đai
Việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận trong những năm qua đã được địa
phương và người dân quan tâm. Tính đến năm 2014, tổng số giấy chứng nhận đất ở đã
cấp cho hộ gia đình cá nhân là 29.919 giấy chứng nhận đạt khoảng 95% tổng số thửa
đất theo bản đồ địa chính năm 1995-1997 của toàn huyện. Tuy nhiên, trên địa bàn
huyện còn tồn khoảng 8.800 thửa đất ở không có trên bản đồ địa chính năm 19951997, chưa được cấp giấy chứng nhận do có nguồn gốc được giao đất không đúng
thẩm quyền hoặc lấn chiếm đất đai, … nhưng chính quyền cơ sở xã, thôn chưa thực sự
vào cuộc, còn né tránh, ngại khó, ngại va chạm do tranh chấp đất đai, giải quyết tồn tại
trong quản lý, sử dụng đất do lịch sử để lại nên chất lượng hồ sơ gửi cơ quan thẩm
định của một số xã không đảm bảo, không đủ điều kiện xét duyệt để trình cấp trên.
2.3. Phân tích thực trạng công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận tại
khu vực nghiên cứu.
2.3.1 Thực trạng hồ sơ địa chính
a. Thực trạng công tác lập hồ sơ địa chính.
* Thực trạng việc lập hệ thống bản đồ
Hệ thống bản đồ địa chính năm 1995-1997 đã được số hoá, sử dụng trong phần
8
10
3 Cao Viên
33
23
10
4 Thanh Cao
19
14
5
5 Bình Minh
23
12
11
6 Tam Hưng
10 TT Kim Bài
23
16
7
11 Đỗ Động
17
7
10
12 Thanh Văn
17
7
10
13 Kim An
13
7
8
12
18 Cao Dương
23
17
6
19 Xuân Dương
17
9
8
20 Hồng Dương
30
16
14
21 Liên Châu
c. Thực trạng công tác quản lý hồ sơ địa chính.
Hệ thống hồ sơ địa chính đang lưu trữ tại Chi nhánh huyện Thanh Oai gồm: 105
quyền sổ địa chính, 21 quyển sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất lập năm 1995-1997, 42
quyền sổ theo dõi biến động đất đai và 42 quyển sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Những biến động trong việc sử dụng đất trước năm 2009 không được thực hiện đầy
đủ nên số lượng sổ theo dõi biến động đất đai đến nay chỉ có 42 quyển.
Hệ thống hồ sơ địa chính của văn phòng đăng ký chủ yếu ở dạng giấy. Trước
đây, hồ sơ địa chính được lập theo mẫu cũ và theo Thông tư 29/2004/TT-BTNMT
ngày 01/11/2004 của Bộ tài nguyên và Môi trường gồm: Bản đồ đo đạc năm 1995 1997; Sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất lập theo đơn vị xã giai đoạn 1995-1997; Sổ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Sổ địa chính; Sổ theo dõi biến động đất đai.
2.3.2 Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác đăng ký đất đai
Tổng số cán bộ, viên chức của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội
huyện Thanh Oai tính đến tháng 9 năm 2015 có 13 viên chức, và người lao động, trong
đó có 9 cán bộ biên chế và 4 cán bộ hợp đồng. Lãnh đạo quản lý có: 01 Giám đốc và
02 Phó giám đốc. Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính
về đất đai có 05 viên chức của Văn phòng, làm công tác kiêm nhiệm.
Ở cấp xã có công chức địa chính xã và lao động hợp đồng giúp việc cho công
chức địa chính xã.
2.3.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc phục vụ công tác đăng ký
đất đai, cấp giấy chứng nhận.
Về cơ sở vật chất trang thiết bị, Chi nhánh huyện Thanh Oai có trụ sở riêng với 6
phòng làm việc với tổng diện tích sử dụng 194m2, 01 kho lưu trữ tài liệu, Máy vi tính 06
chiếc, máy in A3 01 chiếc, máy in A4 05 chiếc, .... Trang thiết bị vật chất còn hạn chế như
chưa có máy photo, máy scan, thiếu máy in A3 để in giấy chứng nhận, 01 phòng làm việc
14
chưa có máy in A4, kho lưu trữ cũng như phòng làm việc còn hẹp, trong khi đó hồ sơ lưu
trữ ngày càng nhiều, nên việc tác nghiệp, thụ lý, giải quyết hồ sơ, lưu trữ, quản lý hồ sơ
Chuyển đổi
Chuyển mục đích sử dụng đất
Thế chấp, bảo lãnh
Tăng, giảm diện tích
Tổng
Năm
2009 2010 2011 2012 2013 2014 6/2015
921
933
921
928 1.057 850
347
222
751
772
836
932
816
385
4
7
6
9
5
4
0
169
175
186
kém, thủ tục
60
27
3
cấp có thẩm quyền
Thái độ của cán bộ hướng
62
24
4
dẫn hồ sơ
Thủ tục đăng ký
Trình độ chuyên môn của
5
42
27
45
58
3
- Các qui định của một số văn bản pháp luật được ban hành không đồng bộ.
- Công tác phối hợp của các ngành như cơ quan thuế, cơ quan tài nguyên và
môi trường, cơ quan tài chính, Uỷ ban nhân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện chưa
chặt chẽ cũng gây thêm khó khăn cho công tác đăng ký, cấp Giấy chứng nhận.
- Trình độ chuyên môn của lực lượng trực tiếp làm công tác đăng ký đất đai,
cấp giấy chứng nhận tại cơ sở như cán bộ địa chính xã, thị trấn còn hạn chế, trên 60%
công chức địa chính cấp xã chưa được đào tạo chính qui, chủ yếu trình độ sơ cấp,
trung cấp địa chính, quản lý đất đai.
* Công tác đăng ký biến động đất đai:
Bảng 2.11. Kết quả đăng ký biến động đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai (giai
đoạn 2009-tháng 6/2015).
Loại hình đăng ký biến động
đất đai
Chuyển nhượng
Tặng cho, thừa kế
Chuyển đổi
Chuyển mục đích sử dụng đất
Thế chấp, bảo lãnh
Tăng, giảm diện tích
Tổng
Năm
2009 2010 2011 2012 2013 2014 6/2015
921
933
921
928 1.057 850
347
222
751
2.4. Phân tích và đánh giá những ưu điểm, vấn đề tồn tại trong công tác đăng ký
đất đai, cấp giấy chứng nhận tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2009 - tháng
6/2015
2.4.1. Những ưu điểm.
- Về chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của việc đăng ký, cấp Giấy
chứng nhận, đã cơ bản đầy đủ từ hệ thống các văn bản Luật, Nghị định, văn bản quy
phạm pháp luật của các Bộ, UBND thành phố, các Sở, ngành chức năng để thực hiện
cấp Giấy chứng nhận được ban hành có hệ thống, hướng dẫn chi tiết rõ ràng, thuận lợi
cho quá trình triển khai thực hiện.
- Về tổ chức bộ máy: Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thanh Oai
được tổ chức lại thành Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội huyện Thanh Oai
trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội.
- Về cải cách hành chính: Đã thành lập Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hành
chính theo cơ chế “một cửa”, trong đó có thủ tục đăng ký và cấp Giấy chứng nhận tiếp
nhận tại trụ sở của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai.
- Về trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận: có
trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm trên 5 năm làm công tác đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận do đó rất vững vàng trong khâu thẩm định hồ sơ.
- Về công tác chỉ đạo.
Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện luôn luôn quan tâm chỉ đạo công tác đăng
ký và cấp Giấy chứng nhận, hàng tháng lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện tổ chức hội
để kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
2.4.2. Những khó khăn.
- Sau khi Văn phòng đăng ký đất đai ”một cấp” được thành lập và đi vào hoạt
động ổn định nhưng chưa được tự chủ về tài chính, nên trong thời gian đầu thực hiện
còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác thu, chi, không khuyến khích được
cán bộ tăng năng suất lao động trong việc thực hiện dịch vụ công nhằm tăng thu để
đảm bảo tự trang trải hoạt động.
- Chất lượng hồ sơ do cán bộ địa chính xã tham mưu giúp cho Ủy ban nhân dân
đai
Chủ tịch UBND huyện
Giám đốc Sở Tài nguyên
Chủ tịch UBND huyện
và Môi trường
2.4.3.1. Về cơ cấu tổ chức cơ quan thực hiện thủ tục đăng ký đất đai:
Kể từ khi được tổ chức lại theo mô hình văn phòng đăng ký ”một cấp”, Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai đặt tại cấp huyện được bàn giao nguyên trạng từ Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện sang và tổ chức lại thành 4 bộ phận có chức năng,
nhiệm vụ cụ thể như: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính (bộ phận ”một
cửa”); bộ phận hành chính - tổng hợp; bộ phận đăng ký, cấp giấy chứng nhận; bộ phận
lưu trữ. Mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ cụ thể rõ ràng, công việc chuyên môn được
giải quyết nhanh chóng, thuận lợi hơn.
2.4.3.2. Những ưu điểm trong công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sau khi
thành lập văn phòng đăng ký một cấp:
Người sử dụng đất được lựa chọn nơi nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai có
thể ở Chi nhánh hoặc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội. Trong chỉ đạo về
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn đã có sự thống nhất một đầu mối đảm bảo tính thống
nhất trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội về giải quyết dịch vụ công, cập nhật hệ thống
hồ sơ đất đai, dữ liệu hồ sơ đất đai.
19
Thời gian giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký biến động đất đai giảm 1/3
so với trước đây, thời gian giải quyết hồ sơ chuyển nhượng, cho tặng, thừa kế quyền
sử dụng đất trước đây là 21 đến 30 ngày thì nay chỉ còn 10 đến 15 ngày.
nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai, sự phù hợp quy hoạch,
… mà không phải thông qua Hội đồng xét duyệt của xã, do vậy thủ tục cấp giấy chứng
nhận đã được đơn giản hoá nhiều so với Luật Đất đai năm 2003.
* Những tồn tại và nguyên nhân:
+ Về văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: trong quá trình thực hiện áp
dụng trình tự, thủ tục để công nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận cho các
trường hợp nêu trên còn phức tạp, nhiều thủ tục, các văn bản chính sách của Nhà nước
còn chung chung, thiếu cơ sở thực tiễn, kém đồng bộ với nhau như trường hợp các hộ
có nhu cầu cấp giấy chứng nhận có nguồn gốc đất giao không đúng thẩm quyền, chưa
có công trình xây dựng trên đất theo Quyết định 24/2014/QĐ-UBND thì không được
xem xét công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận, nhưng khi xây dựng
công trình thì bị Thanh tra xây dựng xử lý vi phạm do đất chưa có giấy chứng nhận,
giấy tờ hợp pháp theo qui định về trật tự xây dựng.
+ Về nhận thức:
Về phía cơ quan nhà nước, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, cán bộ địa chính còn
cầu toàn, sợ trách nhiệm, ngại va chạm, ngại khó nên chưa giám mạnh dạn xác nhận
hồ sơ, chưa thực sự tích cực triển khai công việc. Về phía người dân còn chưa thực sự
coi trọng giấy chứng nhận, đặc biệt với những hộ dân chỉ dùng nhà, đất để ở không
kinh doanh buôn bán gì. Họ có tư tưởng không cần giấy chứng nhận, họ vẫn có thể ở,
để lại cho con cái, mà không có ảnh hưởng gì, không ai vào chiếm được.
+ Về đội ngũ cán bộ:
Đội ngũ cán bộ địa chính cho công tác xét duyệt cấp giấy chứng nhận còn thiếu
và yếu. Thiếu ở chỗ là: Số lượng cán bộ còn ít, lực lượng cán bộ địa chính phải kiêm
nhiệm nhiều nhiệm vụ khác ngoài việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận như: hoà
giải tranh chấp, giải phóng mặt bằng, phối hợp xử lý vi phạm đất đai, …. Yếu ở chỗ:
Năng lực cán bộ còn yếu do đó hồ sơ kê khai đăng ký còn nhiều sai sót, chất lượng
kém. Thêm vào đó tinh thần trách nhiệm phục vụ dân, ý thức làm việc của đội ngũ cán
bộ địa chính còn kém, phổ biến tình trạng trì trệ kém linh hoạt.
công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận
3.2.1. Giải pháp về cơ sở vật chất, khoa học công nghệ.
Cần đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật cần thiết phục vụ công tác đăng ký đất
đai, cấp giấy chứng nhận và có kế hoạch cụ thể để ứng dụng khoa học công nghệ vào
công tác đăng ký đất đai như: Trang bị phần mềm in vẽ giấy chứng nhận, quản lý hồ
sơ, thủ tục hành chính, đồng thời liên thông với cơ quan thuế, kho bạc.
22
Phải nhanh chóng đẩy mạnh việc ứng dụng sâu rộng công nghệ thông tin, hệ
thống hồ sơ địa chính, thực hiện đăng ký điện từ trong giao dịch đất đai, giải quyết thủ
tục hành chính để đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong huyện (sau khi xây dựng xong
hồ sơ địa chính điện tử).
3.2.2. Giải pháp nâng cao trình độ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác
đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận.
Đối với cán bộ đang được biên chế: Nếu cán bộ yếu ở khâu nào thì cho đi đào
tạo lại, như tin học, đồ họa, công tác tổ chức, quản lý, điều hành đơn vị đối với lãnh
đạo. Tổ chức sát hạch chuyên môn, nghiệp vụ hàngnăm.
Cán bộ phải tự cập nhật các văn bản, chế độ chính sách, các quy định mới thay
đổi hàng ngày, để tự nâng cao trình độ, giải quyết nhanh, nhưng phải đúng pháp luật,
đúng trình tự, đúng thẩm quyền.
3.2.3. Giải pháp về tài chính:
Cần đầu tư kinh phí cho các công việc trọng điểm như:
- Kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, đặc biệt để đưa công nghệ
thông tin vào quy trình kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận, quản lý thông tin đất đai
và nhà ở.
- Kinh phí để cập nhật hệ thống hồ sơ quản lý đất đai như đo đạc, khảo sát, lập
bản đồ địa chính, lưu trữ hồ sơ.
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
đến từng người sử dụng đất để áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước.
- Với Uỷ ban nhân dân thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội:
+ Ngày 31/3/2015, UBND thành phố đã ban hành Quyết định thành lập Văn
phòng đăng ký đất đai ”một cấp” trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thì cần sửa
đổi, thay thế một số nội dung trong Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày
20/6/2014 của UBND Thành phố và Quyết định số 94/2014/QĐ-UBND ngày
24/12/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của quy định ban hành kèm
theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà
Nội, Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 như đã nêu ở trên.
+ Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội hàng quý làm việc với một số
UBND quận, huyện để tháo gỡ các khó khăn vướng mắc đối với các trường hợp đề
nghị xem xét cấp giấy chứng nhận còn tồn lại trong hơn mười năm qua.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền trên truyền hình, các trang mạng xã hội để
vận động người sử dụng đất thực hiện đăng ký đất đai.
24