Trnh Thu Hng
Cao hc K17 Sinh hc
Lời Cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Lai
Thành,
Thành chủ nhiệm bộ môn Tế bào - Mô Phôi - Lý sinh, đồng thời là trởng
phòng Công nghệ Tế bào Động vật - Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sự sống.
Thầy đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện
luận văn này. Thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi cả trong công việc, cũng
nh trong quá trình tôi thực hiện thí nghiệm tại phòng Công nghệ Tế bào Động
vật.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ và sinh viên Phòng Công nghệ
Tế bào Động vật - Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sự sống, những ngời
luôn bên tôi trong công việc, luôn nhiệt tính giúp đỡ tôi trong quá trình tôi làm
việc và nghiên cứu tại phòng.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS. Bùi Thị Việt Hà,
Hà chủ nhiệm bộ môn Vi
sinh vật cùng tập thể các anh chị em ở phòng thí nghiệm Vi sinh - Khoa Sinh
học - Trờng Đại học Khoa học Tự nhiên, những ngời đã nhiệt tình giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin giửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Sinh học
- Trờng Đại học Khoa học Tự nhiên, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn
Vi sinh vật học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức sinh học trong suốt thời
gian học tập và nghiên cứu vừa qua.
Lun vn thc s - Khoa Sinh hc
Trnh Thu Hng
DNA
Deoxyribonucleic acid
G(-)
Gram âm
G(+)
Gram dương
RNA
Ribonucleic acid
mRNA
Messenger Ribonucleic acid
tRNA
Transfer ribonucleic acid
VSV
Vi sinh vật
i
1.3. CHUYỂN GEN CECROPIN B VÀO TẾ BÀO VÀ CƠ THỂ
ĐỘNG VẬT...................................................................................... 26
ii
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
1.4. GIỚI THIỆU VỀ NGUYÊN BÀO SỢI CHUỘT ĐƯỢC DÙNG
ĐỂ CHUYỂN GEN CECROPIN B................................................... 28
1.4.1. Nguồn gốc và đặc điểm nguyên bào sợi ................................. 28
1.4.2. Ứng dụng của nguyên bào sợi nuôi cấy.................................. 30
1.5. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT GÂY
BỆNH ............................................................................................... 31
Chương II: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....... 33
2.1. NGUYÊN LIỆU.............................................................................. 33
2.1.1. Chủng giống .......................................................................... 33
2.1.2. Hóa chất và dụng cụ............................................................... 33
2.1.2.1. Hóa chất ....................................................................... 33
2.1.2.2. Môi trường và dung dịch .............................................. 34
2.1.2.3. Dụng cụ và vật tư.......................................................... 35
2.1.2.4. Thiết bị ......................................................................... 35
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 37
2.2.1. Phương pháp nuôi cấy và cấy chuyển nguyên bào sợi chuột .. 37
2.2.2. Phương pháp thu môi trường nuôi nguyên bào sợi chuột đã
được chuyển gen cecropin B: ...................................................... 38
CỦA CECROPIN B KẾT HỢP VỚI KHÁNG SINH........................ 52
3.3.1. Cecropin B gây nhạy cảm với kháng sinh ở chủng vi khuẩn
kháng thuốc ................................................................................ 52
3.3.2. Cecropin B làm tăng mức độ nhạy cảm kháng sinh ở chủng
vi khuẩn không kháng thuốc ....................................................... 54
3.4. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN
CỦA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY NGUYÊN BÀO SỢI CHUỘT
NHẮT TRẮNG CHUYỂN GEN CECROPIN B............................... 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................... 60
KẾT LUẬN ........................................................................................... 60
KIẾN NGHỊ........................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 62
iv
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA
Hình 1. Cấu trúc peptide kháng khuẩn ......................................................... 17
Hình 2. Mô hình hoạt động kháng khuẩn của các peptide kháng khuẩn ....... 18
Hình 3. Cơ chế hoạt động của peptide kháng khuẩn..................................... 20
Hình 4. Cơ sở của chọn lọc phân tử tế bào của peptide kháng khuẩn [54]
. ......................................................................................................... 23
Hình 5. Cấu trúc của nguyên bào sợi hoạt động [57]................................... 29
Hình 6. Kết quả đánh giá tác động của ampicillin và puromycin đối với
khuẩn Staphylococcus aureus kháng lại "thần dược" này. Tuy nhiên, số lượng
các loại kháng sinh mới ngày càng ít đi và đã bắt đầu thời điểm mà các kháng
sinh có mặt không đủ để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn.
Trước tình trạng bế tắc của việc tìm kiếm thuốc kháng sinh, các nhà
khoa học nhận thấy một triển vọng mới đầy hứa hẹn là các peptide kháng
khuẩn. Hiện nay, các peptide kháng khuẩn được coi như nguồn “kháng sinh
tự nhiên” của sinh giới đã được phát hiện ở nhiều loài sinh vật khác nhau.
Thuộc nhóm peptide này, Cecropin đã được phân lập đầu tiên từ nhộng bướm
tằm Hyalophora cecropia bị lây nhiễm vi khuẩn, và sau đó là ở nhiều loại côn
trùng 2 cánh.
Cecropin là peptide kháng khuẩn có hoạt tính mạnh, nó tác động lên cả
vi khuẩn Gram âm và Gram dương [9]. Cấu trúc và cơ chế hoạt động độc đáo
cho phép chúng dễ dàng kết hợp với màng của tế bào vi khuẩn, nấm và kí sinh
trùng, hình thành các lỗ trên màng và tiêu diệt các tác nhân đó. Gen mã hóa
cho một số cecropin được thiết kế và tổng hợp đã cho thấy hiệu quả chống
bệnh ở động vật và thực vật do vi khuẩn gây nên. Gen cecropin đã được sử
dụng để tạo ra thực vật biến đổi gen (như khoai tây, thuốc lá) biểu hiện sự
tăng cường tính kháng khuẩn hoặc nấm.
Họ cecropin gồm có ba nhóm chính là cecropin A, B và D [11]. Trong
đó cecropin B được biết đến với hoạt tính kháng khuẩn mạnh. Với tính hiệu
quả trong việc kiểm soát mầm bệnh sinh ra do tác nhân vi khuẩn và côn trùng,
cecropin B cũng có thể có hiệu quả trong kiểm soát các mầm bệnh do các tác
1
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Trước đây, CKS được sử dụng trong điều trị các bệnh nhiễm trùng có
nguồn gốc từ VSV (như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn). Những năm gần đây với
những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiều CKS đã được tạo ra theo con
đường bán tổng hợp (ampicillin) hoặc tổng hợp mới hoàn toàn
(chloramphenicol) [41].
Như vậy, CKS là các chất kháng khuẩn tự nhiên, bán tổng hợp, hoặc
tổng hợp có hiệu quả diệt khuẩn ở nồng độ thấp. Mỗi CKS thường chỉ có tác
dụng với một nhóm VSV nhất định [4].
Số lượng CKS cách đây 1/4 thế kỷ chỉ khoảng vài trăm loại, nhưng đến
năm 1993 số lượng này đã lên đến 6.000. Đầu thập kỷ này đã phát hiện thêm
2.000 các sản phẩm trao đổi chất có hoạt tính sinh học được tách chiết từ
VSV. Ước tính số lượng thực sự của các chất này phải lên đến trên 15.000
chất [30].
1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu CKS
Người đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu CKS là Alexander
Fleming. Năm 1928, khi nuôi cấy tụ cầu vàng Staphylococcus aureus,
3
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
Alexander Fleming đã tình cờ để nhiễm một loại nấm mốc màu xanh. Loại
nấm này đã tiết ra một chất ức chế sự sinh trưởng của S. aureus và do đó tạo
thành một vòng vô khuẩn trong suốt bao quanh khuẩn lạc của nấm mốc.
Fleming đã phân lập định tên loại nấm này là Penicillium notatum và đặt tên
chất kháng khuẩn này là penicillin. Về sau ông còn phát hiện thêm là
CKS có thể được phân loại theo nhiều cách tùy thuộc vào tiêu chí của
các nhà nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu dược liệu và các thầy thuốc muốn
phân loại theo hoạt tính sinh học của CKS (CKS kháng khuẩn, CKS kháng
nấm, CKS phổ rộng, CKS phổ hẹp, CKS kháng vi khuẩn G(-), CKS kháng vi
khuẩn G(+) ...). Các nhà hóa sinh, sinh học phân tử muốn phân loại theo cơ
chế tác động của CKS. Các nhà VSV muốn phân loại theo sản phẩm vi sinh
hay con đường sinh tổng hợp. Các nhà hóa học muốn phân loại theo các đặc
tính sinh lý, sinh hóa và nhiều tính chất khác dựa trên việc xác định rõ cấu
trúc hóa học.
Thông thường CKS được phân loại ra thành một số nhóm quan trọng
sau:
- Nhóm β – lactam: về cấu trúc chúng đều có vòng β – lactam. Nhóm
này bao gồm:
+ Các penicillin: gồm có Penicillin, Ampicillin, Amoxicillin,
Cloxacillin ...
+ Các cephalosporin: có 4 thế hệ I, II, III, IV. Thế hệ I, II chủ yếu để
điều trị các vi khuẩn G(+), thế hệ III, IV chủ yếu để điều trị vi khuẩn G(-).
Gồm có: Cefadroxil, Cephalexin, Cefaclor, Cefixim, Ceftriaxon ...
- Nhóm tetracycline: là các CKS có hoạt phổ rộng, gồm có Tetracyclin,
Doxycylin, Clotetracyclin, Minocyclin ....
- Nhóm Aminosid: có nguồn gốc từ vi sinh, có phổ tác dụng rộng, chủ
yếu trên vi khuẩn G(-). Gồm các kháng sinh Streptomycin, Neomycin,
Paromomycin, Gentamycin ...
5
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
1.1.4.1. Ức chế tổng hợp thành tế bào
Thành tế bào vi khuẩn là cấu trúc bảo vệ tế bào vi khuẩn chống lại áp
suất thẩm thấu. Thành phần cấu trúc chủ yếu của thành tế bào là peptidoglican
(PG). PG là một đại phân tử cấu tạo bởi các chuỗi polysaccarit bao gồm đơn
phân là các dẫn xuất của đường glucose nằm xen kẽ nhau và lặp lại một cách
liên tục (NAG – NAM). Để tạo thành mạng lưới thực sự vững chắc, các chuỗi
polysaccarit của PG phải liên kết chéo với nhau thông qua một đoạn peptide
ngắn giữa các tetrapeptide của tiểu phần NAM. Để có thể sinh trưởng và phân
6
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
chia, tế bào phải tổng hợp các đơn vị PG mới và vận chuyển nó tới đúng vị trí
sinh trưởng của thành tế bào [34]. Phần lớn các tác nhân kháng khuẩn thông
thường đều hoạt động dựa trên sự ức chế quá trình hình thành liên kết chéo
giữa các tetrapeptide của tiểu phần NAM. Nổi bật nhất giữa các chất này là
các chất kháng sinh β – lactam mà đại diện là penicillin và cephalosporin.
Đây là các kháng khuẩn có vùng chức năng là các vòng β – lactam.
Các kháng sinh β – lactam ức chế sự hình thành PG mới bằng cách gắn
chặt với enzyme transpeptidase cần thiết cho sự hình thành liên kết chéo giữa
các chuỗi PG, kìm hãm enzyme này và làm gián đoạn sự tổng hợp thành tế
bào của vi khuẩn [45]. Trong khi đó tế bào vẫn sinh trưởng bình thường, thể
tích tế bào cứ tăng lên mãi mà thiếu thành tế bào nên yếu đi nhanh chóng, và
đến một lúc sẽ phân giải vì không chịu nổi áp suất thẩm thấu. Transpeptidase
được mọi β – lactam ưa gắn vào nên được gọi là protein gắn penicillin PBP
1.1.4.2. Phá hủy màng sinh chất
Một số CKS phá võ màng sinh chất của các tế bào đích bằng cách
tương tác với màng sinh chất và làm tổn thương tính nguyên vẹn của nó. Đây
là cơ chế hoạt động của một nhóm chất gọi là polyen. Amphotericin B là một
polyen có khả năng kháng nấm vì nó gắn với ergosterol – thành phần cấu tạo
nên màng sinh chất của nấm và tạo thành các lỗ rò trên màng. Do đó nội quan
của màng thất thoát ra môi trường bên ngoài. Màng sinh chất của tế bào người
và động vật có thể bị tổn thương bởi amphotericin B vì chúng chứa
cholesterol là các phân tử có cấu trúc tương tự như ergosterol, mặc dù cách
liên kết của amphotericin B với cholesterol hơi khác so với ergosterol.
Màng sinh chất của hầu hết vi khuẩn không chứa sterol nên chúng có
khả năng đề kháng với amphotericin B. Tuy nhiên polyen vẫn có khả năng
kháng vi khuẩn theo các cơ chế khác. Polymycin là một ví dụ, CKS này được
tạo ra bởi vi khuẩn Bacillus polymyxa có khả năng kháng đặc hiệu với vi
khuẩn G(-). Polymycin phá vỡ màng sinh chất của vi khuẩn bằng cách gắn
vào phospholipid của màng, làm méo mó bề mặt tế bào và thay đổi cấu trúc
của màng dẫn đến sự rò rỉ ra bên ngoài các nội quan của tế bào, gây chết tế
bào.
8
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
1.1.4.3. Ức chế tổng hợp protein
Protein là thành phần vô cùng quan trọng, không thể thiếu được của tế
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
Các tác nhân kháng khuẩn khác có đích tấn công là tiểu phần 50S của
ribosome. Chloramphenicol và một số CKS tương tự phong bế vị trí hoạt
động của enzyme xúc tác cho sự tạo thành liên kết peptide giữa các acid amin
trong chuỗi polypeptide đang kéo dài, ngăn cản sự tạo thành acid amin hoàn
chỉnh. Clindamycin và các tác nhân kháng khuẩn macrolit bao gồm
erythromycin gắn vào tiểu phần 50S ngăn cản sự dịch chuyển của ribosome từ
codon này đến codon kế tiếp. Kết quả là quá trình dịch mã bị cản trở và sự
tổng hợp protein bị dừng lại.
1.1.4.4. Ức chế các con đường trao đổi chất
Hầu hết các CKS loại này đều có cấu trúc tương tự các chất trao đổi
bình thường của tế bào như acid amin, coemzyme nên được gọi là các chất
trao đổi tác dụng theo kiểu ức chế cạnh tranh. Ở nhiều VSV acid para –
aminobenzoic (PABA) là cơ chất cho phản ứng enzyme dẫn đến sự tổng hợp
tetrahydrofolic (THF), một dạng của acid folic đóng vai trò như một
coenzyme cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp các purin và purimydin của
acid nucleic. Để tổng hợp THF PABA phải được acid dihidrofolic (DHF), rồi
từ DHF tổng hợp nên THF nhờ sự có mặt của các coenzyme xúc tác chuyển
PABA thành DHF. Kết quả là sự thiếu hụt DHF đã cản trở sự tổng hợp THF
gây ức chế sinh trưởng VSV.
Một tác nhân kháng chất trao đổi khác là trimetholprim cũng can thiệp
vào quá trình tổng hợp acid nucleic. Tuy nhiên thay vì gắn vào enzyme
chuyển hóa PABA thành DHF, trimetholprim lại gắn vào enzyme chuyển
DHF thành THF. Các chất kháng chất trao đổi rất có giá trị trong y học vì
chúng ức chế các tế bào vi khuẩn và động vật nguyên sinh mà không tác dụng
lên tế bào người và động vật. Nguyên nhân là do người không tổng hợp THF
đường tiết niệu hoặc trong các trường hợp nghi mắc bệnh than.
Các kháng sinh khác ức chế hoạt động của RNA polymerase trong quá
trình sinh tổng hợp RNA từ DNA mạch khuôn. Một số kháng sinh bao gồm
rifampin kết hợp mạnh mẽ với RNA polymerase của prokaryote nhưng ít ảnh
hưởng đến RNA polymerase của eukaryote. Kết quả là rifampin độc với vi
11
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
khuẩn gây bệnh hơn so với con người. Rifampin được sử dụng chủ yếu để
điều trị bệnh lao do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây ra. Clofazimin
gắn với DNA của vi khuẩn Mycobacterium leprae gây bệnh phong và làm cản
trở quá trình sao chép cũng như phiên mã bình thường của tế bào vi khuẩn.
Nó cũng được dùng để điều trị bệnh lao và các bệnh truyền nhiễm khác do
các vi khuẩn họ Mycobacteriaceae gây nên.
Các kháng sinh khác lại hoạt động như các chất trao đổi bằng cách cản
trở chức năng của các acid nucleic. Chúng được gọi là các chất tương đồng vì
cấu trúc giống với các nucleotide cấu tạo nên các acid nucleic. Chính đặc
điểm đó đã cho phép chúng kết hợp được với DNA và RNA của vi khuẩn gây
bệnh, làm thay đổi cấu trúc của chúng và dẫn đến làm dừng quá trình sao
chép, phiên mã, dịch mã. Các CKS này thường được dùng để điều trị các
bệnh do virus gây ra.
1.1.5. Thực trạng kháng kháng sinh của các chủng VSV gây bệnh
Kháng kháng sinh (hay còn gọi là kháng thuốc) là tình trạng các VSV
thúc đẩy tăng trưởng gia súc. Năm 1974 Châu Âu đã cấm sử dụng penicillin,
tetracylin và nhiều kháng sinh khác để nuôi thúc súc vật. Sự xuất hiện ngày
càng nhiều các vi khuẩn đa kháng thuốc và sự thiếu hụt các nhóm kháng sinh
mới làm cho chúng ta đang phải đối mặt với thời kỳ “hậu kháng sinh” [50].
Ngày càng có nhiều chủng VSV kháng kháng sinh. Báo cáo của WHO
cho thấy, mỗi năm trên thế giới ước tính có thêm 440.000 ca nhiễm mới bệnh
lao đa kháng thuốc gây ít nhất 15.000 ca tử vong. Ở Việt Nam con số này là
khoảng 5.900 ca nhiễm lao đa kháng thuốc gây tử vong ít nhất 1.800 ca mỗi
năm. Nghiêm trọng hơn là lao siêu kháng đa thuốc đã xuất hiện ở 58 quốc gia.
Hiện tượng kháng thuốc điều trị sốt rét, HIV, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm
khuẩn thuông thường đang tăng lên nhanh chóng [54].
Với vi khuẩn E. coli (gây bệnh tiêu chảy, viêm đường tiết niệu,...) có
mức kháng cao tới 90% với kháng sinh Ampicillin, 80% với Cloramphericol
và Ciprofloxacin.
Kháng kháng sinh hiện nay đang là vẫn đề lo ngại toàn cầu vì nó sẽ dẫn
đến những hậu quả khôn lường đối với người bệnh và xã hội. Nó có thể gây
tử vong khi mà các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kháng thuốc gây ra không
13
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
còn điều trị hiệu quả bởi các liệu pháp điều trị chuẩn. Khi đó mầm bệnh sẽ lây
lan và phát tán nhanh chóng. Hiện tại, các VSV kháng thuốc đang làm suy
yếu cuộc chiến chóng lại bệnh tật, như bệnh lao và bệnh sốt rét – những bệnh
Cao học K17 Sinh học
hiện tại, hàng trăm loại peptide kháng khuẩn đã được phát hiện, và chứng
minh tầm quan trọng của chúng trong hệ thống miễn dịch tự nhiên [25].
1.2.2. Phân bố tự nhiên của peptide kháng khuẩn
Peptide kháng khuẩn lần đầu tiên được phân lập từ vi khuẩn, chúng giết
chết các vi khuẩn khác có thể cạnh tranh chất dinh dưỡng [37]. Peptide kháng
khuẩn vi khuẩn được gọi là bacteriocins, có hoạt tính rất mạnh so với peptide
kháng khuẩn của nhân thực. Hoạt tính của chúng có thể có phổ hẹp hoặc rộng,
có thể giết chết vi khuẩn cùng loài hoặc khác loài [26].
Ở thực vật, peptide kháng khuẩn đóng vai trò quan trọng trong chống
nhiễm trùng do vi khuẩn và nấm gây nên. Cho đến nay, chỉ có peptide có cấu
trúc gấp nếp β được xác định trong thực vật, với hai nhóm được nghiên cứu
nhiều nhất là thionins và defensins. Nghiên cứu thực vật chuyển gen cho thấy
tác động của thionins trong việc chống lại vi khuẩn gây bệnh. Chúng có mặt ở
lá, hoa, hạt, củ [26].
Nhiều peptide kháng khuẩn được xác định ở động vật không xương
sống và nó đóng vai trò quan trọng bảo vệ cơ thể khỏi sinh vật gây bệnh. Thật
vậy, vai trò của peptide kháng khuẩn và điều chỉnh sự biểu hiện của chúng,
bao gồm các tín hiệu có liên quan, được hiểu rõ nhất ở Drosophila [24].
Peptide kháng khuẩn được tìm thấy ở các tế bào máu dòng lympho, trong tế
bào thực bào, và trong một số tế bào biểu mô động vật. Một số peptide kháng
khuẩn ở động vật không xương sống: cecropin và melittin có cấu trúc xoắn
α, các peptide dạng kẹp tóc β như tachyplesin và polyphemusin [36]. Nhóm
peptide phổ biến nhất ở động vật không xương sống là các defesins, có cấu
trúc vòng mở rộng với ba hoặc bốn cầu disulfide, defesins chủ yếu kháng lại
vi khuẩn và nấm [26].
15
Peptide kháng khuẩn có 4 dạng cấu trúc chính: peptide lưỡng tính (có
đầu ưa nước và đầu kỵ nước) – đây là cấu trúc đáng chú ý nhất với 2-4 nếp
gấp beta (Hình 1C); peptide lưỡng cực (phân cực và không phân cực) có cấu
16
Luận văn thạc sỹ - Khoa Sinh học
Trịnh Thu Hằng
Cao học K17 Sinh học
trúc xoắn alpha (Hình 1E); cấu trúc hỗn hợp và cấu trúc mở rộng (Hình 1A,
F) [26].
Hình 1. Cấu trúc peptide kháng khuẩn
(A) Cấu trúc hỗn hợp của β-defesin-2 ở người, (B) Vòng β của thanatin,
(C) Nếp gấp β của polyphemusin, (D) Tấm beta của defesin-1 ở thận thỏ,
(E) Xoắn α-helic của magarin-2, (F) Cấu trúc mở rộng của indolicidin [26].
Ngoài ra, một số dạng peptide kháng khuẩn không tạo cấu trúc rõ ràng
mà chỉ hình thành cấu trúc ổn định khi phân bố trên màng sinh chất, trong đó
các chuỗi axit amin ưa nước và các chuỗi axit amin kỵ nước nằm đối nhau
trong một phân tử xoắn, tạo điều kiện cho việc xen vào lớp lipit kép [58].
1.2.4. Tác động của peptide kháng khuẩn
1.2.4.1. Cơ chế tác động
Các phương thức hoạt động kháng khuẩn của peptide kháng khuẩn khá
đa dạng, bao gồm phá vỡ màng, cản trở sự trao đổi chất và nhằm vào các
thành phần trong tế bào chất (Hình 2) [58].