ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THU THUỶ
NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
KHỔNG - MẠNH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Bình.Các số liệu, tài liệu trong luận
văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan. Các tài liệu tham khảo có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 10 tháng 1 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Thu Thủy
2.1. Ảnh hƣởng của các chuẩn mực đạo đức cơ bản của Nho giáo
Khổng - Mạnh đối với sinh viên Việt Nam hiện nay.............................. 38
2.2. Ý nghĩa của những chuẩn mực đạo đức cơ bản của Nho giáo
Khổng - Mạnh trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam
hiện nay. ..................................................................................................... 54
KẾT LUẬN ................................................................................................ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 70
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nho giáo là một trong những học thuyết ra đời từ rất sớm tại Trung
Quốc và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Trong lịch sử, Nho giáo
có sự giao thoa với các nền văn hóa khác nhau và đã để lại dấu ấn nhất định
ở các nước vùng Đông Nam Á, Bắc Á... đặc biệt là ở một số nước từng lấy
Nho giáo làm nền tảng tư tưởng như Nhật Bản,Triều Tiên...Tại Việt Nam,
từ những năm đầu thế kỷ I, Nho giáo đã chính thức thâm nhập và từ đó trở
đi, Nho giáo Việt Nam theo thời gian, ngày càng có sức ảnh hưởng tới
nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức của dân tộc ta.
Đạo đức Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh mà nội dung chủ
yếu là quan niệm về những chuẩn mực đạo đức cơ bản như Nhân, Lễ,
Nghĩa, Trí, Tín... đã dần thấmsâu vào tư tưởng, lối sống, hành động của bao
thế hệ người Việt, trở thành những chuẩn mực đạo đức cần thiết mà người
Việt Nam hướng tới, hoàn thiện.
Đất nước ta đang trên con đường thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn
diện, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đã
đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị
trường đã nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, tham ô, tham nhũng, ăn chơi sa
đọa... đã và đang làm băng hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp của người
xấu và ảnh hưởng tiêu cực trở lại tới tâm lý, suy nghĩ và hành vi trong một
bộ phận sinh viên nói chung.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và sẽ rất cần
những lớp sinh viên ưu tú đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước. Để xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước thì ngoài việc
trau dồi kiến thức, sinh viên cần phải chú trọng trau dồi phẩm chất đạo đức,
lối sống tốt đẹp... Và để thực hiện được điều đó, một trong những biện
pháp quan trọng là cần phải biết tiếp thu và phát huy mặt tích cực của các
chuẩn mực đạo đức trước kia, trong đó không thể bỏ các chuẩn mực đạo
đức cơ bản của Nho giáo Khổng - Mạnh. Việc kế thừa và phát huy những
yếu tố tích cực của đạo đức Nho giáo Khổng - Mạnh, đồng thời đứng trên
2
lập trường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát
từ những yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn cách mạng của nước ta để xây dựng
và hoàn thiện đạo đức sinh viên Việt Nam sẽ giúp nâng cao hơn nữa bản
lĩnh của sinh viên, giúp sinh viên đứng vững trước mọi thử thách khắc
nghiệt của cuộc sống hiện đại.
Với ý nghĩa đó, việc tìm hiểu ý nghĩa của việc giáo dục những chuẩn
mực đạo đức cơ bản của Nho giáo Khổng - Mạnh đối với sinh viên Việt
Nam hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết. Đó cũng là lý do để tác giả của
luận văn lựa chọn vấn đề: “Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của Nho
giáo Khổng - Mạnh và ý nghĩa của nó trong việc giáo dục đạo đức sinh
viên Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn của mình
với mục đích góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu ý nghĩa tích cực của đạo đức
Nho giáo Khổng - Mạnh trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt
Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về nội dung và những giá trị đạo đức cơ bản của Nho
đức mới ở nước ta hiện nay.
Đặc biệt là trong thời gian gần đây, đã có một số luận án tiến sỹ và
thạc sỹ nghiên cứu sự ảnh hưởng của Nho giáo và vai trò của việc giáo dục
đạo đức Nho giáo đối với từng nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội Việt
Nam hiện nay. Tiêu biểu có luận án tiến sỹ “Ảnh hưởng của đạo đức Nho
giáo đối với việc xây dựng đạo đức người cán bộ lãnh đạo quản lý ở Việt
Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, bài viết “Nho giáo với vấn
đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người” của tác giả Nguyễn Thanh
Bình (Tạp chí Triết học, số 9, tháng 9/2002), luận án tiến sỹ “Quan niệm
của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người” của tác giả
Nguyễn Thị Tuyết Mai ....hay một số luận văn thạc sỹ như “Tìm hiểu tư
tưởng Nhân - Lễ và mối quan hệ giữa Nhân và Lễ trong tác phẩm Luận
ngữ” của Phan Minh Nhật, “Học thuyết đạo đức Nho giáo và vận dụng nó
vào việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay”
của Ngô Thị Mai...
4
Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu khá nhiều nội dung,
nhiều phương diện trong học thuyết đạo đức của Nho giáo (chủ yếu là
trong Nho giáo Khổng - Mạnh) và ảnh hưởng, vai trò của nó đối với xã hội
và con người Việt Nam trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên những công trình này chưa đề cập sâu và có hệ thống về nội
dung và vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục các chuẩn mực đạo đức cơ bản
của Nho giáo Khổng - Mạnh như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín...cho sinh viên
Việt Nam hiện nay. Do đó, trong luận văn này của mình, tác giả cố gắng đi
sâu vào nghiên cứu để làm rõ một số nội dung trong quan niệm về các
chuẩn mực đạo đức cơ bản của Nho giáo Khổng - Mạnh đồng thời bước
đầu chỉ ra ý nghĩa của việc giáo dục những chuẩn mực đạo đức này trong
quá xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
Việt Nam hiện nay ở các trường đại học rất nhiều, lại có ở phần lớn các
tỉnh, thành phố trong cả nước, do vậy tác giả chỉ có thể khảo sát việc giáo
dục đạo đức ở một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội mà
thôi.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận văn là những nguyên lý cơ của chủ
nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước
về đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho người Việt Nam nói chung,
cho đội ngũ sinh viên Việt Nam nói riêng. Ngoài ra, luận văn còn tham
khảo và kế thừa một số thành tựu nghiên cứu trong một số công trình khoa
học khác đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp
nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp lịch sử - logic, phân tích và
6
tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học... để thực hiện mục đích và
nhiệm vụ đề tài luận văn đặt ra.
6. Đóng góp khoa học, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng rõ vai trò và ý nghĩa của các chuẩn mực
đạo đức cơ bản trong Nho giáo Khổng - Mạnh đối với việc giáo dục đạo
đức cho sinh viên hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên
Việt Nam hiện nay.Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập các môn lý luận
đạo đức của Khổng Tử. Phái đạo đức của Tăng Tử ở nước Lỗ truyền đến
thế kỷ IV TCN thì có Mạnh Kha (372 - 289 TCN) tự là Dư, thường được
gọi là Mạnh Tử, là thế hệ học trò thứ tư đã tiếp tục phát triển tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử. Sau đó khoảng 40 - 50 năm, Tuân Tử (298-239 TCN)
cũng kế thừa tư tưởng Khổng Tử nhưng theo hướng khác. Thời Xuân Thu Chiến quốc, Nho giáo thường được gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh và từ
khi ra đời, được truyền bá vào Việt Nam đến nay, học thuyết của Nho giáo
Khổng - Mạnh (đặc biệt là học thuyết đạo đức) đã được nhân dân ta tiếp
8
nhận và lưu truyền từ đó cho đến nay. Ảnh hưởng của các học thuyết Nho
giáo Khổng - Mạnh đến đời sống xã hội Việt Nam không chỉ dưới thời
phong kiến mà hiện nay một số ảnh hưởng vẫn còn biểu hiện trong lối
sống, suy nghĩ, hành động của các tầng lớp nhân dân.
Qua nghiên cứu nội dung các tác phẩm của Nho giáo Khổng - Mạnh
có thể thấy rằng, vấn đề con người là một trong những vấn đề cơ bản nhất
trong học thuyết của Nho giáo Khổng - Mạnh. Bởi vì, theo quan niệm của
các nhà Nho, vấn đề con người ảnh hưởng và có quan hệ trực tiếp đến việc
củng cố, ổn định trật tự, kỷ cương xã hội. Đặc biệt xã hội Trung Quốc thời
Khổng - Mạnh là xã hội hỗn loạn như Khổng Tử đã chỉ rõ: “vua không ra
vua, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con”. Chính vì
vậy mà vấn đề con người đã được Nho giáo Khổng - Mạnh đề cập, bàn
luận trong cả học thuyết đạo đức, học thuyết triết học, học thuyết chính trị xã hội, học thuyết giáo dục, v.v…
1.1.1. Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về bản tính con
người.
Có một thực tế là, cùng đề cập đến vấn đề bản tính con người, song ở
mỗi một trường phái triết học Trung Quốc lại có những cách nhìn nhận,
bàn luận khác nhau về vấn đề bản tính người (nhân tính, tính người).
Nội dung cơ bản trong quan niệm về tính người ở Nho giáo Khổng Mạnh bao gồm: Bản tính của con người là gì và do đâu mà có? Bản tính ấy
có thể thay đổi, có thể cải tạo được hay không và nếu cải tạo được thì để
nó là thiện hay ác mà thôi. Ấy cũng như nước chẳng nhất định chảy về đâu,
hễ phía nào thông thì nó chảy về phía đó. Mạnh Tử bổ cứu thêm rằng: Cái
bản tính của người nhất định là thiện, giống như cái bản tính của nước là
nhất định chảy xuống thấp. Cho nên dẫu cho người ta chặn nghịch dòng
của nó thì nó có sức phản động để vượt khỏi chỗ ngăn bít nhằm tìm chỗ
thấp mà chảy xuống nữa. Chiếu theo đó nếu nhà cầm quyền thi hành chính
sách bạo ngược, thì bị cái sức phản động của cái tính bản thiện của dân
chúng, ắt dân chúng sẽ tung khỏi xiềng xích của nhà cai trị ấy mà nương
10
cậy vào nhà chính trị khác có nhân” [61, tr.145]. Ngoài ra, thuyết “Tứ
đoan” nổi tiếng trong thiên Công Tôn Sửu cũng là một nội dung quan trọng
của thuyết tính thiện. Theo đó, Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người từ
khi sinh ra là do trời phú, cho nên vốn là thiện, bản tính của con người là
thiện, cũng như nước phải chảy xuôi ,từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Người ta
không ai là bất thiện, cũng như không có loại nước nào là không chảy từ
chỗ cao chảy xuống chỗ thấp. Minh chứng cho nhận định này, trong sách
Mạnh tử, ông đã đưa ra hình ảnh đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã có tình cảm
quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em của mình, ai cũng động
lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy nó sắp té xuống nước.
Cái tình cảm quyến luyến và động lòng thương xót ấy Mạnh Tử gọi là
“lương tri”, “lương năng”.
Trong sách Mạnh tử, khi Cáo Tử cho rằng điều nhân ái là do nơi
mình còn điều hợp nghĩa là do nơi ngoài thì Mạnh Tử đã bổ cứu rằng: điều
nhân và điều nghĩa cả hai đều do nơi tâm tính mình hết [61, tr.149]. Điều
này có nghĩa là, con người sống một cách tự giác, dù ở trình độ học vấn
nào hay tiêu chuẩn giá trị của họ là gì thì lúc nào họ cũng có ý niệm tự giác
về điều nên làm hay không nên làm một việc gì đó. Tính tự giác đó theo
Mạnh Tử thì đó là cái vốn sẵn có của con người, bao gồm: “trắc ẩn”, “tu
Vì thế người xưa mới nói “cầu thì được, bỏ thì mất” [61, tr.151-153].
Tuy nhiên, căn nguyên của giá trị nằm ở lòng tự giác là một chuyện,
song con người trong hoạt động kinh nghiệm của mình có phát huy được ý
thức giá trị hay không lại là một chuyện khác.
Tóm lại, theo quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh, bản tính con
người là thiện, có nguồn gốc từ trời, là cái bẩm sinh do trời phú cho. Nếu
con người biết nuôi dưỡng thiện đoan thì có thể trở thành bậc thánh nhân.
Nếu con người không biết nuôi dưỡng thiện đoan, để nó mai một đi thì sẽ
trở nên nhỏ nhen, ích kỷ.
12
1.1.2. Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của con
người.
Nho giáo Khổng - Mạnh nhìn nhận thế giới trong mối quan hệ tương
hỗ lẫn nhau, thế giới và vạn vật là một chỉnh thể thống nhất. Trong các mối
quan hệ thì Nho giáo Khổng - Mạnh đặc biệt quan tâm đến hai mối quan hệ
cơ bản: mối quan hệ giữa trời với người và mối quan hệ giữa con người với
xã hội, từ đó nêu bật lên vị trí, vai trò của con người trong thế giới, trong xã
hội. Khi đề cập về vấn đề vai trò con người, Nho giáo Khổng - Mạnh đã đặt
con người trong mối quan hệ với tự nhiên (trời, đất, vạn vật) và với xã hội
(biểu hiện trong quan hệ giữa người với người, con người với xã hội). Cụ
thể:
Thứ nhất: Vai trò của con người trong mối quan hệ với trời đất, vạn
vật.
Xuất phát từ quan điểm “vạn vật gốc ở trời” (Kinh Lễ), “Trời sinh ra
người…thì người phải lấy Trời làm gốc” (Kinh Thi) nên theo Nho giáo
Khổng - Mạnh, con người phải biết thực hành đúng “đạo trời”, “mệnh trời”
(biết mệnh trời thì chẳng có thể là người quân tử) [46, tr.562].
ngũ dã thiên hạ, chi đạt đạo dã” (năm mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ
chồng, anh em, bạn bè mà đã đạt được, chính là đạo đấy) [59, tr.188].
Với mỗi quan hệ ấy, Nho Giáo Khổng - Mạnh lại đưa ra những quy
phạm, những chuẩn mực đạo đức để ràng buộc, cột chặt con người vào
những mối quan hệ này, định rõ yêu cầu và trách nhiệm của con người với
con người trong gia đình và ngoài xã hội.
Hiểu theo nghĩa thông thường, đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội bao gồm những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
mình và sự tiến bộ xã hội. Chuẩn mực đạo đức là những nguyên tắc, quy
tắc đạo đức được mọi người thừa nhận trở thành những mực thước, khuôn
mẫu để xem xét, đánh giá và điều chỉnh hành vi của con người trong xã
hội. Những quy phạm, chuẩn mực đạo đức mà Nho giáo Khổng - Mạnh
đưa ra, gộp lại thành đạo làm người. Thông qua những mối quan hệ này có
14
thể nhận thức rõ hơn quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của
con người. Trong đó, vai trò của con người được đề cập nhiều nhất và được
quan tâm nhiều là ở trong ba mối quan hệ đầu tiên: vua - tôi, cha - con,
chồng - vợ.
Theo Nho giáo Khổng - Mạnh, để thực hiện tốt các mối quan hệ xã
hội thì con người cần phải có các phẩm chất đạo đức: Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Hiếu, Trung, v.v…
Khi đề cập đến các chuẩn mực cần phải có của mỗi người trong các
mối quan hệ xã hội cơ bản, Mạnh Tử đã lên tứ đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí.
Bốn đức này theo ông là, khi con người vừa sinh ra đã có sẵn và nó có
nguồn gốc, đầu mối là lòng trắc ẩn, lòng tu ố, lòng từ nhượng, lòng thị phi.
Trong từng mối quan hệ, Nho giáo Khổng - Mạnh lại đưa ra những chuẩn
mực đạo đức cụ thể để ràng buộc con người vào những mối quan hệ này.
nhân văn, nhân bản sâu sắc. Theo Nho giáo Khổng - Mạnh, vua là cha mẹ
(phụ mẫu) của dân nên vua phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức, phải yêu
thương dân, phải hợp lòng dân, phải nuôi dưỡng và giáo hóa dân…Có như
vậy, dân mới có đạo đức, mới có khuôn phép. Còn dân (bề tôi) thì phải có
đức “Trung”, đức “Hiếu” và hơn nữa là phải tận trung, tận hiếu với vua.
Trong một chừng mực nhất định, Nho giáo Khổng - Mạnh khi bàn về
quan hệ giữa vua - tôi, cụ thể là bàn về vai trò của dân đã đưa ra được
những quan niệm có yếu tố hợp lí khi coi dân có vai trò nhất định trong
việc sáng tạo của cải vật chất, sự hưng vong của triều đại, quốc gia. Tuy
nhiên, Nho giáo Khổng - Mạnh lại đề cao quá mức địa vị và vai trò của nhà
vua, của sự tu dưỡng đạo đức, sự giáo hóa dân của nhà vua. Do đó, mặc dù
đề cao vai trò con người như thế nào đi chăng nữa nhưng xét cho cùng,
quan niệm ấy về cơ bản là duy tâm, siêu hình và chủ yếu là nhằm duy trì,
bảo vệ trật tự, cơ cấu giai cấp của xã hội phong kiến đương thời.
16
Theo Nho giáo Khổng - Mạnh, con người có vị trí và vai trò quan
trọng vì vậy cần phải chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện con người.
Trong đó Nho giáo Khổng - Mạnh cho rằng, đạo đức là điều kiện, tiền đề
quan trọng nhất để hình thành, hoàn thiện con người, góp phần vào việc
củng cố, duy trì trật tự, kỉ cương xã hội. Tức là phải lấy những chuẩn mực
đạo đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín, Trí mà bổ hóa (đức hóa) ra toàn xã hội, phải
làm cho những chuẩn mực ấy trở thành những nguyên tắc để điều chỉnh
mọi hành vi của con người và các mối quan hệ xã hội của con người. Có
như vậy, mỗi người mới có đạo đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, mới bảo tồn
được tính thiện, trừ bỏ được tính ác và “gia mới tề, quốc mới trị, thiên hạ
mới bình”. Để đạt được những mục đích này, theo Nho giáo Khổng Mạnh, mỗi người phải “tu thân”, (tu dưỡng đạo đức). Mục đích của Nho
giáo Khổng - Mạnh là giáo dục, đào tạo con người hoàn thiện và nhằm xây
dựng, duy trì một xã hội có đạo đức, ổn định, thái bình. Vì vậy, Nho giáo
mặc dù, Nho giáo Khổng - Mạnh đề cao vai trò của con người, đề ra các
chuẩn mực đạo đức mà con người cần phải thực hiện trong các mối quan hệ
gia đình và xã hội nhưng xét về thực chất, xét đến cùng đó là những quan
niêm duy tâm, siêu hình, chủ yếu nhằm mục đích duy trì, bảo vệ trật tự, cơ
cấu giai cấp của xã hội phong kiến và phục vụ địa vị, lợi ích của giai cấp
phong kiến thống trị.
1.2. Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong tƣ tƣởng đạo đức
của Nho giáo Khổng - Mạnh.
Tư tưởng đạo đức của Nho giáo Khổng - Mạnh nói riêng và Nho
giáo nói chung được ra đời ở thời Xuân Thu do Khổng Tử sáng lập. Ông là
người có công hệ thống hóa và xây dựng thành một học thuyết hoàn chỉnh,
trong đó ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức. Theo ông, phải xây
dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vi của con
người trong xã hội. Sau khi Khổng Tử mất, Mạnh Tử là thế hệ học trò thứ
tư tiếp tục phát triển tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, mỗi nhà Nho có sự bổ sung, sắp xếp các
phẩm chất đạo đức đúng theo trật tự khác nhau. Nếu như Khổng Tử nhấn
mạnh đức cơ bản của con người là: Nhân, Trí, Dũng như ông nói “Trí,
Nhân, Dũng, tam giả thiên hạ chi đạt đức dã” (tức là, người có ba đức
19
Nhân, Trí, Dũng là thiên hạ có đạo đức) thì Mạnh Tử lại đưa ra tứ đức:
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí [61, tr.230]. Nho giáo Khổng - Mạnh tôn trọng và đề
cao các chuẩn mực đạo đức mà con người cần phải có trong các mối quan
hệ, các Nho sỹ dựa vào đó để phát ngôn và xử thế, vì vậy các phạm trù đạo
đức căn bản được duy trì và phát huy trong suốt thời kỳ phong kiến. Có thể
nói, các chuẩn mực đạo đức cơ bản theo quan điểm Nho giáo Khổng Mạnh bao gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hiếu, Trung.
1.2.1 Đức Nhân
Chuẩn mực đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo cương thường là
không cố chấp và quên mình đi, không để cho cái ta làm mờ ám, không
hiếu thắng khoe khoang, không oán hận, không tham dục vọng.
Ngoài ra, “khắc kỉ” không chỉ biểu hiện ở lời nói mà quan trọng hơn
là biểu hiện ở việc làm, hành động. Trong sách Luận ngữ có chép: khi học
trò Tử Chương hỏi về đức nhân, Khổng Tử nói: “Năng hành ngũ giả ư
thiên hạ, vi nhân hỹ.Viết: Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung tắc bất vũ,
khoan tắc đắc trúng, tín tắc nhân nhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc
dĩ sử nhân” (Hãy làm được năm đức tốt trong thiên hạ là người nhân. Đó là
Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung kính thì không bị khinh nhờn, khoan
dung thì được mọi người mến, có chữ tín thì được mọi người tin cậy, cần
mẫn thì được công việc, nhiều ơn huệ thì dễ thu hút được lòng người)
[59.tr.272 -273].
Như vậy, đức nhân trước hết đối với bản thân mình thì phải “khắc
kỷ”.Tức là phải luôn tu sửa mình, phải giữ đạo, nhưng vượt lên trên tất cả
đức nhân còn là đối với mọi người phải cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Khổng
Tử gọi người có nhân là quân tử, trượng phu để đối lập với kẻ tiểu nhân.
Theo Khổng Tử, khi hành điều nhân còn phải biết thân sơ, trên dưới. Tư
tưởng này của Khổng Tử đã được Mạnh Tử tiếp thu. Điều này được nói
đến trong sách Mạnh tử, khi người tên là Đào Ứng hỏi Mạnh Tử rằng
Thuấn làm vua, Cao Dao làm quan tòa. Cổ Tẩu (Cha của Thuấn) giết người
thì phải xử lý như thế nào? Mạnh Tử trả lời: Thuấn làm thế nào ngăn chặn
được? Điều đó là có căn cứ. Đào Ứng ại hỏi rằng Thuấn phải làm như thế
21