ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ MINH TUẤN Ý THỨC ĐẠO ĐỨC
SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2004
4
MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa 2
Lời cam đoan 3
Chương 3.Những nguyên tắc, giải pháp xây dựng và phát triển
ý thức đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay 104
3. 1. Những nguyên tắc xây dựng và phát triển ý thức đạo đức mới
cho sinh viên Việt Nam hiện nay 104
3.1. 1. Những nguyên tắc chung 104
3.1. 2. Những nguyên tắc đối với sinh viên 106
3. 2. Những giải pháp xây dựng và phát triển ý thức đạo đức mới
cho sinh viên Việt Nam hiện nay 110
3.2. 1. Xây dựng môi trường đạo đức tốt đẹp 111
3. 2. 2. Nâng cao hiệu qủa công tác giáo dục đạo đức,
quản lý sinh viên 126
Kết luận 149
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 154
Danh mục tài liệu tham khảo 155
6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chính trị quốc gia: CTQG
Cộng sự: cs
Hà Nội: HN
Nhà xuất bản: NXB
Sự thật: ST
Thanh niên cộng sản: TNCS
Thành phố: TP
Trung ương: TƯ
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
tiếp mới, giao tiếp gián tiếp- giao tiếp ảo, với sự hỗ trợ của khoa học
công nghệ. Con người hiện đại đang thay đổi. Đạo đức cũng đang thay
đổi.
Tất cả những điều đó hàng ngày hàng giờ tác động rất mạnh vào
ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay- đối tượng sinh ra và lớn
lên trong thời kỳ đổi mới với những thay đổi vô cùng mạnh mẽ, cả về
đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần của xã hội, và cũng là đối
tượng nhạy cảm nhất trước những biến chuyển này. Nhiều vấn đề bức
xúc đang nổi lên gay gắt của thực tiễn đổi mới hôm nay có liên quan
đến ý thức đạo đức sinh viên, bộc lộ sự phức tạp và đa dạng. Các giá
trị đạo đức vận động, thay đổi, bao hàm cả xu hướng tích cực lẫn
khuynh hướng tiêu cực. Nó đòi hỏi cần có một sự nghiên cứu tương
đối hệ thống và toàn diện, vừa góp phần vào tổng kết thực tiễn, vừa
tham gia giải quyết ở một mức độ nhất định những yêu cầu thực tế
đang đặt ra. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu ý thức đạo đức sinh viên Việt
Nam hiện nay từ góc độ triết học là điều vô cùng cần thiết, vừa có tính
lý luận, vừa có tính thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân
văn từng đề cập các vấn đề tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách sinh
9
viên như là đối tượng nghiên cứu. Bao gồm các đề tài và chương trình
nghiên cứu, các sách, những bài báo đăng trên các tạp chí khoa học,
các luận án phó tiến sĩ và tiến sĩ. Chúng tôi xin chia làm hai loại:
những công trình có đối tượng nghiên cứu liên quan gián tiếp đến đối
tượng nghiên cứu của đề tài luận án này (sinh viên với vấn đề tư
tưởng, nhân cách và lối sống), và những công trình có đối tượng
nghiên cứu liên quan trực tiếp đến ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam
thời kỳ đổi mới.
sinh viên.
Những biện pháp chủ yếu để phát huy tính tích cực của thanh
niên học sinh, sinh viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, luận án phó tiến sĩ khoa học triết học của Nguyễn Thị
Phương Hồng (1996), nghiên cứu các biện pháp nhằm phát huy vai trò
xã hội của học sinh sinh viên hiện nay.
Tổng quan tình hình sinh viên, công tác Hội và phong trào sinh
viên Việt Nam (1993-1998), một khảo sát thực tế của TƯ Hội Sinh
viên Việt Nam (1998) về định hướng giá trị, lối sống, đạo đức và nhu
cầu của sinh viên trong giai đoạn từ năm 1993 đến 1998.
Phạm Văn Đồng (1999), Một số vấn đề cần quan tâm về giáo
dục đại học nước ta hiện nay, thể hiện cái nhìn khái quát về giáo dục
đại học được tích lũy qua nhiều năm kinh nghiệm hoạt động lý luận và
11
thực tiễn của tác giả, và nhấn mạnh đến yêu cầu về giáo dục đại học
phải gắn liền với triển khai ứng dụng và đào tạo nhân cách người sinh
viên mới.
Nguyễn Ánh Hồng với đề tài Nghiên cứu một số đặc trưng trong
đời sống tình cảm của sinh viên TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện
nay (2001), và các bài viết “Mấy nhận xét về lối sống của sinh viên
TP. Hồ Chí Minh” (2003), tạp chí Phát triển giáo dục (2), phân chia
sinh viên hiện nay thành ba loại căn cứ theo tính tích cực xã hội và thái
độ đối với học tập; “Quan niệm của sinh viên về vấn đề quan hệ tình
dục trước hôn nhân” (2003), tạp chí Tâm lý học (9), qua đó cho thấy
lối sống hướng đến tính cá nhân của sinh viên hiện nay thể hiện qua
những quan niệm về tình dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003) với Báo cáo tổng kết công tác
sinh viên giai đoạn 1998-2002, đánh giá tình hình sinh viên trong 4
năm gần đây, trong đó có những nhận định về vấn đề tư tưởng, đạo
đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, Trần Sỹ Phán (1999) chủ yếu nghiên
cứu vai trò của công tác giáo dục đạo đức như là yếu tố quan trọng
nhất trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên.
Một số bài trên các tạp chí như “Định hướng giá trị đạo đức cho
sinh viên trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn
Thế Kiệt (1997), Thanh niên (1); “Mục tiêu giáo dục đạo đức cho
13
thanh niên sư phạm hiện nay” của Hà Nhật Thăng (1997), Đại học và
giáo dục chuyên nghiệp (6); “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay” của Lương Minh Cừ (2003), Giáo
dục (60); “Quan niệm về sự chung thủy trong tình yêu của sinh viên
hiện nay” của Lê Thị Bừng (2003), Tâm lý học (6)- những nghiên cứu
có tính bước đầu về các khía cạnh biểu hiện cụ thể khác nhau liên quan
đến đạo đức sinh viên.
Trần Minh Đoàn (2002) trong luận án tiến sĩ triết học Giáo dục
đạo đức cho thanh niên học sinh theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước
ta hiện nay, căn cứ trên các tiêu chuẩn, nguyên tắc giáo dục đạo đức
cách mạng Hồ Chí Minh, đã đi sâu phân tích vai trò của việc giáo dục
đạo đức cho thanh niên sinh viên, và đề xuất một số biện pháp giáo
dục đạo đức cho đối tượng này.
Dương Văn Duyên (2003) với bài viết “Đạo đức học mácxít với
việc giáo dục đạo đức sinh viên hiện nay ở nước ta”, trong Học thuyết
Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, sau khi sơ lược tình hình đạo
đức sinh viên, đã đề xuất một vài ý kiến về việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên.
Trương Văn Phước (2003)- chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa
học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia HN Đạo đức sinh viên trong qúa
trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
15
tôi chọn vấn đề Ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay làm đề tài
nghiên cứu của luận án.
3. Mục đích, nhiệm vụ
3. 1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ý thức đạo đức sinh viên Việt
Nam hiện nay, đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần xây dựng và
phát triển ý thức đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới.
3. 2. Nhiệm vụ
Luận án có các nhiệm vụ chính như sau:
- Làm rõ vị trí, vai trò và đặc điểm của sinh viên Việt Nam,
phân tích khái niệm, kết cấu và đặc điểm ý thức đạo đức sinh viên Việt
Nam hiện nay.
- Khảo sát thực trạng ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện
nay, các yếu tố tác động, từ đó dự báo một số xu hướng vận động chủ
yếu trong ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần xây dựng và
phát triển ý thức đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay, phù
hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. 1. Đối tượng
Nghiên cứu ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay.
4. 2. Phạm vi
16
Được giới hạn ở hai yếu tố sau:
- Về mặt khách thể: nghiên cứu thực trạng và xu hướng vận
động ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam (hệ chính quy tập trung dài
Đây là công trình nghiên cứu tương đối có tính hệ thống về ý
thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay dưới góc độ triết học, đưa ra
cái nhìn khái quát về ý thức đạo đức sinh viên- đối tượng đóng vai trò
quan trọng trong qúa trình xây dựng và phát triển đất nước.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7. 1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần nghiên cứu, bước đầu tổng kết thực tiễn về sự
vận động biến đổi của ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới.
7. 2. Ý nghĩa thực tiễn
Ở một mức độ nhất định, luận án sẽ góp phần cung cấp một số
luận cứ khoa học trong việc xây dựng đường lối chính sách giáo dục
đạo đức mới xã hội chủ nghĩa cho sinh viên, phù hợp với yêu cầu mới
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận án cũng
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy cũng như
nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến sinh viên.
8. Kết cấu của luận án
18
Luận án gồm 3 chương, 6 tiết và các tiểu mục, không kể phần
mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
19
Chương 1
SINH VIÊN VÀ
Ý THỨC ĐẠO ĐỨC SINH VIÊN VIỆT NAM
1. 1. Sinh viên và vai trò của sinh viên Việt Nam
1. 1. 1. Khái niệm sinh viên
Đã có những tài liệu đưa ra các khái niệm cho thuật ngữ “sinh
viên”, về cơ bản đã đề xuất được một số tiêu chí để xác định đối
loại hình đào tạo ở bậc đại học và sự tăng lên không ngừng nhu cầu
được đào tạo của con người, đang xuất hiện những sinh viên ít tuổi (độ
tuổi thiếu niên), nhiều tuổi (độ tuổi trung niên và trên trung niên)- điều
tương đối phổ biến ở các nước phát triển, và hiện nay cũng đã xuất
hiện ở nước ta. Với bậc học này, trên thế giới và Việt Nam hiện có
nhiều hệ đào tạo: hệ tập trung dài hạn, hệ từ xa, hệ vừa học vừa làm
(tại chức), hệ bằng hai, với nhiều loại hình trường: công lập, bán
công, dân lập, tư thục, cộng đồng, phù hợp với các nhu cầu đa dạng
khác nhau của người học.
Vì thế, theo chúng tôi, khái niệm sinh viên ở đây được hiểu theo
nghĩa chung nhất, là tất cả những ai đã tốt nghiệp trung học phổ thông
hoặc tương đương, đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng,
thuộc mọi loại hình đào tạo.
1. 1. 2. Đặc điểm của sinh viên Việt Nam hiện nay
21
Là một tầng lớp xã hội, sinh viên trước hết mang những đặc
điểm chung của con người, mà theo Mác thì “Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ
xã hội” [101, 11]. Do mục tiêu của luận án nên chúng tôi không đi sâu
phân tích đặc điểm chung này, mà tập trung vào những đặc điểm riêng
của sinh viên hiện nay.
Hầu hết sinh viên ở độ tuổi thanh niên, là một bộ phận của thanh
niên, cho nên họ cũng có những đặc điểm của thanh niên như trẻ, khá
nhạy cảm với cái mới, hình thành một kiểu giao tiếp gián tiếp trong
một môi trường ảo.
Trước hết, đó là trẻ. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (2003),
“thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24” [19, iii]. Về
mặt số lượng “trên thế giới hiện có khoảng hơn 1 tỉ thanh niên.
thế, nói một cách chính xác, thì hầu hết sinh viên đều đang ở độ tuổi
thanh niên.
Do đặc điểm trẻ này mà theo Trần Thị Thìn (2003), sinh viên là
những người có tốc độ trí nhớ nhanh, khả năng chú ý tốt, ngôn ngữ và
tư duy logic phát triển trên cơ sở đặc điểm não bộ và các giác quan của
lứa tuổi; phát triển cao năng lực tình cảm đạo đức và thẩm mỹ, tính
cách hình thành và có xu hướng dần ổn định, có tính độc lập và chịu
trách nhiệm với hành vi của mình [154, 12].
Một đặc điểm tiếp theo là thanh niên, trong đó có sinh viên, là
đối tượng khá nhạy cảm với cái mới, ham thích cái mới và dễ tiếp thu
23
cái mới, thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học công
nghệ, kỹ thuật mới. Căn cứ trên đặc điểm này mà các nhà sản xuất, đặc
biệt là sản xuất hàng tiêu dùng, đã không ngừng nghiên cứu, cải tiến
mẫu mã, tính năng và chất lượng sản phẩm để thu hút số lượng lớn
khách hàng tiêu thụ là thanh niên. Bên cạnh đó, là các trào lưu ca nhạc,
mốt thời trang, cũng liên tục thay đổi, cuốn theo nhiều thanh niên
tham gia một cách hào hứng.
Do đó, thanh niên, trong đó có sinh viên, là những người tương
đối năng động và sáng tạo, thích tìm kiếm những sự thay đổi và không
ngừng thay đổi. Thanh niên không còn là đứa trẻ, nhưng cũng chưa
thật sự là người trưởng thành. Ranh giới phân biệt lứa tuổi thanh niên
với thiếu niên thể hiện ở sự tương đối độc lập về mặt thể xác và xúc
cảm đối với cha mẹ, thoát khỏi sự phụ thuộc và tự ý thức về trách
nhiệm mới của mình. Họ bắt đầu hướng đến những chân trời mới, háo
hức với mọi thay đổi mới mẻ. Trong qúa trình đó, thanh niên một mặt
tiếp thu những cái mới thật sự và tốt đẹp, một mặt có thể du nhập thiếu
chọn lọc cả những cái tưởng là mới nhưng thực tế đã lỗi thời không
phù hợp. Xuất hiện những mâu thuẫn tâm lý- xã hội trong con người
bên cạnh những đặc điểm chung của thanh niên đã nêu trên, còn mang
những đặc điểm riêng của mình, được quy định bởi môi trường sống
và học tập. Đó là có trình độ văn hóa tương đối cao, chịu ảnh hưởng
của tâm lý nhóm có tính học thuật và nghề nghiệp. Bên cạnh đó, sinh
viên hiện nay cũng có những đặc điểm khác với sinh viên thời kỳ trước
25
đổi mới. Một nhóm tác giả (1998) đã đưa ra 5 đặc điểm của sinh viên
như sau:
- Là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc
trung học hoặc trung học chuyên nghiệp đang trong qúa trình
học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn tại các trường đại
học, cao đẳng; - Là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên
xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau; - Là lớp người năng
động, luôn nhạy cảm và sẵn sàng tiếp thu cái mới; - Tính tích
cực xã hội, tính tự lập, độc lập và nhu cầu tự khẳng định phát
triển khá cao; - Đối với xã hội nói chung và thanh thiếu niên nói
riêng, sinh viên là một nhóm xã hội được ngưỡng mộ và quan
tâm [178, 7-8].
Luận điểm này đã vạch ra được một vài đặc điểm của sinh viên,
nhưng đôi chỗ còn nghiêng về cảm tính, đi vào định nghĩa khái niệm
“sinh viên” hơn là chỉ ra bản chất xã hội của nhóm này.
Đặc điểm có thể dễ dàng nhận thấy đầu tiên ở sinh viên, đó là có
trình độ văn hóa tương đối cao, vì đều đã tốt nghiệp bậc trung học
phổ thông, trung học bổ túc hoặc tương đương và đang theo học đại
học, cao đẳng. Theo quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng, chỉ
những người đã tốt nghiệp bậc học trung học phổ thông, trung học bổ
túc hoặc tương đương mới đủ điều kiện dự tuyển vào bậc cao hơn là
đại học và cao đẳng.
Do theo học đại học và cao đẳng, chuẩn bị những kỹ năng nghề
27
tăng lên), giữa các giống loài (con người và con vật- rất phân biệt). Rõ
ràng là khi phân loại với cấp độ nhóm, sự phân biệt tăng dần lên. Cá
nhân khi ở trong một nhóm sẽ xuất hiện hiện tượng thay đổi điểm tựa:
không phải là cá nhân, mà nhóm sẽ là điểm tựa cho mỗi cá nhân.
Khi nghiên cứu về các đặc trưng của nhóm, Đỗ Long (2001) cho
rằng tính tích cực của cộng đồng được khẳng định như một thuộc tính
bao trùm, đóng vai trò liên kết mọi hiện tượng nhóm: hoạt động nhóm,
giao tiếp nhóm, hành động nhóm, ứng xử nhóm, quan hệ trong nhóm
và liên nhóm [98, 3]. Thuộc tính này ảnh hưởng đến các thành viên
của nhóm và tạo nên đặc trưng phân biệt các nhóm. Tính nhóm được
hình thành dựa trên các giao tiếp cá nhân với cá nhân và cá nhân với
nhóm. Trần Trọng Thuỷ (2002) dẫn ý kiến của B. Đ. Parưghin (1967)
về vấn đề này: “Chính bầu không khí của các mối quan hệ, của các ảnh
hưởng và sự tác động qua lại trong qúa trình giao tiếp mới là nhân tố
hùng mạnh của sự hình thành nhân cách và các mối quan hệ trong
nhóm” [161, 14].
Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ,
đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Cá nhân sinh viên
không tách rời môi trường sinh hoạt và học tập của mình, và là thành
viên của một nhóm nhất định (trong một lớp, một khoa, một khóa học,
một trường). Mỗi nhóm có một đặc trưng tâm lý của mình, phụ thuộc
vào môi trường sống và đặc điểm của các thành viên làm nên nhóm.
Sinh viên đa phần theo học tập trung, cùng sinh hoạt trong một cộng
đồng học thuật, với những đặc điểm tâm lý tương đối đồng nhất. Vì
thế, mỗi một sinh viên, bên cạnh những ảnh hưởng khác, còn chịu ảnh
hưởng của tâm lý chung trong nhóm mà họ gia nhập. Nhóm ấy được