Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (Qua thực tế một số trường Đại học và Cao đẳng ở Thành phố Hà Nội - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

KIỀU HƯNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
(QUA THỰC TẾ MỘT SỐ TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Mã số : 60 22 08
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. Trần Sĩ Phán Hà Nội - 2008 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

3
Nhân cách là cái gốc làm nên giá trị Ngƣời trong mỗi con ngƣời. Việc bồi
dƣỡng và phát triển con ngƣời nói chung cũng nhƣ bồi dƣỡng và phát triển nhân
cách cho sinh viên nói riêng là yêu cầu, là đòi hỏi cấp bách của công cuộc xây
dựng và đổi mới đất nƣớc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác
giáo dục, đào tạo. Cùng với dạy chữ là dạy Ngƣời, tạo cho mỗi sinh viên nền tảng
tinh thần từ đó giáo dục sinh viên kiên trì định hƣớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn, hình thành phẩm chất đạo đức

con ngƣời trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Việc tăng
cƣờng công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng nói chung, giáo dục đạo đức Hồ Chí
Minh nói riêng càng trở nên cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức và nhân cách, sự tƣơng đồng và khác biệt giữa đạo đức và
nhân cách cũng nhƣ vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách v.v , đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều học giả, nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nƣớc.
Trong số các công trình đã đƣợc công bố, có thể kể đến một số công trình
tiêu biểu nhƣ: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách (Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin,
1983). Cuốn sách là công trình tập thể của một số tác giả thuộc cộng đồng khối
các nƣớc Xã hội chủ nghĩa trƣớc đây biên soạn. Trong cuốn sách các tác giả đã
làm rõ khái niệm nhân cách, cấu trúc của nhân cách, sự phát triển nhân cách về
mặt đạo đức v.v.
Ở trong nƣớc, có hai công trình liên quan trực tiếp đến vấn đề nhân cách, đó
là cuốn “Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” (H. 1995).
Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài KX.07.04. Trong công trình này, các tác giả
tập trung nghiên cứu định hƣớng giá trị nhân cách con ngƣời Việt Nam nói

5
chung, thanh niên sinh viên Việt Nam nói riêng từ đó đƣa ra dự báo về sự phát
triển nhân cách con ngƣời Việt Nam trong thời gian tới.
Cũng trong năm 1995, các tác giả Đề tài KX.07.08 đã công bố kết quả
nghiên cứu của mình “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trong việc hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”. Điều đáng chú ý ở công
trình này là các tác giả đi sâu phân tích hệ thống giá trị nhân cách đã đƣợc hình
thành và cần hình thành ở học sinh, sinh viên thông qua giáo dục.
Dƣới một góc độ khác, Giáo sƣ Lê Thi đã nghiên cứu “Vai trò của gia đình
trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” (Nxb Phụ nữ 1987)
Sự nghiên cứu của tác giả đã đi đến khẳng định vai trò to lớn của gia đình, giáo

hƣởng, vai trò của giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh với sự hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên Việt Nam. Chúng tôi cho rằng, đây là vấn đề lớn, sự nghiên
cứu vấn đề này có ý nghĩa to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, tác giả chọn
vấn đề “Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh với việc hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ
Triết học của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục đạo đức Hồ
Chí Minh cũng nhƣ thực trạng nhân cách sinh viên Việt Nam, tác giả đề xuất một
số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức Hồ Chí
Minh trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn tập trung vào một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ đặc điểm nhân cách sinh viên và thực trạng nhân cách sinh viên
Việt Nam hiện nay.
- Phân tích đƣợc vai trò và giá trị của đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay.

7
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức Hồ Chí Minh trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là nhân cách sinh viên và vai
trò của đạo đức Hồ Chí Minh với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh
viên Việt Nam hiện nay.
Việc nghiên cứu này đƣợc thực hiện chủ yếu trên cơ sở căn cứ vào sự biến
đổi nhân cách sinh viên từ sau khi đổi mới đất nƣớc đến nay (Qua thực tế một số
trƣờng đại học và cao đẳng ở thành phố Hà Nội).

1.1.1 Nhân cách, đặc điểm quá trình hình thành nhân cách sinh viên
* Nhân cách và cấu trúc của nhân cách
Khái niệm nhân cách
Trong lịch sử tƣ tƣởng nhân loại, nhân cách là đối tƣợng của nhiều ngành
khoa học khác nhau đồng thời là vấn đề nghiên cứu có tính phức tạp. Vì vậy,
dƣới những góc độ khác nhau các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận không giống
nhau.
Trong cuộc sống đời thƣờng khi đề cập đến vấn đề nhân cách của con ngƣời
cụ thể nào đó, ngƣời ta thƣờng đồng nhất nhân cách với phẩm chất đạo đức, là
cách sống của mỗi cá nhân. Căn cứ vào tính chất phù hợp hay không phù hợp của
hành vi đối với cộng đồng mà cá nhân có thể đƣợc coi là ngƣời có nhân cách tốt
hay xấu, có nhân cách hay mất nhân cách. Ngƣời đƣợc coi là có nhân cách tốt là
ngƣời đƣợc mọi ngƣời quý mến tôn trọng, tin tƣởng đồng thời là ngƣời luôn có
những hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực của xã hội, đƣợc xã hội thừa nhận
và đánh giá cao; ngƣợc lại ngƣời bị coi là mất nhân cách khi bị xã hội phê phán,
lên án bởi những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội.

9
Với tƣ cách là “tƣ tƣởng về nhân cách”, quan niệm nhân cách đã xuất hiện
từ khoảng thế kỷ IV, thứ III trƣớc công nguyên trong học thuyết triết học của nhà
triết học Hi Lạp cổ đại Arixtốt (384 - 322), khi ông cho rằng con ngƣời là “sinh
vật chính trị”.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thuật ngữ nhân cách với ý nghĩa khoa
học mới đƣợc hai nhà tâm lý học ngƣời Đức là Dilthay và Spranger nêu ra. Theo
đó hai ông cho rằng nhân cách là cái “mặt nạ” có tính chất xã hội của cái tôi bên
trong; khi nào cái “mặt nạ” đó trùng với cái tôi thì nhân cách con ngƣời phát triển
đến độ chín muồi.
Ngày nay nhân cách đƣợc các nhà khoa học tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác
nhau, do đó có những quan niệm không giống nhau về “nhân cách”.
Theo cách tiếp cận sinh học, các nhà khoa học quy bản chất nhân cách con

Khác với cách tiếp cận trên, cách tiếp cận xã hội học lại phủ nhận mối quan
hệ giữa hành vi con ngƣời với với những nhân tố tự nhiên, sinh học đồng thời
cũng phủ nhận mối quan hệ giữa hành vi con ngƣời với những biểu hiện sinh
hoạt vật chất. Theo đó, họ giải thích hành vi con ngƣời, nhân cách con ngƣời
bằng nguyên nhân tƣ tƣởng, bằng ý thức xã hội. J.H.eysenck coi nhân cách là
một dạng nào đó của ý thức trí tuệ và ý thức đạo đức. M.Selơ (nhà triết học ngƣời
Đức - đại biểu của chủ nghĩa nhân bản triết học thế kỷ XX) lại khẳng định: “Bản
chất vốn có của con ngƣời không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội
mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con ngƣời trở thành nhân
cách” [1, tr. 23].
Mặc dù có những đóng góp nhất định trong việc làm rõ khái niệm nhân cách
nhƣng những khuynh hƣớng trên vẫn chỉ dừng lại ở chỗ tuyệt đối hoá mặt này
hay mặt kia của nhân cách, họ đã chia cắt, tách bạch mặt sinh học khỏi mặt xã hội
và ngƣợc lại.
Ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, triết học Mác đã đánh dấu bƣớc
ngoặt vĩ đại trong lịch sử tƣ tƣởng nhân loại. Khi xem xét bản chất nhân cách con

11
ngƣời, chủ nghĩa Mác đã nhận ra đƣợc những thiếu sót, những hạn chế của chủ
nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình và khắc phục nó trên cơ sở thế giới
quan duy vật biện chứng và phƣơng pháp luận biện chứng duy vật. Chủ nghĩa
Mác khẳng định con ngƣời là một thực thể sinh học - xã hội, vì vậy không bao
giờ có sự đối lập, tách rời giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con ngƣời, mặt
sinh học và mặt xã hội có quan hệ chặt chẽ, biện chứng lẫn nhau, theo đó mặt
sinh học không thuần tuý là sinh học mà là sinh học - xã hội, còn mặt xã hội
không trừu tƣợng, trống rỗng mà là sự phản ánh hiện thực của tồn tại sinh học -
xã hội.
Con ngƣời là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên.
Trong quá trình sống và phát triển, con ngƣời không chỉ bị chi phối bởi những
quy luật tự nhiên - sinh học mà còn chịu tác động của những quy luật xã hội. Từ

lộ và thể hiện ra trong hành động, thông qua hành động của mỗi ngƣời trong quan
hệ của họ đối với tự nhiên, xã hội và chính mình. “Nhân cách là những cá nhân
con ngƣời với tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, chủ thể của lao
động, của sự giao tiếp, của nhận thức, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử -
cụ thể của đời sống xã hội ” [53, tr. 196].
Xét đến cùng các quan điểm đó vẫn tập trung ở các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Nhân cách chỉ có ở con ngƣời cụ thể, hiện thực, những con ngƣời
sống trong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội, những giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ
thể chứ không phải những con ngƣời chung chung trừu tƣợng. Nhân cách là đặc
trƣng xã hội của con ngƣời, là kết quả hoạt động thực tiễn mà mỗi ngƣời tiếp
nhận, cải biến và tự giác chuyển hoá.
Thứ hai, Nhân cách là nhân cách của từng cá nhân riêng biệt, không có nhân
cách chung cho tất cả mọi ngƣời. Mỗi cá nhân mang nhân cách vừa có khả năng
tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi của bản thân đồng thời có khả
năng nhận thức, đánh giá hành vi của những cá nhân mang nhân cách khác.

13
Thứ ba, Nhân cách là phẩm chất xã hội của con ngƣời đƣợc hình thành từ
đời sống xã hội, nó là cơ sở để khẳng định vai trò, vị trí và giá trị của mỗi con
ngƣời trong mối quan hệ xã hội hàng ngày của chính họ. Chỉ trong hoàn cảnh đó
nhân cách cá nhân mới đƣợc thừa nhận.
Nhƣ vậy, Nhân cách là tổng hợp đa dạng các giá trị xã hội mà con người
đạt được ở trình độ nhất định, thể hiện sự trưởng thành về phẩm chất và năng
lực của mỗi cá nhân thông qua hoạt động, qua các mối quan hệ được xã hội
đánh giá, thừa nhận đồng thời tạo nên đặc trưng riêng cho mỗi cá nhân.
Cấu trúc của nhân cách
Cũng nhƣ vấn đề “nhân cách”, vấn đề “cấu trúc của nhân cách” cũng là một
trong những vấn đề phức tạp. Cho đến nay, vấn đề này cũng còn nhiều ý kiến
khác nhau.
Trƣớc đây các sách giáo khoa Tâm lý học Liên Xô và Việt Nam xác định

- Phẩm chất xã hội
- Đạo đức cá nhân
- Ý chí, ý thức tổ chức kỷ luật
Mặt năng lực (mặt Tài) của nhân cách đƣợc hiểu là toàn bộ khả năng thực
hiện hành vi của cá nhân trong mối quan hệ với cá nhân, với xã hội, và với công
việc để mỗi cá nhân có thể bộc lộ và thể hiện khả năng của mình sao cho đảm
bảo chất lƣợng, hiệu quả và mang tính sáng tạo cao.
Mặt năng lực của nhân cách bao gồm:
- Năng lực xã hội hoá
- Năng lực thực hiện hành vi
- Năng lực tự khẳng định mình
Phẩm chất và năng lực trong mỗi nhân cách đƣợc hình thành và phát triển
trên cơ sở của nhiều yếu tố khác nhau nhƣng có thể khái quát thành hai yếu tố
sinh học: (bẩm sinh, di truyền ) và xã hội: (môi trƣờng, giáo dục ) trong đó quá
trình hoạt động xã hội, hoạt động thực tiễn cũng nhƣ ý thức tự giáo dục, tự rèn

15
luyện của cá nhân đóng vai trò quyết định. Chính vì lẽ đó có thể khẳng định sự
thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất và năng lực, giữa Đức và Tài mà mỗi cá nhân
đạt đƣợc thông qua hoạt động của mình đƣợc bản thân, cộng đồng đặc biệt là xã
hội thừa nhận đã tạo thành nhân cách của chính cá nhân ấy.
* Đặc điểm quá trình hình thành nhân cách sinh viên
Sinh viên và nhân cách sinh viên
Do đặc thù về văn hoá, giáo dục mà khái niệm sinh viên đƣợc hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Ở một số nƣớc trên thế giới “sinh viên” là khái niệm dùng
để chỉ những ngƣời đang học tập tại các trƣờng Đại học, Cao đẳng và cả ở các
trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “sinh viên” (Thanh niên sinh viên) đƣợc dùng để chỉ
những ngƣời đang học tập tại các trƣờng Đại học, Cao đẳng, thƣờng có độ tuổi
trung bình từ 18 đến 25.

thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu do
thế hệ thanh niên hiện nay quyết định; trong đó sinh viên là bộ phận có vai trò hết
sức quan trọng” [49, tr. 177].
Về nhận thức, hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ là hoạt động cơ bản
của sinh viên. Sinh viên là bộ phận có trình độ nhận thức cao, có năng lực tri
thức. Bản thân sinh viên để đƣợc ngồi trên ghế giảng đƣờng đại học, cao đẳng đã
phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp trung học, kỳ thi tuyển sinh. Để vƣợt qua đƣợc
những kỳ thi ấy đòi hỏi mỗi sinh viên phải có tri thức, có vốn hiểu biết nhất định.
Mặt khác, khi ngồi trên ghế giảng đƣờng các sinh viên đã đƣợc cung cấp và tiếp
nhận hệ thống tri thức chuyên sâu, những kỹ năng, kỹ xảo. Đƣợc tham gia vào
quá trình nghiên cứu khoa học. Những hoạt động này làm cho sinh viên trở thành
đội dự bị, là nguồn dự trữ, là lực lƣợng bổ sung vào đội ngũ những ngƣời lao
động trí óc, những chuyên gia, những nhà nghiên cứu ở những lĩnh vực khác
nhau trong cơ cấu đội ngũ trí thức Việt Nam.

17
Từ hoạt động có tính chất đặc thù, sinh viên không chỉ thể hiện đƣợc mình là
bộ phận của xã hội với những đặc trƣng: trẻ, khoẻ, nhạy bén, năng động, có tri
thức, nghị lực, có ƣớc mơ hoài bão, có lòng nhiệt tình và nhạy bén trong cuộc
sống và trong tƣơng lai họ còn là lực lƣợng xung kích trên các mặt trận kinh tế,
chính trị, khoa học kỹ thuật
Dù thế nào thì đây cũng chỉ là giai đoạn sinh viên chuẩn bị hành trang vào
đời với việc tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm, phƣơng pháp nhận thức và bản lĩnh
chính trị. Quá trình này không chỉ đơn thuần làm sinh viên tự chuyển hoá, biến
đổi, phát triển mình, đó còn là quá trình hình thành, phát triển và dần dần hoàn
thiện nhân cách sinh viên.
Từ đây có thể hiểu: “Nhân cách sinh viên là tổng thể những tri thức, năng
lực, phẩm chất của sinh viên được hình thành và phát triển từ hoạt động của sinh
viên, quy định những giá trị và hành vi xã hội của sinh viên, được thể hiện, thực
hiện trong hoạt động nhận thức, ứng xử và các hoạt động xã hội của cá nhân mỗi

lực nhƣng chƣa ổn định. Những điều này khiến sinh viên trở thành những ngƣời
năng động, tích cực, có khả năng trí tuệ vƣợt xa so với học sinh phổ thông.
Về tâm lý, Sinh viên đang trong giai đoạn phát triển, hoàn thiện luôn muốn
thể hiện, khẳng định cái tôi của mình. Họ dễ thích ứng nhƣng cũng dễ chịu sự tác
động bên ngoài, họ vừa sống với hiện tại, nhƣng cũng có nhiều dự định, ƣớc mơ
cho tƣơng lai. Lập trƣờng của sinh viên nhìn chung chƣa vững vàng, trƣớc khó
khăn hay biến động của đời sống họ dễ dao động, hoài nghi, thất vọng thậm chí
có những hành động cực đoan, thái quá.
- Nhân cách sinh viên hình thành và phát triển bị chi phối bởi những nhu cầu
và lợi ích từ chính đời sống của sinh viên.
Trong đời sống của mình, sinh viên cũng có hệ thống nhu cầu và lợi ích đa
dạng, nó bao gồm cả nhu cầu, lợi ích vật chất, cả nhu cầu, lợi ích tinh thần. Trong
đó nhu cầu và lợi ích tinh thần: nhu cầu ham hiểu biết; tiếp thu kiến thức mới;
nhu cầu tình bạn, tình yêu đƣợc sinh viên đặc biệt quan tâm, chú ý.

19
Hoạt động cơ bản và chủ yếu của sinh viên là hoạt động học tập và nghiên
cứu khoa học dƣới sự điều khiển của giáo viên nhằm trang bị tri thức, hình thành
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hình thành phẩm chất bản thân. Vì vậy, sinh viên
luôn muốn tiếp cận với hệ thống tri thức khoa học trên mọi lĩnh vực có ích cho họ
cả ở hiện tại và tƣơng lai.
Chính nhu cầu học tập, nâng cao trình độ tạo cho sinh viên tính độc lập tự
chủ và tinh thần sáng tạo. Nó giúp cho sinh viên tích cực hơn, tự giác hơn trong
học tập; họ tận dụng mọi thời gian, phƣơng tiện để học tập, nghiên cứu, trang bị
cho mình hành trang vào đời với lƣợng tri thức nhất định đáp ứng những yêu cầu
và đòi hỏi của công việc, của xã hội.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận sinh viên thụ động, dựa dẫm, ỷ lại trong
học tập, lƣời biếng trong nghiên cứu khoa học, tích luỹ tri thức hoặc chỉ chú
trọng đến học để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ mà không chú trọng rèn luyện
phẩm chất đạo đức, chính trị, pháp luật dẫn tới vi phạm pháp luật, suy thoái nhân

Con ngƣời vốn là thực thể sinh học - xã hội, khác với tất cả các sinh vật khác
ở khả năng hoạt động có ý thức. Trong đời sống với vô số các giá trị xã hội, con
ngƣời phải lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết và phù hợp nhất, đây chính
là quá trình mỗi cá nhân bộc lộ đƣợc tính tích cực xã hội cũng nhƣ tính chất chủ
thể của mình.
Trong quá trình học tập ở trƣờng đại hoc, cao đẳng bản thân sinh viên là đối
tƣợng của quá trình giáo dục để từ đó hình thành, phát triển nên nhân cách ở sinh
viên. Quá trình giáo dục với mục tiêu và hệ thống tri thức của mình đã khắc hoạ
nên hình mẫu nhân cách phù hợp với xu thế xã hội, mặt khác còn thực hiện chức
năng điều chỉnh, định hƣớng những hành vi lệch lạc trong sự phát triển nhân cách
sinh viên.
Tuy nhiên, đây không phải là quá trình áp đặt vào mỗi cá nhân để biến họ
khuân theo mẫu hình nhân cách cần thiết. Để trở thành nhân cách phát triển toàn
diện, còn phụ thuộc vào tính tích cực, tự giác; vào quá trình tự giáo dục, tự rèn

21
luyện của bản thân mỗi một sinh viên. Trong cùng một môi trƣờng, cùng chịu
những tác động giáo dục nhƣ nhau nhƣng cá nhân nào có ý thức tự giáo dục rèn
luyện, tự giác, tích cực cao hơn sẽ tạo ra tính tích cực, sự đa dạng, phong phú hơn
của nhân cách; ngƣợc lại sẽ gây ra tính ỷ lại, tính thụ động của nhân cách, thậm
chí làm thui chột nhân cách.
Tính tích cực tự giác, ý thức tự giáo dục và rèn luyện của mỗi sinh viên là
yếu tố cơ bản bên trong, là kết quả của quá trình tự thân vận động. Đồng thời là
yếu tố tạo nên sắc thái riêng độc đáo không lặp lại giữa nhân cách này với nhân
cách khác.
- Sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên chịu sự tác động trực tiếp
từ sự giáo dục của nhà trƣờng. Nhà trƣờng là nơi đào tạo, rèn luyện sinh viên
theo mục tiêu, chƣơng trình giáo dục đã đƣợc đề ra. Mục tiêu đó đã đƣợc quy
định trong điều 39 của Luật giáo dục là “đào tạo ngƣời học có phẩm chất chính
trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành

khả năng cách mạng và sáng tạo, lƣơng tri và phẩm giá con ngƣời, đề cao con
ngƣời, lấy con ngƣời làm trung tâm của mọi suy nghĩ và hành động; suốt đời
Ngƣời đấu tranh không mệt mỏi chống áp bức, bất công phấn đấu đem cuộc sống
tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chính công lao và sự nghiệp ấy đã tạo nên một
thời đại mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thời đại mang tên Ngƣời - Thời đại
Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta và nhân loại tiến bộ một di
sản tinh thần vô giá đó là tƣ tƣởng và tấm gƣơng đạo đức trong sáng, mẫu mực,
kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn
hoá nhân loại và thời đại. Đạo đức Hồ Chí Minh bao quát một bình diện vô cùng
rộng lớn của cuộc sống, của hoạt động thực tiễn, do đó khó có thể đƣa ra một
định nghĩa, một quan niệm đầy đủ về “Đạo đức Hồ Chí Minh”. Hơn nữa nhƣ
Ph.Ăngghen trong “Chống Đuy rinh” viết: “Đứng về một khoa học mà nói, thì
mọi định nghĩa chỉ có một giá trị nhỏ thôi”.

23
Ở mức độ khái quát chúng ta có thể hiểu: “Đạo đức Hồ Chí Minh là sự hiện
diện của một tấm gƣơng tuyệt vời và các hành vi ứng xử trong hoạt động thực
tiễn của Ngƣời” [32, tr. 224], hay Đạo đức Hồ Chí Minh là tổng hợp những quy
tắc, những chuẩn mực xã hội tồn tại trong con người Hồ Chí Minh nhờ đó giúp
Người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong quan hệ với người khác, với xã
hội vì lợi ích của con người và lợi ích của xã hội.
Đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ đƣợc biểu hiện ra trong hành vi đạo đức
thƣờng ngày mà còn đƣợc thể hiện trong những tƣ tƣởng đạo đức của Ngƣời. Ở
Hồ Chí Minh, tƣ tƣởng đạo đức luôn gắn liền với hành vi đạo đức, động cơ luôn
gắn liền với mục đích, nói đi đôi với làm, nhiều khi nói ít nhƣng làm nhiều hoặc
làm nhiều nhƣng không cần nói. Chính những điều này làm cho Hồ Chí Minh trở
thành “Ngƣời Việt Nam đẹp nhất” trong lòng mỗi ngƣời dân Việt Nam, là “Nhân
cách của con ngƣời thời đại cho mọi thế hệ” trong con mắt nhân dân thế giới.
Đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh của những giá trị đạo đức truyền thống

độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [56, tr. 5].
Hiện nay nƣớc ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nƣớc, thời kỳ cả dân tộc chung sức nỗ lực phấn đấu biến mục tiêu, lý
tƣởng mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn trở thành hiện thực, lý tƣởng về một
xã hội dân giàu, nƣớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện thành
công mục tiêu trên đòi hỏi phải có những con ngƣời đủ đức, đủ tài, vừa “hồng”,
vừa “chuyên”. Vừa phải có năng lực chuyên môn, vừa phải có đạo đức, lối sống
và nhân cách trong sáng phù hợp. Vì vậy, thực hiện giáo dục đạo đức nói chung,
đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng để hình thành và phát triển nhân cách cho sinh
viên Việt Nam hiện nay là vấn đề tất yếu. Tính tất yếu ấy đƣợc quyết định bởi:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò và trách nhiệm của sinh viên đối với sự tồn
vong, hƣng thịnh của đất nƣớc.
Đất nƣớc ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

25
Đây là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền sản xuất xã hội từ chỗ sử
dụng sức lao động thủ công sang sử dụng sức lao động với công nghệ, phƣơng
tiện hiện đại và tiến bộ khoa học vào sản xuất. Quá trình này đòi hỏi ngƣời lao
động phải có trình độ, tri thức đồng thời có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất và
nhân cách. Đây là việc tạo ra những con ngƣời mới phát triển toàn diện cả về thể
chất lẫn tinh thần, trí tụê. Lực lƣợng đó trƣớc hết phải từ tầng lớp thanh niên, học
sinh, sinh viên.
Sinh viên với tƣ cách là đội ngũ trí thức trong tƣơng lai, là lực lƣợng lao
động chủ yếu của đất nƣớc ở những lĩnh vực khác nhau, là những ngƣời chủ
tƣơng lai của xã hội. Vai trò của thanh niên sinh viên đối với đất nƣớc vô cùng to
lớn.
Ph.Ăngghen chỉ ra rằng: “Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức
đƣợc rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải đƣợc hình thành từ hàng ngũ sinh
viên” [39, tr. 613]. Vận dụng sáng tạo tƣ tƣởng của Ph.Ăngghen, xuất phát từ tình
hình thực tế của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status