LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
A: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội ra đời rất sớm cùng với sự xuất hiện của
loài người.
Khi đó con người đã là những cá nhân, những tập đoàn sản xuất, trong đó các tư
liệu sản xuất thuộc về tập thể và dựa trên nguyên tắc phân phối đều nhau, ngay từ trên
những quan hệ còn giản đơn của buổi bình minh lịch sử này, quy luật tất yếu là phải có
những quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp giữa những con người với nhau, để họ có thể
sinh tồn và phát triển.
Từ những quan hệ ban đầu đó, cùng với sự phát triển của xã hội thì quan hệ
giữa người với người ngày càng phức tạp hơn. Đặc biệt là khi tư hữu xuất hiện, chính
điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử, điều chỉnh thái độ,
hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của bản thân, của cộng đồng và xã hội.
Chính thế, đạo đức bao giờ cũng mang tính thời đại và giai cấp, một mặt nó gắn
liền với con người cụ thể, mặt khác nó cũng gắn với mỗi giai cấp, mỗi tập đoàn, mỗi
nghề nghiệp, với xã hội và dân tộc tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định.
Đạo đức là một trong những lĩnh vực được chủ nghĩa Mác-Lênin đặc biệt quan
tâm. Nội dung đạo đức được các nhà kinh điển bàn đến ở hầu hết trong tất cả những
bài viết, lời nói của họ.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu nền tảng đạo đức Mác-Lênin, trên cơ sở nền tảng
những chuẩn mực đạo đức dân tộc truyền thống và thời đại mà tạo ra hệ thống những
quan điểm về đạo đức mới của mình, nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng đưa Việt
Nam lên ngang tầm thời đại.
Hồ Chí Minh là một trong số hiếm các nguyên thủ quốc gia trên thế giới đã
quan tâm đến vấn đề đạo đức một cách toàn diện và quy định cụ thể các chuẩn mực
đạo đức cách mạng đúng với từng đối tượng người, ngành nghề, giới tính.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Việt Nam đạt rất nhiều thành tựu to lớn,
nhưng cũng đang đứng trước một thách thức xuống cấp về đạo đức. Nền kinh tế thị
trường và sự mở cửa, giao lưu hội nhập mạnh mẽ với văn minh nhân loại, đã làm thay
Nói chung vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng hiện đã và đang được Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội ta quan tâm. Nhưng mỗi đề tài đề cập đến những khía cạnh
khác nhau và là những vấn đề chung về đạo đức, chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng
cho mảng giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên. Đề tài “Tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên” là sự cố gắng dũng
cảm đi vào lĩnh vực riêng ấy.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
- Mục đích của đề tài là nêu được một cách khái quát những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin về đạo đức.
Nêu đựơc một cách khái quát những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đạo
đức.
Đề xuất những biện pháp và giải pháp vận dụng tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh vào giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên.
- Nhiệm vụ của đề tài là từ những bài nói và viết và hoạt động chỉ đạo của
Người có liên quan đến đạo đức mà chỉ ra những tình cảm và tư tưởng chỉ đạo của
Người đối với việc giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên.
Xác định nội dung giáo dục đạo đức cách mạng để đưa ra phương pháp giáo
dục thích hợp cho sinh viên.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh mà phân tích, tổng hợp, khái quát các tài liệu của Người có liên quan đến
đạo đức.
2
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Đề tài cũng vận dụng kết quả của một số đề tài của các nhà khoa học lớn của
Việt Nam về lĩnh vực đạo đức mà làm rõ mục đích đề tài nêu ra.
5. Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài thực hiện thành công sẽ là một tài liệu tham khảo tốt cho sinh viên và
những ai quan tâm đến lĩnh vực này. Đồng thời đề tài sẽ còn được phát triển thành
Với thời gian, trong hoàn cảnh sống chung với nhau, ở con người năng lực trao
đổi tư tưởng phát triển - đó là ngôn ngữ . Với trình độ này của sự phát triển, con người
khác ở con vật không những ở lao động có suy nghĩ, nó còn khác ở hành động có mục
đích và được suy tính trước.
3
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ có ảnh hưởng tới cuộc sống chung của
những con người, tới quan hệ qua lại giữa họ với nhau. Chẳng những họ biết điều gì
làm họ vui mừng hoặc điều gì làm họ buồn phiền, họ còn truyền cho nhau những sự
vui buồn, tương quan này lại càng làm cho họ đoàn kết với nhau hơn trong đấu tranh
để sinh tồn.
Con người hành động có ý thức, nếu con người tự nguyện tự giác phục tùng cái
gì đó như là nguyên nhân thì nguyên nhân này không chỉ là nguyên nhân, nó còn là
mục đích và hành động. Như vậy, không chỉ có tính chất tất yếu, nó còn là hành động
được con người mong muốn. Hành động có mục đích và được mong muốn không bị
quy định bởi bản năng xã hội, nó còn được định bởi tình cảm xã hội.
Thực tiễn, kinh nghiệm rút ra được trong cuộc sống chung, trong đấu tranh và
lao động thuyết phục có hệ thống những con ngừơi về ưu thế của sự tương trợ, sự đồng
cảm và tinh thần đoàn kết. Tình cảm xã hội này khác về nguyên tắc với bản năng xã
hội của loài vật, và tình cảm đặc thù của con người, đó là tình cảm đạo đức, là tính
người.
Ngọn nguồn và cơ sở xã hội của đạo đức là lao động, tư duy và ngôn ngữ phát
triển trong quá trình lao động. Ngôn ngữ đã làm cho con người gần gũi với nhau, làm
cho bản năng xã hội mạnh hơn lên, còn tư duy thì đem lại cho những bản năng này
tính chất tự giác, con ngừơi càng ngày càng thấy đựơc sự cần thiết của tương trợ tự
nguyện được gọi là tự nguyện tình cảm đạo đức. Đặc trưng của tính người là sự khác
biệt của đời sống con người với sự tồn tại của loại vật ở chỗ này.
1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-LêNin về bản chất của đạo đức.
Có thể coi nhận thức về một hiện tượng là thoả đáng nếu nó xác định vị trí của
Hêghen gọi “luân lý” là phương tiện chủ quan của đạo đức, còn đạo đức là phương
diện khách quan của luân lý. Khái niệm luân lý là thái độ bên trong của ý chí đối với
chính nó, tức là quan niệm chủ quan về điều thiện và đều ác. Đạo đức, đó là nội dung
khách quan của cái thiện và cái ác được tạo thành trong gia đình, xã hội và quốc gia.
Hêghen cũng cho rằng “luân lý’’ và “đạo đức” thường được dùng với ý nghĩa như
nhau và có từ nguyên chung, nhưng ông vẫn thấy rằng có thể sử dụng hai từ này để chỉ
những bậc “hoàn toàn khách nhau” trong sự phát triển của tư tưởng pháp lý.
Có thể nói nhìn nhận luân lý là phương diện khách quan của hành vi, đạo đức là
phương diện chủ quan hành vi của Hêghen đều không đúng những thuật ngữ “hợp luân
lý”, “phi luân lý” và “vô luân lý” hoàn toàn tương ứng với “đạo đức”, “phi đạo đức”
và “vô đạo đức”.
Vậy đạo đức là gì?
Theo quan niệm đạo đức học Mác-xít, đạo đức là hệ thống những chuẩn mực
biểu hiện sự quan tâm tự nguyện tự giác của những con người trong quan hệ với nhau
và trong quan hệ của xã hội nói chung.
Bản chất của đạo đức là sự quan tâm tự giác của con người đến lợi ích của
nhau, với lợi ích của xã hội.
1.2. Một số quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức.
1.2.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng đạo đức của Hồ Chí
Minh
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước, Hồ Chí Minh
sớm tiếp thu được những giá trị đạo đức truyền thống quan trọng, thôi thúc Hồ Chí
Minh ra đi tìm đướng cứu nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ tiêu biểu của nhân loại quan tâm một
cách toàn diện đến vấn đề đạo đức và nêu cao tấm gương đạo đức.
Người không để lại tác phẩm đạo đức lớn, nhưng những tư tưởng lớn của
Ngừơi về đạo đức đã nằm trong những bài nói, bài viết ngắn gọn, diễn đạt rất cô động,
theo phong cách Phương Đông, rất quen thuộc với con người Việt Nam. Bản thân
5
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
nguồn gốc và khuynh hướng tư tưởng khác nhau.
Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tiếp thu, phát
triển nhiều nguồn tư tưởng đạo đức, chủ yếu là tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác-
Lênin, nhưng đối với Người nền đạo đức truyền thống, đặt biệt là các hệ tư tưởng đạo
đức của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã được dân tộc hoá cũng có vị trí hết sức quan
trọng.
Trong quá trình chuyển hoá tư tưởng đạo đức cũ thành đạo đức mới, Hồ Chí
Minh đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn tư duy biện chứng khi nhìn nhận các mặt
đối lập trong xã hội, trong mỗi người và trong các phạm trù đạo đức, để gạt bỏ đi
những mặt cần gạt bỏ, cải tạo lại những gì có thể cải tạo được và nhất là thấy rõ vị trí
của mỗi mặt.
6
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Chẳng hạn khi nói đến đức và tài, Người luôn luôn coi trọng tài và có thể nói
không ai quan tâm đến việc đi tìm người tài hơn Hồ Chí Minh, nhưng đồng thời Người
coi đức vẫn là cái gốc. Cũng như vậy, khi nói đến đạo đức cũ và đạo đức mới, đến cá
nhân và tập thể, Người không tuyệt đối hoá mặt này hay mặt khác, mà bao giờ cũng
có sự nhìn nhận đúng mực, đúng độ. Do đó có thể nói, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
chẳng những đã đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và
chắc chắn còn là nền tảng của việc xây dựng nền đạo đức xã hội mới.
Do hệ thống những vấn đề đạo đức khá rộng, bao quát gần như toàn bộ tư
tưởng đạo đức truyền thống của dân tộc và nhân loại, cả Cổ, Kim, Đông, Tây, cho nên
những nội dung tư tưởng đạo đức có liên quan đến việc hình thành tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh thật bao la, phong phú và cũng rất đa dạng, phức tạp. Nhưng có thể thấy
quá trình hình thành hệ thống tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là xuất phát tư ba nguồn
cơ bản sau đây.
a, Nền tảng đạo đức truyền thống dân tộc, kể cả đạo đức Nho giáo, Phật giáo,
Lão giáo đã được dân tộc hoá. Trong nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc, trước
hết phải nói đến chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái là đặc trưng bản chất đạo đức
xã hội, giữa truyền thống và hiện đại, chúng ta sẽ thấy rất rõ tinh thần sáng tạo của
Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đạo đức. Hồ Chí Minh không
chỉ tiếp nhận các khái niệm tự do, bình đăng, bác ái vốn là khẩu hiệu của giai cấp tư
sản trong thời đại cách mạng tư sản đang phát triển, mà Người còn tìm cách giữ lại,
đồng thời phát triển nội dung các phạm trù cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
trong hệ thống đạo đức truyền thống.
Tất cả những hiện tượng nói lên rằng nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
là kết quả hội tụ của rất nhiều nguồn, nhiều học thuyết đạo đức cổ kim, Đông Tây của
Việt Nam và Thế Giới, nhưng nổi bật nhất vẫn là phương pháp làm việc biện chứng
của chủ nghĩa Mác mà Hồ Chí Minh tránh được những giáo điều trong nhận thức và
hành vi đạo đức, đồng thời phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới,
tạo cho mình một hệ thống tư tưởng đạo đức phù hợp với điều kiện cách mạng Việt
Nam .
1.2.2. Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là qua các tác phẩm, bài viết
bài nói của người trong thời kỳ 1945 -1954, chúng ta thấy Người đề ra những chuẩn
mục đạo đức cụ thể đối với từng đối tượng: cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân,
phụ nữ, thanh niên đó là những lời khen ngợi, biểu dương hay phê bình nhắc nhở, hay
đó là những lời khuyên nên tránh hay nên làm, cần xây hay cần chống. Bao giờ Người
cũng phân biệt mặt tốt với mặt xấu, cái thiện với cái ác trong động cơ cũng như trong
hành động của mỗi con người, trong mối quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, để làm rõ
những vấn đề đạo đức cần phải xây dựng. Người làm công việc ấy rất thường xuyên,
gần như một ngừơi làm vườn cần mẫn, hàng ngày bắt sâu, nhặt cỏ, tỉa lá cắt cành, vun
xới cho những mầm cây.
Những phẩm chất cần tu dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái
thiện, cái mỹ của cuộc sống con người - Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ
cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, khái quát thành tư tưởng, lí luận đạo
đức, từ đó trở lại cải tạo con người, làm biến đổi hiện thực xã hội. Có thể nêu những
chuẩn mực đạo đức cơ bản sau đây:
a. Trung với nước - hiếu với dân:
nhắc nhở cán bộ, đảng viên: ”phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, khi sắp tới dân
mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân
không ủng hộ”[5].
Mặt khác, ở Hồ Chí Minh, hiếu với dân không chỉ thể hiện ở chỗ thương dân,
mà chủ yếu là ở chỗ tin dân dựa vào dân, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của nhân dân
ngày càng tốt hơn. Ngừơi khuyên cán bộ, đảng viên phải gắn bó với dân, phải gần dân,
thân dân, lấy trí tuệ ở dân, học hỏi dân, bởi có biết làm học trò dân, mới làm được thầy
học dân. Người xác định, cán bộ các cấp đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh
việc chung cho dân. Cán bộ phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công
việc rõ rệt, cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đạt kế hoạch tổ
chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết
những khó khăn.
Cán bộ phải đi sát với dân, thiết thực bày vẽ cho dân: “việc gì lợi cho dân, ta
phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”[6]. Trong bài 6 điều không
nên và 6 điều nên làm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “nước lấy dân làm gốc, gốc có
vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[7]. Đó là một sự tổng kết
mang tính chân lý về mối quan hệ giữa nước với dân.
Trung với nước, hiếu với dân là hạt nhân cơ bản nhất của tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh, là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với mọi thế hệ.
9
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
b. Lòng yêu thương đối với con người.
Các Mác đã từng nhấn mạnh rằng: người hạnh phúc nhất là người đem lại hạnh
phúc cho nhiều người nhất.
Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ,
cùng với việc thể hiện của chính bản thân mình qua thực tiễn hoạt động cách mạng,
Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất
cao đẹp nhất.
ta ý thức được nhân phẩm của mình, cảm thấy sự khoan khoái trong tâm hồn và làm
10
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
cho tình cảm đạo đức càng trở nên mãnh liệt hơn. Sự phát triển đó là chỉ bảo xác nhận
đức hạnh, góp phần hình thành tình cảm nhân cách ở mỗi con người.
- Tình yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ bạn bè, đồng
chí với mọi người bình thường, trong quan hệ hàng ngày, nó đòi hỏi mọi người phải
luôn luôn chặt chẽ nghiêm khắc với mình, rộng rãi độ lượng với người khác. Nó đòi
hỏi thái độ tôn trọng con ngừơi phải biết cách nâng con người lên, chứ không phải hạ
thấp, càng không vùi dập con người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những
người ở cương vị lãnh đạo, bất cứ ở cấp nào.
- Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh ở thế kỷ XX, các thế hệ người Việt
Nam đã thể hiện mãnh liệt nhất tình cảm của mình đối với nghĩa vụ, đối với trách nhiệm
của một người dân mất nước. Cả dân tộc đã từng “nếm mật, nằm gai”, đã từng phải
“khoét núi, ngủ hầm”, đã từng chịu đựng ”mưa dầm, cơm vắt”, đến nỗi ”máu trộn bùn
non”. Nhưng kỳ lạ thay ”gan không núng, chí không mòn”. Với tinh thần đó, với tình
cảm thiêng liêng giành cho Tổ quốc, cả dân tộc Việt Nam đã vượt lên, đã chiến thắng
tất cả mọi kẻ thù và đã không cảm thấy hổ thẹn với truyền thống chống giặc của cha
ông.
- Tình yêu thương con người, còn được thể hiện đối với những người có sai lầm
khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ những khuyết điểm và sai lầm, cố gắng sữa chữa, kể cả
những người lầm đường lạc lối đã hối cải, kể cả đối với những kẻ thù đã bị thương, bị
bắt hoặc đã chịu quỳ hàng. Chính tình yêu thương rộng lớn đó mà Hồ Chí Minh đã
đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi người, và Người tin rằng ai cũng đều có, cũng
theo.
- Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn
nhau. Đây chính là điều nhắc nhở cán bộ đảng viên phải luôn luôn chú ý đến phẩm
chất yêu thương con người. Đây là tình yêu trên nguyên tắc tự phê bình một cách chân
thành, nghiêm túc giữa con ngừơi cùng lý tưởng, cùng phấn đấu cho một sự nghiệp
Bác cười và nói: ”hàng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, phải thở khí trời để
sống. Những việc đó ngày xưa ông cha ta làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta
sau này cũng phải làm. Vậy ăn cơm thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người
thì đó là những việc không bao giờ cũ cả. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đối với
đời sống đó cũng vậy”[9].
Đến tháng 3- 1947, do nhu cầu cuả cuộc sống kháng chiến kiến quốc, Chủ
Tịch Hồ Chí Minh kêu gọi thi đua xây dựng ”đời sống mới, cần, kiệm, liêm, chính”.
Người giải thích cần, kiệm, liêm, chính một cách thiết thực và dễ hiểu:
- Cần: làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ và về sớm. Làm cho chóng, cho
chu đáo. Việc ngày nào nên làm trong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai.
Cần trong lao động là cần cù, siêng năng lao động có kế hoạch, tự lực cánh
sinh, sáng tạo, có năng suất cao, lao động có tinh thần trách nhiệm. Người nói:
Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả nhà siêng năng thì là phồn vinh
Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh.
Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không
phải quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho
lâu dài.
- Nói về kiệm, Người nói: kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí,
không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người
Hồ Chí Minh nói kiệm đối với cán bộ: giấy bút vật liệu đều tốn tiền của chính
phủ, tất là của dân; tức là ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết thì
chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai, ba lần. Mỗi ngày, công sở cả
nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút thì
trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc
12
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
- Liêm: tức là ”luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân” và ”không xâm
triển. Ngừơi coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức chủ yếu của một con người, như bốn
mùa của trời (xuân, hạ, thu, đông), như bốn phương của đất (đông, tây, nam, bắc) và
kết luận: Thiếu một mùa thì không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất,
thiếu một đức thì không thành người
Hồ Chí Minh còn chỉ ra mối quan hệ giữa bốn điều đó rằng: cần, kiệm, liêm là
gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là
hoàn toàn.
- Mặc dù mỗi đức tính có những nội dung riêng, nhưng chúng lại liên quan mật
thiết với nhau và tạo thành một chính thể, là thước đo văn minh tiến bộ của dân tộc.
13
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói: Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, chính là một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ. Ngoài ra, nó còn
là một đặc điểm của một xã hội hưng thịnh và những điều đó trái lại là những đặc điểm
của một xã hội suy vong.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là cái cần để ”làm việc, làm người, làm
cán bộ phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, tổ quốc và nhân loại”.
d. Có tinh thần quốc tế vô sản.
Đạo đức cộng sản chủ nghĩa không những yêu cầu tôn trọng dân tộc mình, văn
hóa và truyền thống của nhân dân mình, mà đối với những dân tộc khác, đối với mọi
nhân dân nói chung, nó cũng đặt ra yêu cầu ấy.
Cương lĩnh của đảng đề xướng nguyên tắc đoàn kết anh em với những người
lao động của mọi nứơc, với nhân dân của mọi nước. Nguyên tắc này dựa trên quy luật
phát triển lịch sử hợp tự nhiên của nhân loại, quy luật phát triển lịch sử của văn hoá và
văn minh nhân loại.
Người nào muốn tổ quốc mình có nhiều người bạn, có nhiều người thân thiết có
thiện chí, người ấy phải có tinh thần quốc tế. Như vậy, tinh thần quốc tế, không những
tự nó là một điều hay, điều tốt, như là sự biểu hiện những xu hướng tự nhiên của con
người, đồng thời nó là còn một phương tiện biểu hiện lòng yêu nước. Người nào yêu
Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất đạo đức, là yêu cầu đạo đức nhằm
vào mối quan hệ rộng lớn, vượt qua khuôn khổ quốc gia, dân tộc. Không phải đối với
bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào cũng thấy được tinh thần quốc tế có hay không, trong
sáng hay không trong sáng, nhưng việc giáo dục của Đảng và việc rèn luyện của cá
nhân mỗi người về tinh thần quốc tế lại không thể coi nhẹ. Trong thời kỳ đổi mới việc
đoàn kết quốc tế là một việc làm rất cần thiết để vừa học hỏi kinh nghiệm của các
nước trên thế giới vừa hợp tác và cạnh tranh lạnh mạnh và tích cực.
1.2.3. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới của Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu các tác phẩm cuả Hồ Chí Minh để lại, chúng ta thấy Người không
chỉ nêu ra những chuẩn mực cơ bản về đạo đức, mà còn chỉ ra những nguyên tắc để
rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho tốt. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức
mới đó là:
a, Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức: Có thể nói lý luận đi liền với
thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Điều này được Hồ Chí Minh nói rất nhiều, trong
suốt cuộc đời của mình, Người đã giáo dục mọi người và chính bản thân Người thực
hiện điều đó có một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Hơn nữa chúng ta còn thấy
Người nói ít nhưng làm nhiều, có những vấn đề đạo đức Người làm mà không nói.
Phải đi sâu vào hành vi đạo đức của Người, chúng ta mới khám phá ra được từng bản
chất sâu xa của những tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới đem lại hiệu quả
thiết thưc cho bản thân mình, có tác dụng đối với người khác. Nếu nói nhiều làm ít,
nói mà không làm, hơn nữa nói một đàng, làm một nẻo thì chỉ đem lại những hậu quả
phản tác dụng. “Hãy làm theo tôi nói, đừng làm theo tôi làm”, thói đạo đức giả ấy là
đặc trưng đạo đức của các giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử xã hội loài
người, trong mỗi quốc gia dân tộc; nó hoàn toàn xa lạ với đạo đức cách mạng, với nền
đạo đức mới mà chúng ta cần xây dựng. Chúng ta cần phấn đấu để làm sao trong xã
hội ta không còn những kẻ đạo đức giả, càng không cho phép những kẻ đạo đức giả
vẫn đi dạy dỗ người khác về đạo đức. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chủ
nghĩa xã hội một phần quan trọng phụ thuộc vào vấn đề này.
Từ đó chúng ta thấy rằng không ở lĩnh vực nào mà vấn đề nêu gương lại được
Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đã nêu ra một luận điểm quan trọng:
“trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ ”Cộng sản” mà ta được họ
yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn
nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”[13]. Luận điểm ấy đã
khăng định rất rõ vấn đề noi gương có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống đạo đức,
nhất là đối với trách nhiệm của cán bộ, Đảng viên.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, với cương vị chủ tịch nước, Hồ Chí Minh
kêu gọi đồng bào sẻ cơm nhường áo. Chính Người gương mẫu thực hiện nghĩa cử cao
đẹp đó. Người nói “từ tháng giêng đến tháng 7 năm nay, ở Bắc bộ đã có hai triệu
người chết đói, kề đó lại bị nước lụt, nạn đói lại càng tăng thêm, nhân dân càng khốn
khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi
xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó
để cứu dân nghèo ”[14].
Tấm gương đạo đức của Bác Hồ là tấm gương chung cả dân tộc, cho các thế hệ
người Việt Nam mãi mãi về sau. Nhưng còn nhiều tấm gương của những người tiêu
biểu trong từng ngành, từng tập thể, những tấm gương ”người tốt việc tốt” rất gần gũi
trong đời thường, Hồ Chí Minh đã từng nói: “từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất,
16
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại
mới thành biển cả. Một pho tượng một lầu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới
đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhin thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý
đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc.
Người tốt việc tốt nhiều lắm. Ơ đâu cũng có. Ngành giới nào, địa phương nào,
lứa tuổi nào cũng có”[15]
Những tấm gương đạo đức đã được hiểu theo một nghĩa rộng. Có những tấm
gương chung và riêng, lớn và nhỏ, xa và gần, một nền đạo đức mới chỉ được xây dựng
trên một cái nền rộng lớn, vững chắc, khi những phẩm chất đạo đức, những chuẩn mực
đạo đức đã trở thành hành vi đạo đức ngày càng phổ biến trong toàn xã hội, mà những
17
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch ở trong con người, trong nội bộ, trong
tinh thần, là một khó khăn, đau xót”[17]
Vấn đề quan trọng trong việc giáo dục đạo đức là phải khơi dậy ý thức đạo đức
lành mạnh ở mỗi người. Mọi người tự giác nhận thức được tránh nhiệm đạo đức của
mình đã nói, cảm nhận thật sâu sắc việc trau dồi đạo đức cách mạng là việc làm “sung
sướng vẻ vang nhất trên đời này”.
Tiếp nhận sự giáo dục đạo đức là vấn đề cấp thiết không thể thiếu được, nhưng
sự tự giác giáo dục, tự trau dồi đạo đức ở mỗi người còn quan trọng hơn nhiều. Sức
mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là khơi dậy sự tự giác của mỗi
người nhằm đấu tranh tự loại bỏ cái thấp hèn để vươn tới caí cao đẹp, loại bỏ caí ác,
cái phi đạo đức để vươn tới cái thiện, cái đạo đức.
Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới, phải đồng thời
chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức vẫn thường diễn ra. Điều quan trọng là phải
phát hiện sớm, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch lành mạnh về
đạo đức. Hơn nữa còn phải thấy trước những gì có thể xảy ra để đề phòng, ngăn chặn.
Đối với những cán bộ, đảng viên.
Người đã dẫn lời Khổng tử để giải thích rõ hơn luận điểm này: ”Khổng tử nói:
”mình phải chính tâm tu thân” là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu; có thế mới “trị quốc
bình thiên hạ“ được. Trị quốc bình thiên hạ đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, kiến
quốc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình thế giới. Muốn cải tạo xã hội thì lòng
mình phải cải tạo. Nếu lòng mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo xã hội làm sao
được. Người đã trích dẫn khá dài những ý kiến rất quyết liệt của Lênin về vấn đề này:
”Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải
đuổi họ ra khỏi Đảng Phải lập tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ.
Ít nhất cũng phải phạt 10 năm giam cầm và 10 năm khổ sai”[18].
Người đã vạch rõ nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, đó là chủ nghĩa cá nhân. Chủ
nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ tệ nạn. Muốn xây dựng đạo đức mới, chung quy lại là
trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho văn
minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để
lại trong xã hội và trong mỗi con người”[20].
Đó là điều chúng ta vẫn thấy diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Có những
người phấn đấu gần hết cuộc đời, có nhiều công lao, nhưng cuối đời lại không giữ
được tấm lòng trong sáng, nên sự nghiệp đã đỗ vỡ. Kết luận của Hồ Chí Minh cũng
đúng với sự đổ vỡ của một số Đảng ở cuối thế kỷ XX. Điều này cũng đúng như Lênin
trước kia đã nhận định: Cái chết về đạo đức nhất định sẽ dẫn tới cái chết về chính trị.
Theo Hồ Chí Minh: “tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự
nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và dư luận của quần chúng. Đã là người thì
ai cũng có chỗ hay chỗ dở, chỗ xấu chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong bản thân
mình. Vấn đề là giám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, thấy rõ cái
hay, caí tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục.
Nhất là đối với cán bộ, Đảng viên, việc phải luôn luôn học tập, tu dưỡng để
hoàn thiện bản thân là việc làm thường xuyên, nó không phải là vấn đề một sớm một
chiều mà làm được. Do đó, tu dưỡng đạo đức phải gắn với thực tiễn bền bỉ mọi lúc,
mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, vì đá đi lâu cũng mòn, sắt mài lâu cũng sắc. Ta cố gắng
sửa chữa thì khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm. Đảng viên và cán
bộ ngày càng trở nên người chân chính cách mạng. Đảng ngày càng phát triển.
Như vậy, rèn luyện đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh không giống như
sự “tu thân dưỡng tính” trong Nho giáo hay Phật giáo. Theo Hồ Chí Minh, biện pháp
rèn luyện là dựa vào nhận thức khoa học, chứ không phải dựa vào niềm tin mù quáng;
là phải trao dồi thử thách trong mọi quan hệ và công tác hàng ngày, phải rèn luyện bền
bỉ, thường xuyên.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức bao giờ cũng mang tính thời
đại và giai cấp. Những quan điểm về đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
19
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
Hồ Chí Minh là nhằm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai
Đạo đức cách mạng là:
- Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt
nhất.
- Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối
chính sách của Đảng.
20
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
- Đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá
nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng vì dân và đấu tranh quên
mình, gương mẫu trong mọi việc.
- Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình
để nâng cao tư tưởng và cái tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.
Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Ngoài lợi
ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chúng ta không có lợi ích gì khác. Vì
vậy, mục đích trước mắt của Đảng là đấu tranh để đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã
hội và thực hiện thống nhất nước nhà.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh anh dũng, đánh đổ ách
thống trị của thực dân và phong kiến, giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta. Đó là
một thắng lợi to lớn. Nhưng cách mạng chưa phải đã thành công hoàn toàn, vì mục
tiêu hiện nay của Đảng ta là đấu tranh thống nhất thống nước nhà, để thực hiện nước
Việt Nam hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh, làm cho cả nước không
còn ai bị bóc lột, xây dựng một hệ thống mới, trong đó mọi người được sung sướng
ấm no.
Đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức
trung thành phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tuyệt đối không thể
lưng chừng.
Ngừơi nói: Số đông đảng viên, đoàn viên và cán bộ ta làm đúng như thế, nhưng
cũng có một số không làm đúng, do đó mà để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu
hưởng thụ, nghỉ ngơi, họ muốn chọn công tác theo ý thích của cá nhân mình, không
cực và thành kiến của quá khứ. Do vậy, nếu được giáo dục tốt , phù hợp với tính cách
và tâm lý, một sự giáo dục tiến hành trên cơ sở tạo ra những điều kiện vật chất, tinh
thần cho sự phát triển tính cách, tâm lý đó, và biết định hướng, động viên đúng mực,
thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sáng tạo, sẵn
sàng hy sinh vì đại nghĩa.
Hồ Chí Minh đã nói một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi
trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Ơ đây, Ngừơi đã chỉ ra tuổi thanh niên là thời kỳ
đẹp nhất, sống động nhất, như mùa xuân trăm hoa đua nở, tràn đầy nhựa sống. Đó là
hình ảnh và xã hội luôn kỳ vọng, tin yêu.
Hơn nữa, sinh viên là lớp người trẻ tuổi, có sức khoẻ, năng động, sáng tạo,
nhưng còn thiếu kinh nghiệm do chưa từng trải, cần phải được xã hội quan tâm chăm
sóc, vun trồng để họ trở thành ngừơi công dân hữu ích cho đất nước.
Sinh viên là một lực lượng năng động, sáng tạo giàu nghị lực có lý tưởng cao
đẹp, có thể đảm trách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn, nặng nề khi cách
mạng giao phó.
Đánh giá đúng vị trí vai trò và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách
mạng cho sinh viên là rất quan trọng.
Nhìn nhận và đánh giá đúng sinh viên trước hết phải xác định vị trí và vai trò
của sinh viên trong tiến trình phát triển xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng có tác dụng chỉ đạo và định hướng cho công tác giáo dục và chuẩn bị hành trang
cho sinh viên bước vào đời. Khi đánh giá về vị trí vai trò của thanh niên cần khẳng
định họ là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước.
Thực tiễn cho thấy, muốn giáo dục thanh niên thành lớp người kế thừa trung
thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của đảng, trước tiên phải đánh giá
một cách đúng đắn, khách quan, khoa học về họ.
Các bậc tiền bối yêu nước ở Việt Nam cũng có sự quan tâm đến thanh niên.
Song, do điều kiện lịch sử hạn chế, do lập trường giai cấp khác nhau nên cách đánh giá
và giải quyết vấn đề này đều có sự khác nhau.
Đến đầu thế kỷ XX, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, kế thừa và
phát triển sáng tạo di sản tư tưởng tiến bộ của dân tộc và thời đại, với tầm nhìn chiến
- Về chất lượng:
Trong giai đoạn hiên nay, đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Với tính năng động, sáng tạo và tự quyết trong công việc, sinh viên
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Họ có mặt trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh, khoa học, công nghệ, quốc
phòng, an ninh, trên tất cả các lĩnh vực đó họ đều là những người tiên phong, phát
huy các khả năng và nổ lực của mình để góp phần vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa
xã hội.
Trong điều kiện mở cửa tiếp xúc với nhiều luồng văn hoá bên ngoài, mặc dù có
sự biến động chính trị sâu sắc ở nhiều nước trên Thế giới và tác động tiêu cực của nền
kinh tế thị trường, nhưng đa số sinh viên vẫn giữ dược phong cách, truyền thống dân
tộc và lối sống lành mạnh. Có phẩm chất đạo đức cao đẹp, có thái độ học tập, lao động
23
LƯƠNG THỊ HẢO – TRIẾT K26 - TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN
đúng đắn, sống có lý tưởng, yêu quê hương đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có tinh
thần quốc tế vô sản trong sáng.
Từ năm 1994 đến nay, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên có
bước chuyển biển tích cực. Đoàn thanh niên các cấp đã tiến hành nhiều đợt sinh hoạt
chính trị, hội thảo diễn đàn để giáo dục lý tưởng cho sinh viên đã góp phần quan trọng
làm cho sinh viên ngày càng tin tưởng vào công cuộc đối mới đất nước do Đảng lãnh
đạo.
Kinh tế thị trường cùng với quá trình giao lưu hội nhập, bên cạnh những yếu tố
tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội, thì cũng hàm chứa không ít yếu tố tiêu cực làm
ảnh hướng đến trật tự xã hội và đời sống con người.Việc du nhập lối sống phương Tây
và các loại văn hoá phẩm đồi truỵ đã làm ảnh hưởng đến thế hệ trẻ Việt nam.
Trong học tập thì trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của sinh viên còn
thấp. Định hướng nghề nghiệp, động cơ học tập còn chưa phù hợp với thị trường lao
động, với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Không ít sinh viên học
tập chỉ vì mục đích kiếm tiền, cố gắng thi vào những trường, những nghành để sau này
theo học tập trung tại các trường Đại học và Cao Đẳng nên sinh hoạt trong một cộng
đồng với những quan hệ khá gần gủi (trường lớp ). Với những đặc điểm trẻ tuổi, có
trình độ và năng lực sáng tạo, khả năng tiếp cận cái mới nhanh và linh hoạt, thích ghi
kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, nên toàn cầu hoá tác động
không nhỏ tới đối tượng này.
Một trong những tác động tích cực nổi bật nhất là kinh tế thị trường cũng với ý
thức đề cao tính cá nhân, là việc soi chiếu các giá trị đạo đức dưới goc độ cá nhân,
phẩm chất cá nhân. Tính cá nhân được coi như một trong những thước đo của hành
động, đạo đức hay phi đạo đức chỉ phụ thuộc một phần vào di sản tinh thần mà cộng
đồng trước để lại, còn chủ yếu phụ thuộc vào mỗi cá nhân tạo thành cộng đồng mới
hôm nay.
Quan điểm đạo đức xuất phát từ thước đo cá nhân này là một sức mạnh lớn
trong quá trình ly khai với những quan điểm đạo đức truyền thống không còn phù hợp
trong thời kỳ mới. Từ ý thức cá nhân, ít chịu ảnh hưởng bởi dư luận như trước đã tạo
điều kiện phát huy sức sáng tạo cá nhân làm cho cá nhân chủ động và nhanh chóng
tiếp cận với những cái mới trong khoa học, kỹ thuật và công nghệ, chịu khó học hỏi
kiến thức phục vụ cho nghề nghiệp và công việc.
Thực ra, việc để lại đàng sau bước đi của chúng ta những di sản quá khứ đã lỗi
thời không phải là chuyện đơn giản, vì nó đã ăn sâu vào ý thức cộng đồng qua thời
gian khá dài. Chính sự phát triển của kinh tế thị trường là chất xúc tác, là đòn bẩy,
cũng là yêu cầu của việc rời bỏ triệt để những mảnh quá khứ đã lỗi thời một cách nhẹ
nhàng.
Làm được điều ấy một cách triệt để nhất, rõ ràng nhất không ai khác ngoài sinh
viên - đối tượng trẻ có tri thức, lớn lên trong môi trường mới, có điều kiện rời bỏ quá
khứ một cách ít luyến tiếc hơn cả. Đây là đối tượng mà sự liên hệ với truyền thống
chưa thật sâu đậm nên dễ dàng để những giá trị truyền thống lỗi thời lại đằng sau, để
tiếp thu cái mới, chấp nhận những giá trị mới trong một môi trường năng động liên
tục.
Tác động tích cực, tiếp theo của kinh tế thị trường đối với đạo đức sinh viên là
tạo ra sự đồng nhất tương đối giữa quan niệm đạo đức và quy tắc ứng xử của một cộng