1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ YẾN
VĂN HÓA ỨNG XỬ HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC
GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO SINH VIÊN
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thúy Vân
Hà Nội - 2012
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Tính cấp thiết của đề tài 5
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3. Mục đích, nhiệm vụ 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 12
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12
7. Kết cấu của luận văn 12
CHƢƠNG 1: VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ HỒ CHÍ MINH 13
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về văn hóa ứng xử 13
1.2. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh 31
CHƢƠNG 2: GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ HỒ CHÍ MINH CHO SINH
VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN 66
2.1 Một số tiêu chí đánh giá văn hóa ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí
và Tuyên truyền theo văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh 66
2.2. Thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền 70
2.3. Sự cần thiết phải giáo dục văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cho sinh viên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 90
2.4. Giải pháp giáo dục văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cho sinh viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền 94
Học viện Báo chí và Tuyên truyền là đơn vị trực thuộc Học viện Chính
trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
6
giảng viên lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ phóng viên báo
chí, biên tập viên xuất bản, cán bộ làm công tác tư tưởng, văn hóa và các khoa
học xã hội và nhân văn khác; là cơ sở nghiên cứu khoa học phục vụ mục tiêu
nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phục vụ cho việc hoạch
định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực tư tưởng, báo chí
và truyền thông. Với hơn 50 năm hình thành và phát triển, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền có thể nói là một trong những cái nôi đào tạo cán bộ lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước ta, rất nhiều học viên sau khi ra trường đã nắm giữ
những vị trí quan trọng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, trong các cơ
quan Tư tưởng Văn hoá, cơ quan Báo chí, Xuất bản
Với tư cách là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ; tuyên truyền viên
tương lai của đất nước mà phần lớn sinh viên khi ra trường sẽ trở thành
những người trực tiếp thi hành đường lối chủ trương, chính sách của Đảng,
đem đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến gần dân hơn. Đội
ngũ này nếu không được đào tạo, rèn luyện tốt cả đức và tài trong nhà
trường thì khi ra trường sẽ khó lòng làm tốt được nhiệm vụ trong công tác
của mình. Nguy hại hơn, nếu họ suy thoái về đạo đức lối sống, có hành vi
không đẹp về văn hóa thì còn gây ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh của
Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Với chức năng, nhiệm vụ quan trọng đó, đặc biệt là liên quan đến đặc thù
ngành trong văn hóa giao tiếp, ứng xử, Nhà trường cũng như Ban chấp hành đoàn
Học viện đã có nhiều hoạt động quan tâm sâu sắc tới vấn đề giáo dục văn hóa nói
chung, văn hóa ứng xử của sinh viên nói riêng. Phong trào xây dựng văn hóa học
đường trong Nhà trường đã góp phần tích cực vào việc hình thành văn hóa ứng xử
của sinh viên Học viện theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc
cập gián tiếp văn hóa ứng xử bằng hai mục ở hai chương. Đó là những điều
8
bàn về lối sống, nếp sống, mức sống của người Việt Nam. Từ đó tác giả nêu
lên giá trị của văn hóa đối với lối sống hiện nay là ủng hộ cái đẹp, phê phán
cái xấu, hướng tới chân – thiện – mĩ.
- Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
Nội. Tác giả đã xem xét văn hóa khởi đầu từ các điều kiện vật chất quy định
và định vị văn hóa Việt Nam, qua đó nhận thức được cái tinh thần là văn hóa
nhận thức và văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, để rồi cái tinh thần đó lại
tác động trở lại đời sống vật chất hình thành nên cách thức ứng xử giao lưu
với môi trường tự nhiên và xã hội.
- Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2002), văn hóa ứng xử của người Hà
Nội với môi trường thiên nhiên, Viện văn hóa và Nxb văn hóa - thông tin Hà
Nội. Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và
văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên và người Hà Nội từ truyền
thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa, trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các tác giả đã đề xuất một số phương
hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người
Hà Nội với môi trường thiên nhiên.
- Nguyễn Văn Lê (2005), Văn hóa đạo đức trong giao tiếp ứng xử xã
hội, Nxb Văn hóa – Thông tin. Tác giả đã nêu 2 chương về văn hóa ứng xử
cộng đồng và văn hóa ứng xử trong thương lượng – đàm phán. Qua đó, tác
giả lý giải và chỉ dẫn các tình huống cụ thể rồi đưa cách ứng xử cho phù hợp
với đối tượng và loại hình khác nhau.
- Lê Văn Quán (2007), văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt Nam,
Nxb văn hóa thông tin. Tác giả đã giành năm chương để bàn về văn hóa ứng xử
của người Việt Nam. Từ các nhân tố tạo nên các ứng xử, tác giả nêu lên các bình
diện và phương châm ứng xử của người Việt theo nhân cách chân, thiện, mĩ.
thật giản dị, vĩ đại và cũng cực kì lịch sự, thanh tao, cao quý trong cách ứng
xử với bạn bè quốc tế và với các cụ già, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng. Phong
cách ứng xử Hồ Chí Minh là kết tinh cao đẹp của văn hóa ứng xử văn hóa
Việt Nam.
- Song Thành (1999), Hồ Chí Minh – Nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã nêu cụ thể, chi tiết về văn hóa ứng xử
Hồ Chí Minh thông qua chương X với nội dung: Văn hóa giao tiếp, ứng xử
Hồ Chí Minh. Theo tác giả: Văn hóa giao tiếp, ứng xử Hồ Chí Minh được
biểu hiện gồm: Khiêm tốn, nhã nhặn, lịch lãm; Chân tình, nồng hậu, tự nhiên;
linh hoạt, chủ động, biến hóa; uyển chuyển có lí, có tình; cảm hóa. Khoan
dung, đại lượng; nụ cười xóa nhòa mọi cách bức.
- Đặng Xuân Kì (chủ biên) (2004), phương pháp và phong cách Hồ Chí
Minh, Nxb Lý luận chính trị. Tác giả giành chương VI nói về phong cách ứng
xử văn hóa của Hồ Chí Minh. Qua đó, người đọc được cung cấp đầy đủ
những hành vi ứng xử của Người đối với mình, mọi người, bạn bè, đồng chí,
hay đối với kẻ thù đều rất văn hóa, rất nhân văn và tình người. Ngoài ra
phong cách ứng xử của Người còn được thể hiện ở sự gắn bó với thiên nhiên,
yêu thiên nhiên; với công việc, tận tụy, hăng say, nói ít làm nhiều. Công trình
đã nêu bật được những chuẩn mực về văn hóa ứng xử theo phong cách Hồ
Chí Minh.
- Trần Thái Bình (2007), Hồ Chí Minh – Sự hình thành nhân cách lớn,
Nxb trẻ. Phần 3 chương III tác giả bàn đến văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh. Tác
giả đã trình bày chi tiết cách ứng xử của Người thông qua các tình huống cụ
thể. Theo tác giả, ở Hồ Chí Minh có một phong cách ứng xử rất văn hóa. Chữ
văn hóa bao hàm rộng rãi tất cả những giá trị tinh thần quý báu của một nhân
cách lớn những giá trị nhân văn.
Những bài báo, tạp chí, các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, các
sách chuyên khảo nêu trên đã từng bước phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ các
11
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Những tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ứng xử và thực tiễn hoạt
động của Người.
+ Việc vận dụng văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cho sinh viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lí luận: dựa vào cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về văn hóa.
- Phương pháp: Lịch sử và lô gic, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực
tiễn, phân tích và tổng hợp, phỏng vấn sâu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần làm rõ hệ thống quan điểm và thực tiễn văn hóa ứng xử Hồ
Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giáo dục, nâng cao văn hóa ứng xử cho
sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho phòng
công tác chính trị sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong công tác
giáo dục đạo đức, văn hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu làm 2 chương 6 tiết.
13
CHƢƠNG 1
VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ HỒ CHÍ MINH
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về văn hóa ứng xử
1.1.1. Khái niệm văn hóa ứng xử
Trong đó, E. Tylor cho rằng văn hóa bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan
đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp
luật… quan niệm này đã nêu lên được rất nhiều lĩnh vực của văn hóa, tuy
nhiên nó mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê mọi lĩnh vực sáng tạo của con người;
còn F. Boas mới chỉ quan tâm tới những yếu tố góp phần quan trọng trong
việc hình thành văn hóa của con người đó là mối quan hệ giữa cá nhân, tập
thể và môi trường. Như vậy, cả hai quan niệm này chưa khái quát được đầy
đủ bản chất của khái niệm văn hóa.
Có quan niệm lại xem văn hóa như cơ sở định hướng cho thế ứng xử
tốt đẹp của cá nhân và cộng đồng dân tộc: “Văn hóa là sự hiểu biết … nhưng
chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở
thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm
hồn, đạo lý, lối sống, hành vi…) của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên
trong đó hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp đối với bản thân và trong quan hệ
đối với người, đối với sự vật và hiện tượng của môi trường xã hội và môi
trường tự nhiên xung quanh” [48, tr. 19- 20].
Trong những quan niệm về văn hóa nêu trên, mỗi quan niệm nhìn nhận
bản chất văn hóa ở một góc độ riêng, nhưng đều coi văn hóa là sản phẩm hoạt
động của con người thông qua quá trình tương tác giữa con người với tự
nhiên và với xã hội. Những sản phẩm đó luôn hướng con người tới chân,
thiện, mỹ; gắn bó chặt chẽ cuộc sống của con người.
15
UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hóa:
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ,
cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành
nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống ,mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [trích theo 70, tr. 12].
Trong “Mục đọc sách” của tập Nhật ký trong tù (1943), Hồ Chí Minh
của mỗi dân tộc đạt tới chân, thiện, mỹ trong mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa con người với môi trường xã hội và tự nhiên” [53, tr. 10].
Những giá trị đó được các thế hệ thừa nhận một cách tự nguyện, vận dụng vào
cuộc sống hàng ngày và được trao truyền từ đời này sang đời khác để tạo nên
những đặc trưng và bản sắc của từng dân tộc. Văn hóa là một phạm trù lịch
sử, nó được biến đổi theo thời gian và không gian, mang theo dấu ấn của thời
đại và quốc gia, dân tộc.
Cốt lõi của văn hóa đó là "giá trị”. Giá trị ở đây không phải là giá trị
kinh tế học hay giá trị trong toán học. Nhà triết học cổ điển Đức E. Kant
(1724 – 1804) quan niệm về giá trị như sau: “Vật nào có thể đem trao đổi
được đều có một giá trị, duy có một số vật không thể thay thế thì có một giá
trị. Thí dụ: chiếc đồng hồ có một giá trị, còn tình bạn, tình yêu, lòng yêu
nước… là những cái vô giá. Đó là những giá trị xã hội học” [trích theo 72, tr.
14]. Còn giá trị của văn hóa là giá trị xã hội. Giá trị xã hội được thực thi thông
qua hoạt động văn hóa của con người. Giá trị xã hội là cốt lõi của văn hóa,
văn hóa là sự phát triển bản chất người nên văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt
động nào của con người.
17
1.1.1.2. Khái niệm ứng xử
Ứng xử là một từ ghép gồm hai từ “ứng” và “xử”. Mà ứng và xử lại
bao gồm nhiều nghĩa khác nhau: ứng phó, ứng đáp, ứng đối, ứng biến và xử
sự, xử lý, xử trí, xử thế, hành xử…
Từ lâu vấn đề ứng xử của con người là một phạm trù được nhiều nhà
tâm lí học, xã hội học, sinh vật học quan tâm. Bởi con người muốn tồn tại,
trước hết phải dựa vào bản chất tự nhiên nhờ sự tiến hóa của thế giới vật chất,
vì thế nó cũng chịu sự chi phối của tự nhiên đồng thời tác động lại tự nhiên
nhờ những phản ứng của cơ thể. Những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên
theo cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử.
- Dưới góc độ sinh học: Các nhà khoa học cho rằng: ứng xử là toàn thể
ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm… mà
đối tác và những người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được.
Ba là: Ứng xử không diễn ra một cách tùy tiện mà thường tuân theo
khuôn mẫu nhất định nào đó.
Bốn là: Ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao
tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán. Sự lựa chọn đó
có được dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân.
Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những
đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và
cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh và yếu tố bên ngoài
tác động vào con người.
Như vậy ứng xử là phản ứng của con người trước sự tác động của người
khác hay môi trường tự nhiên trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử là
biểu hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua ngôn từ, cử chỉ, thái
độ, phong thái, hành vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài.
19
1.1.1.3. Khái niệm văn hóa ứng xử
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa mọi mặt đời
sống xã hội trong đó có toàn cầu hóa văn hóa đã làm cho môi trường văn hóa
được mở rộng. Nhờ đó, chủ thể văn hóa có thể tiếp cận và tiếp nhận các giá trị
văn hóa phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, điều đó cũng đòi hỏi chủ thể văn hóa
phải có một sự hiểu biết nhất định để nhận thức được giữa môi trường văn
hóa mênh mông ấy, đâu là giá trị văn hóa cần học hỏi, trau dồi, đâu là những
nguồn văn hóa lai căng cần phải đấu tranh gạt bỏ. Đó cũng là một trong
những ứng xử cần thiết của mỗi người trong bối cảnh xã hội hiện nay.
Văn hóa không chỉ là sự hiểu biết mà còn là sự làm đẹp cho đời bằng
sự hiểu biết. Không hiểu biết hay hiểu biết không đầy đủ thì không thể tạo ra
sản phẩm văn hóa có giá trị hoặc không thể hưởng thụ có chất lượng thành
tựu của văn hóa; và cũng khó có thể có hành vi ứng xử đạt đến tầm văn hóa.
thiên nhiên” do Nguyễn Viết Chức chủ biên thì cho rằng: Văn hóa ứng xử bao
gồm những cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với
môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác.
Điểm qua những khái niệm văn hóa ứng xử của các nhà nghiên cứu
trên đây có thể thấy rằng, ở Việt Nam khái niệm văn hóa ứng xử đã được bàn
đến khá cụ thể, chi tiết. Có thể hiểu một cách khái quát văn hóa ứng xử là
những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ
ứng xử giữa con người với các đối tượng khác nhau thể hiện qua ngôn ngữ,
hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời
sống đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân,
nhóm xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản
sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia được cá nhân, nhóm xã hội, cộng
đồng, toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo [21, tr. 27]. Trên cơ sở đó, dưới
góc độ nghiên cứu của luận văn, tác giả xin làm rõ thêm một số vấn đề liên
quan đến nội hàm khái niệm văn hóa ứng xử như sau:
21
Nếu xem văn hóa ứng xử là một hoạt động thì đó là hành vi nhằm thực
hiện các khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực
mà cá nhân và cộng đồng hướng tới. Văn hóa ứng xử là một phương diện để
thể hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong hoạt động thực tiễn gắn
với trình độ văn hóa.
Văn hóa ứng xử còn thể hiện rõ nét qua kỹ năng ứng xử. Kỹ năng ứng
xử không phải trên trời rơi xuống, cũng không phải do di truyền. Một người
muốn có được kỹ năng ứng xử đạt đến chuẩn mực văn hóa thì phải thông qua
quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng ứng xử từ hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng
tư tưởng, đạo đức, lối sống có văn hóa.
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là ngôn ngữ của cử chỉ là phương tiện
thể hiện văn hóa của con người, nó phản ánh quá trình hoạt động tạo ra lối
suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ gắn liền với học vấn và tính cách của con
kiện đó thay đổi thì nó cũng có sự điều chỉnh cần thiết cho phù hợp.
1.1.2. Văn hóa ứng xử dân tộc và nhân loại với việc hình thành văn
hóa ứng xử Hồ Chí Minh
1.1.2.1. Văn hóa ứng xử dân tộc với việc hình thành văn hóa ứng xử Hồ
Chí Minh
Văn hóa ứng xử là một bộ phận không thể tác rời của văn hóa nói
chung, do đó nó cũng mang những đặc trưng cơ bản của văn hóa nói chung
như tính biểu tượng, tính xã hội, tính tín hiệu, tính chuẩn mực, tính đánh giá,
tính sáng tạo, tính nhân văn đặc biệt là tính bản sắc và tính trường tồn. Điều
đó có nguồn gốc sâu xa hay cũng có thể nói là bị quy định trước tiên bởi điều
kiện của môi trường thiên nhiên. Vì vậy ở những vùng địa lý khác nhau thì có
đặc điểm ứng xử tiêu biểu riêng.
23
Việt Nam là một dân tộc nằm trong khu vực “văn hóa phương Đông”,
môi trường sống của cư dân nơi đây là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm) tạo
nên những con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú. Do đó người dân
phương Đông sinh sống chủ yếu bằng nghệ trồng trọt. Từ đó hình thành nên
“loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Việt Nam nằm ở tận cùng phía đông nam
nên thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình” [63, tr. 22].
Đặc điểm địa lý quan trọng này có tác động không nhỏ đến việc hình
thành những đặc điểm cơ bản trong văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam gồm:
Một là, văn hóa ứng xử của người Việt mang tính cộng đồng. Xuất phát
từ nền nông nghiệp lúa nước theo thời vụ, người dân đất Việt sống hài hòa,
gắn bó với nhau để nương tựa, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong lao động, sản xuất
và sinh hoạt hàng ngày.
Tính cộng đồng trong xã hội người Việt tạo nên tư tưởng cộng đồng,
lấy tư tưởng cộng đồng là chuẩn mực cho sự ứng xử, con người không được
phép phát triển “cái tôi” cá nhân mà chỉ có “cái ta” công xã. Sống ở làng, xã
người ta biết rõ gốc tích, lai lịch của nhau. Vì vậy, cá nhân muốn tồn tại phải
cộng đồng dân tộc, đã thôi thúc cậu thanh niên 21 tuổi ra đi tìm đường cứu
nước. Và trên những chặng đường dài trong hành trình tìm ra ánh sáng cho
dân tộc, lòng yêu nước, nỗi trăn trở với nỗi đau của dân mình là động lực vô
cùng to lớn giúp Hồ Chí Minh vượt qua tất cả trở ngại để đạt được mục đích
của mình. Sau này khi đã trở thành lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, trong
quá trình giao tiếp khi làm việc hay khi đi thực tế, thăm hỏi nhân dân, Người
vẫn luôn giữ thái độ tôn trọng ý kiến tập thể, tôn trọng cộng đồng, tôn trọng
những phong tục tập quán của từng địa phương nơi Người đến.
Hai là, người Việt Nam là lối ứng xử trọng tình nghĩa, hài hòa, linh hoạt .
25
Người Việt Nam ưa sống theo tình cảm, cảm tính. Có lẽ ở các nước
phương Tây, người ta sẽ khó có thể tìm thấy một cộng đồng người nào định
cư trên một địa bàn nhỏ mà có thể sống với nhau gần gũi, thân thiết, cởi mở
như anh em ruột thịt. Bởi ứng xử của người Việt từ xa xưa tới nay bị chi phối
bởi quan niệm: bán anh em xa mua làng giềng gần, hàng xóm tối lửa tắt đèn
có nhau, chính lối sống trọng tình làng nghĩa xóm đó giúp con người xích lại
gần nhau hơn và kết cấu cộng đồng thêm bền chặt. Đồng thời nó khiến cho
người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: yêu nhau yêu cả đường đi,
ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau thì
quả bồ hòn cũng vuông, …
Nếu trong nếp nghĩ người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng
nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc sống, trong cư xử giữa người với
người, người Việt sống có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: Một bồ cái
lý không bằng một tí cái tình. Chính vì vậy, đối với người Việt, nếu ai giúp
mình một chút thì nhớ ơn suốt đời, nếu ai dạy mình dù ít dù nhiều cũng đều
tôn làm thầy: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.
Điều này giúp ta dễ dàng lí giải vì sao trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho việc
tăng cường mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước láng
người Việt Nam còn sống rất hài hòa, linh hoạt trong quan hệ xã hội để sống
không mất lòng ai, chiến thắng nhưng không làm kẻ thù mất mặt … Điều này
được chứng minh rất rõ nét trong cách ứng xử của ông cha ta trong lịch sử.
với tấm gương của Lý Thường Kiệt, chính sách của Lê Lợi- Nguyễn Trãi.
Nối tiếp truyền thống ứng xử của các bậc anh hùng dân tộc, bằng tấm
lòng nhân đạo và tình yêu thương con người, Hồ Chí Minh, đã đánh thức
lương tri của 1.997 lính Pháp và lính lê dương thuộc nhiều quốc tịch khác
nhau đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh, sát cánh cùng dân ta trong suốt cuộc