Đại học quốc gia Hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
====&&&====
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Đề tài:
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc giáo
dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
Giáo viên hướng dẫn : TS Dương Văn Duyên
Học viên : Trần Thị Kim Dung
Lớp : K14- Cao học triết Hà Nội, 8-2009
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
con người có tri thức khoa học kĩ thuật, đồng thời cũng phải có những phẩm chất
đạo đức tốt. Vì vậy, bên cạnh việc giáo dục, trang bị những tri thức khoa học kĩ
thuật cho người học cần phải tiến hành song song việc hoàn thiện nhân cách,
phẩm chất đạo đức tốt, đặc biệt là đối với tầng lớp thanh niên – những chủ nhân
tương lai của đất nước.
Hiện nay, đất nước ta đang mở cửa giao lưu hội nhập với thế giới, nền
kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh
tế thị trường có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Mặt
khác, nó cũng có những tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội. Sự
mở cửa nền kinh tế khiến cho hàng loạt những luồng tư tưởng mới tràn vào trong
nước, trong đó không ít tư tưởng phản động, muốn chống phá cách mạng Việt
Nam. Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho
thanh niên, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí, trách nhiệm của mình đối với dân
tộc, từ đó mà nỗ lực phấn đấu, rèn đức luyện tài để có đủ năng lực hoàn thành
cuộc cách mạng của dân tộc trong giai đoạn mới.
Việc giáo dục đạo đức cho thanh niên phải được thực hiện thường xuyên,
bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, thông qua hệ thống giáo dục từ gia
đình, nhà trường đến xã hội. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có một vai trò quan
trọng trong giáo dục đạo đức thanh niên hiện nay. Xuất phát từ điều đó tôi đã
chọn “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức thanh niên Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức
của Người nói riêng đã được tiến hành từ lâu và được rất nhiều tác giả quan tâm
đến. Trong những năm gần đây càng có nhiều tác giả viết về vấn đề này hơn.
3
Tác phẩm “Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của Trần Văn
Giàu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1997) đã đi phân tích điều kiện kinh tế –
xã hội nơi Hồ Chí Minh sinh sống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phân tích
Tác phẩm cũng đã nêu lên những yêu cầu của việc giáo dục đạo đức trong thời
kỳ mới.
Tác phẩm “Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống mấy vấn đề lí luận
và thực tiễn” của Lê Văn Tích, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2008) đã phân
tích sự ảnh hưởng của của bối cảnh kinh tế - xã hội, sự tác động qua lại của các
yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá đối với sự chuyển đổi tư tưởng, đạo đức, lối
sống của con người. Tác giả cũng đã phân tích để cho thấy những yếu tố tạo nên
sự bền vững của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là ở chỗ, Hồ Chí Minh đã tìm
được sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và
quốc tế…Hơn nữa, Hồ Chí Minh cũng tin tưởng vào việc có thể chuyển đổi được
đạo đức, lối sống của con người phù hợp với thời đại. Qua tác phẩm này tác giả
cũng đã phân tích và nhấn mạnh tới yếu tố truyền thống trong tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh và những ảnh hưởng của yếu tố truyền thống trong việc nâng cao
đạo đức cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
Bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của tác giả Lê Trọng Ân,
đăng trên Tạp chí triết học, số 1- 2005 đã phân tích giá trị nhân sinh quan trong
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tác dụng của nó trong việc hình thành nhân
cách sống của con người, nhất là đối với những chiến sĩ cách mạng. Bài viết cũng
đã khái quát những nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và khẳng
định sự cần thiết của việc học tập tư tưởng đạo đức của Người.
Bài “Tính cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” của tác giả
Vũ Văn Thuấn, Tạp chí triết học, số 10- 2005 đã đi phân tích để thấy rõ những
điểm vĩ đại của đạo đức cách mạng, những điểm đối lập giữa đạo đức cách mạng
với nền đạo đức cũ- đạo đức duy tâm và chỉ được nêu lên nhưng không được
thực hiện. Qua đó, tác giả khẳng định giá trị to lớn của đạo đức cách mạng trong
sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.
5
Bài “Đạo đức mới- đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau”
của tác giả Trịnh Duy Huy, Tạp chí triết học, số 1- 2006 đã phân tích và cho thấy
cơ bản trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và công tác giáo dục đạo đức cho
thanh niên Việt Nam hiện nay theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ
- Mục đích: Làm rõ một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách
mạng và vai trò của những tư tưởng đó với việc giáo dục đạo đức thanh niên Việt
Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Phân tích điều kiện, tiền đề hình thành và những nội dung cơ bản trong
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
+Phân tích làm rõ những kết quả và hạn chế trong công tác giáo dục đạo
đức cho thanh niên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh ở nước ta những năm
qua.
+ Làm rõ sự cần thiết và những biện pháp vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh trong giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng và công tác giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam theo tư tưởng đạo
đức của Người.
- Phạm vi:
+ Luận văn chỉ nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh thông qua
những bài viết, những việc làm của Người.
+ Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức cho thanh
niên Việt Nam theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh từ khi đất nước đổi mới đến
nay
5. Cơ sở lí luận và phương pháp luận
7
- Cơ sở lí luận: Luận văn được triển khai trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo
đức và vai trò của đạo đức trong xã hội.
văn hóa của người Việt.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, ngoài việc phải gồng mình để
chống đỡ thiên tai, người Việt Nam còn phải luôn luôn chống trả các cuộc xâm
lăng của chế độ phong kiến phương Bắc. Điều này đòi hỏi sự cố kết dân tộc, tinh
thần đoàn kết cao và sự kiên cường bất khuất của mỗi người dân. Chính điều kiện
và hoàn cảnh sống như vậy đã tạo nên một dân tộc Việt Nam với những truyền
thống tốt đẹp, với tinh thần yêu nước cao cả và chủ nghĩa nhân văn mang đậm
những nét riêng. Chính chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân ái đó là hành trang
tinh thần đầu tiên Nguyễn ái Quốc mang theo trong quá trình đi tìm đường cứu
nước và là cơ sở đầu tiên cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, ngay từ rất sớm, Hồ
Chí Minh đã chịu ảnh hưởng của nền giáo dục gia đình với những nguyên tắc
luân lý đạo đức Nho giáo như trung, hiếu, tiết, nghĩa, tam cương ngũ
thường…Hồ Chí Minh đã sớm học được ở người cha đức tính cần cù, tiết kiệm,
9
khiêm tốn, thật thà, sớm học được ở người mẹ lòng yêu thương con người, yêu
quê hương đất nước qua những câu ca dao tục ngữ, những câu hò điệu lý, những
câu hát ru quen thuộc. Như vậy, gia đình chính là nơi đầu tiên nuôi dưỡng tâm
hồn trong sáng của Hồ Chí Minh, là nơi đặt nền móng đầu tiên trong việc hình
thành tư tưởng đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh và cha mẹ chính là những tấm
gương sáng đầu tiên để Hồ Chí Minh học tập và noi theo.
Cùng với gia đình, quê hương xứ Nghệ chính là nơi tiếp nối truyền thống
gia đình trong việc vun trồng và bồi đắp tình cảm, lòng yêu quê hương đất nước
của Hồ Chí Minh. Nghệ An là vùng quê nghèo nhưng có truyền thống hiếu học
lâu đời, có truyền thống yêu nước nồng nàn, có tinh thần tự lực tự cường cao, có
ý chí kiên cường, luôn vùng dậy đấu tranh một cách quyết liệt mỗi khi đất nước
có giặc ngoại xâm. Nơi đây, trong mọi thời kỳ của lịch sử dân tộc đã sinh ra
những người con ưu tú của đất nước và những tên tuổi đó đã đi vào lịch sử dân
tộc như những tấm gương sáng chói về tài năng, về truyền thống văn hóa và về
hội, văn hóa tư tưởng mà nhân loại đã tích lũy được cho đến giai đoạn đó. Tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức của Người nói riêng cũng
không nằm ngoài quy luật đó. Phải khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chịu
ảnh hưởng rất lớn, mang dấu ấn của cả Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo trong đó
đậm nét hơn cả là dấu ấn của Nho giáo. Khi nói về nguồn gốc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh Giáo sư Trần Văn Giàu đã cho rằng: “nói Nho giáo thì đúng
là có phần hẹp, hẹp là vì, nếu tôi không lầm thì trong tác phẩm và tác phong của
cụ Hồ ngoài dấu ấn của Nho giáo còn có không ít dấu ấn của Lão giáo, của bách
gia chư tử. Vậy có thể nói rằng một trong những cội nguồn văn hoá trước tiên,
hay là một trong những tảng đá làm nền tư tưởng Hồ Chí Minh là hán học, Hán
học rộng hơn là Nho học” [21; tr 32].
Tuy nhiên sự kế thừa của Hồ Chí Minh đối với những tư tưởng đạo đức
Nho giáo là trên tinh thần chọn lọc những yếu tố tích cực nhất và phù hợp nhất.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu không ít những nguyên lý, những chuẩn mực đạo đức
của Nho giáo như tinh thần trung, hiếu, tiết, nghĩa, nhân, trí, dũng, liêm và không
thể không nói đến tinh thần “tu thân” trong đạo Nho, bởi đó chính là quá trình tự
11
trau dồi và hoàn thiện con người về mặt đạo đức. Tu thân là cơ sở đầu tiên để tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh cũng phê phán và loại bỏ
những yếu tố thủ cựu, lạc hậu, tiêu cực của học thuyết Nho giáo như tư tưởng
đẳng cấp, trọng nam khinh nữ. Hồ Chí Minh đã ứng dụng học thuyết Nho giáo
vào xã hội Việt Nam một cách sáng tạo, làm cho nó phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh đất nước, phù hợp với thời đại mới. Nhận xét về điều này, Giáo sư Đào
Duy Anh đã cho rằng:
“trong phong cách, phẩm cách và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có
nhiều yếu tố của Nho giáo mà chính những yếu tố Nho giáo ấy dung hòa nhuần
nhuyễn với những truyền thống ưu tú của dân tộc đã làm cho con người Macxít –
Lênin nít vĩ đại làm nhân dân thế giới ngưỡng mộ ấy cái sắc thái độc đáo đã nói ở
trên” [dẫn theo 65; tr 28]. Hay như Giáo sư Đinh Xuân Lâm đã Nhận xét: “dù
thần Tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng phương Tây và Người đã tìm
cách để tiếp cận, tìm hiểu về tư tưởng tiến bộ đó. Quá trình tiếp thu văn hóa
phương Tây không phải là sự đoạn tuyệt với văn hóa cổ truyền Việt Nam mà là
sự bổ sung thêm về mặt kiến thức. Quá trình đó càng làm uyên bác thêm vốn
kiến thức của Người, làm cho Người hiểu rõ hơn về tình cảnh của nhân dân lao
động không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, làm sâu sắc thêm tình thương
của Người đối với nhân dân lao động và những người bị áp bức bóc lột.
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức của Người nói
riêng là kết quả quá trình học tập, rèn luyện không ngừng. Quá trình học tập, tiếp
thu của Hồ Chí Minh đã không diễn ra một cách thụ động xuôi chiều mà luôn có
sự trao đổi, sàng lọc đối với văn hóa dân tộc. Người chỉ giữ lại và phát huy
những yếu tố tích cực, loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực, ảnh hưởng xấu và
cản trở sự phát triển của xã hội. Đối với văn hóa nước ngoài, Người chỉ tiếp thu
và vận dụng những yếu tố phù hợp với truyền thống dân tộc, phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của đất nước. Hồ Chí Minh đã không lặp lại truyền thống một
cách giản đơn. Người cũng không chỉ dừng lại ở việc học tập tiếp thu từ truyền
13
thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, mà đã tiếp cận và tiếp thu từ tất cả các nền
văn hóa tiên tiến nhất của nhân loại.
Hồ Chí Minh đã chắt lọc tất cả những gì tinh túy nhất từ văn hóa nhân
loại, từ tư tưởng của những con người vĩ đại. Người đã tiếp thu từ Khổng Tử sức
mạnh của đạo đức cá nhân và quá trình tu dưỡng đạo đức cá nhân, tiếp thu từ
Phật lòng từ thiện, từ Giêxu ước mơ hoàn thiện nhân cách con người, từ Tôn Dật
Tiên ý tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc, từ chủ nghĩa Mác – Lênin phép biện
chứng duy vật. Như người đã nói:
“Học thuyết Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.
Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là cách làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều
nhiều nước. Tuy nhiên, nó còn mang tính thần bí, mang tính đẳng cấp rõ rệt, nó
ru ngủ người dân, khuyến khích con người an phận với số mệnh đã được “ông
trời” định đoạt của mình.
Với đạo đức Phật giáo, dù cho trong học thuyết của mình đã rất quan tâm
đến việc tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của con người, hướng con người
tránh xa những hành vi xấu thì giáo lí Phật giáo vẫn còn mang yếu tố duy tâm khi
hướng con người đến cõi Niết Bàn, cực lạc. Đạo đức Phật giáo cũng tạo cho con
người tâm lí an phận, cam chịu và con đường để thoát khỏi mọi khổ đau là cắt
đứt với việc đời, việc người, tu hành để đến cõi Niết Bàn, đến miền cực lạc.
ở phương Tây, mặc dù trong thời kỳ cận đại đã có nhiều tư tưởng đạo đức
khá tiến bộ. Nhưng phổ biến nhất trong xã hội vẫn là tư tưởng đạo đức Thiên
Chúa giáo. Mặc dù sức hút và ảnh hưởng của nó hầu như lan tỏa trong khắp xã
hội, nhưng xét về bản chất, nó là một học thuyết mang tính chất duy tâm tôn
giáo, nó xoa dịu những nỗi đau trong thực tại của con người bằng cách hướng họ
đến một thế giới bên kia, một thế giới của Chúa sau khi đã chết đi. Tư tưởng đạo
đức Thiên Chúa giáo cũng làm triệt tiêu tinh thần đấu tranh của con người để
giành lấy một cuộc sống tốt đẹp hơn.
15
Như vậy, hầu như tất cả những học thuyết đạo đức trong truyền thống bên
cạnh những tác dụng tích cực trong việc điều chỉnh hành vi của con người thì vẫn
còn mang trong nó những yếu tố duy tâm chủ nghĩa hoặc mang tính chất tôn
giáo, chưa chỉ ra được con đường hiện thực để đưa con người thoát khỏi sự bất
công trong xã hội, thoát khỏi ách áp bức bóc lột của các tầng lớp trên.
Với quan niệm duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, có tác dụng điều chỉnh hành
vi của con người trong các mối quan hệ xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kiên
quyết gạt bỏ những học thuyết đạo đức có tính chất tôn giáo và duy tâm chủ
nghĩa, những học thuyết đạo đức được rút ra từ những nguồn gốc phi lịch sử và
cũng đã chứng minh rằng đạo đức mang tính lịch sử, mỗi giai đoạn lịch sử thì
Chí Minh đang mong mỏi và cũng đã bỏ nhiều công sức để tìm kiếm. Sự bắt gặp
chủ nghĩa Mác - Lênin đã khiến cho những nền tảng đạo đức căn bản là lòng
yêu nước thiết tha cháy bỏng, lòng yêu thương con người sâu sắc ở Hồ Chí Minh
có điều kiện phát triển. Tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là cơ
sở quan trọng để tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giải quyết một cách thấu đáo,
hợp lí mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa cá nhân và xã hội. Qua nghiên
cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở nên khoa học hơn,
dần được hoàn chỉnh thêm và được tăng thêm sức sống.
1.1.3 Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh với sự hình thành tư tưởng đạo đức
của Người
Sẽ là không đầy đủ nếu ta chỉ xét đến những nhân tố khách quan mà
không xét đến nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh. Bản thân Hồ Chí Minh chính là một nhân tố quan trọng và có
tính chất quyết định cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Người.
Hồ Chí Minh là người có tố chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo,
ham hiểu biết, nhạy bén với cái mới Tất cả những điều nói trên đều đã được
thực tiễn cách mạng và lịch sử chứng minh một cách rõ ràng nhất.
17
Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, mong muốn cho đất nước được giải
phóng khỏi ách nô lệ, được độc lập tự do. Dù rất khâm phục và kính trọng các vị
tiền bối, song Hồ Chí Minh đã không tán thành con đường cứu nước của họ.
Người đã quyết tâm lựa chọn con đường riêng của mình, đi tìm con đường cứu
nước mới thực sự phù hợp với đất nước. Trong quá trình đó, Người đã đi qua
nhiều châu lục, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa của nhân loại, đã học tập không
ngừng nghỉ, học tập một cách sáng tạo, học mọi lúc mọi nơi và Hồ Chí Minh đã
tỏ ra là người có ý thức chủ động sáng tạo trong việc học tập tiếp thu các học
thuyết đạo đức trên thế giới. Trong suốt ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài và
trong thời gian trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước, Hồ Chí Minh đã tích lũy
được khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại, tích lũy được những kinh
người sẽ nắm giữ vận mệnh của dân tộc.
Như vậy, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không phải tự nhiên có được,
cũng không phải là sản phẩm thuần túy được rút ra từ trong đầu Hồ Chí Minh mà
là sản phẩm của quá trình tiếp thu học hỏi và vận dụng một cách sáng tạo từ di
sản đạo đức truyền thống của dân tộc, từ tinh hoa văn hóa của nhân loại và từ
chính tài năng, trí tuệ và bản lĩnh Hồ Chí Minh. Những kiến thức mà Hồ Chí
Minh tiếp thu được đã được soi dọi dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin với
một phương pháp luận khoa học – phương pháp biện chứng duy vật đã giúp
Người nhận thức, vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức mà Người đã tích
lũy được. Từ đó Người đã đưa ra nhiều luận điểm mới trong tư tưởng đạo đức
của mình, Người đã xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới trên cơ sở những
chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, phát triển nó thành đạo đức cách
mạng trong giai đoạn mới, phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh cũng là kết quả của quá trình tự rèn luyện, tự giáo dục; là kết quả
của quá trình học tập không ngừng nghỉ, học tập một cách có ý thức và theo một
phương thức riêng của mình. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh cô
đọng những yếu tố đạo đức truyền thống và những yếu tố của thời đại để hình
thành nên một quan điểm đạo đức rất riêng, rất Hồ Chí Minh và mang đậm bản
sắc của dân tộc Việt Nam.
19
1.2 Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh của những giá trị đạo đức
truyền thống tốt đẹp đã được chắt lọc, được cách tân cho phù hợp với thời đại
mới. Đó cũng là kết quả của quá trình học tập, tiếp thu những tinh hoa văn hóa
nhân loại để hình thành nên một tư tưởng đạo đức đặc biệt với diện mạo riêng,
mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó là một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh
với cấu trúc nội tại bao gồm vị trí, vai trò của đạo đức; hệ thống luận điểm với
mối quan hệ mật thiết tạo thành một chỉnh thể; những phẩm chất đạo đức trong
giai đoạn mới và những nguyên tắc để rèn luyện đạo đức trong suốt quá trình
mạng giải phóng dân tộc của đất nước ta sẽ không bao giờ có thể thành công
được.
Sự gắn bó khăng khít giữa đức và tài còn thể hiện ở chỗ: tài năng của con
người có liên quan chặt chẽ đến việc anh ta sử dụng tài năng đó như thế nào. Một
người có tài năng nhưng trong đầu óc đầy rẫy những tư tưởng tư sản, không
muốn phục vụ nhân dân, chỉ mưu lợi ích riêng cho bản thân mình thì cái tài ấy dù
có cao siêu đến đâu đi chăng nữa cũng không có lợi ích gì cho dân cho nước, vì
những người đó lúc nào cũng chỉ bo bo giữ quyền lời cho mình, bắt người khác
phục vụ mình. Một người có tài trước hết phải là người khiêm tốn, không tự kiêu
tự mãn, phải là người gần gũi với nhân dân, quan tâm đến lợi ích chung của tập
thể, của nhân dân, tự nguyện đem tài năng của mình phục vụ nhân dân, không
suy bì lợi ích danh vọng cá nhân thì cái tài ấy mới thực sự có ích.
Là một người có hiểu biết sâu rộng và chịu ảnh hưởng lớn của nền văn
hóa phương Đông nói chung và nền giáo dục Nho học nói riêng, Hồ Chí Minh
luôn coi đạo đức là tiêu chí quan trọng để đánh giá một con người, coi đó là một
trong những tiêu chí để con người có thể hoàn thiện nhân cách. Đặc biệt là đối
với người cách mạng thì tiêu chuẩn đạo đức là đầu tiên và không thể thiếu.
Đạo đức cách mạng giúp cho con người giữ vững được niềm tin, lí trí, có
thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giữ vững được mục tiêu phấn
đấu. Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không
sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Theo Hồ Chí Minh: “làm cách mạng là để cải tạo xã hội
21
cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm
vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, có sức mạnh
mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng
làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[47; tr 282].
Người còn nhấn mạnh thêm: “Cũng như sông thì có nhiều nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
cách mệnh” Hồ Chí Minh đã dành phần đầu tiên để nói về tư cách của một người
cách mệnh với 23 điều cụ thể. Trong đó, Người đã nêu lên những phẩm chất
quan trọng nhất mà một người cách mạng cần phải phấn đấu và rèn luyện. Khi
cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nhìn thấy nguy
cơ suy thoái đạo đức trong đội ngũ cán bộ khi họ lên nắm quyền. Vì vậy, sau khi
cách mạng tháng Tám thành công được 2 năm Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi
lối làm việc” để giáo dục cán bộ đảng viên, để đào tạo những cán bộ có phẩm
chất đạo đức tốt, không bị chi phối bởi quyền lực, địa vị, không gục ngã trước
những “viên đạn bọc đường”. Trong tác phẩm này, Người cũng đã nêu lên những
ưu nhược điểm của người cán bộ, đã chỉ ra những sai trái, những lỗi thường gặp
trong đạo đức và trong tác phong làm việc, đồng thời Người cũng chỉ ra cách
phòng tránh và sửa chữa những lỗi đó. Trong nhiều tác phẩm sau này và cho đến
cuối đời, trong bản Di chúc, Bác vẫn luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức
cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân.
Như vậy, trong bất kì một xã hội nào, giai đoạn lịch sử nào thì đạo đức
luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng
viên thì vai trò của đạo đức càng trở lên quan trọng hơn nữa. Đạo đức ảnh hưởng
và chi phối đến mọi hoạt động, hành vi, cách cư xử của con người trong các mối
quan hệ xã hội. Việc coi đạo đức là “gốc của người cách mạng” của Hồ Chí
Minh là hoàn toàn chính xác. Tư tưởng lấy đạo đức làm gốc của Hồ Chí Minh đã
cho thấy tác dụng to lớn của nó trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc
và cho đến nay khi đất nước đã hòa bình và phát triển thì tư tưởng đó vẫn còn
23
nguyên giá trị. Trong thời kỳ xây dựng đất nước hiện nay, chúng ta càng nhận
thấy rõ hơn vai trò của đạo đức cách mạng là vô cùng quan trọng. Nó là một
trong những nhân tố góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cho đất
nước và là một trong những nhân tố đảm bảo cho cuộc cách mạng trong giai
đoạn mới thắng lợi.
1.2.2 Những chuẩn mực đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh
phát, mà nó xuất phát từ trái tim, từ tâm trí của Người. Tình thương đó đã được
hun đúc, được bồi đắp từ truyền thống gia đình, từ truyền thống quê hương,
truyền thống dân tộc. Tình thương của Bác là tình thương mênh mông, bao dung
hết thảy, cảm hóa được mọi người. Bác dành tình thương cho mọi giai cấp, mọi
tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là đối với nhân dân lao động, những người cùng
khổ trong xã hội.
Không chỉ dành tình thương cho nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng
dành tình thương cho tất cả những người lao động nghèo khổ trên thế giới. Bởi
Người nhận ra rằng, dù ở bất kỳ đâu, dù bất kì màu da nào thì cũng chỉ có thể
chia làm hai loại người là kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Nếu phần lớn những
người đến thăm tượng Nữ thần Tự do của nước Mĩ đều ngước lên để nhìn ngắm
sự lung linh của ánh hào quang tỏa ra từ trên đầu bức tượng thì Hồ Chí Minh lại
nhìn xuống dưới chân tượng để cảm thông trước những người lao động nghèo
khổ. Và ngay cả khi đang còn trong nhà lao của Tưởng Giới Thạch, Người vẫn
dành tình thương và đau xót thay cho những số phận éo le ngang trái như một
người phụ nữ hay một cháu nhỏ phải vào nhà lao thay cho chồng và cha vì trốn
lính. Điều đó cho thấy tình thương của Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong
phạm vi dân tộc Việt Nam, mà còn vượt qua không gian để đến với những người
dân lao động trên toàn thế giới.
Tình thương của Hồ Chí Minh không phải là tình thương chung chung,
trừu tượng mang tính ước lệ, mà đó là tình thương yêu hiện thực nhất. Tình
thương đó không chỉ dừng lại trên giấy bút, trong lời nói hay trong bất kì một lời
hứa hẹn nào mà nó thể hiện ngay trong sự quan tâm thiết thực đến đời sống vật