ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Lan Phương
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG THỂ CHẾ
CHÍNH TRỊ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 62.31.02.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2017
1
Công trình được hoàn thành tại: Khoa Khoa học chính trị,
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Lê
Phản biện :
Phản biện :
Phản biện:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận
án tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà
Nội, vào hồi …. giờ … ngày … tháng… năm…
2.2. Nhiệm vụ.
Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
3
- Làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về mô hình thể chế chính
trị dân chủ cộng hòa dành cho Việt Nam.
- Làm rõ quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo xây
dựng thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa.
- Làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của thể chế chính trị Việt
Nam dân chủ cộng hòa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng.
Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về mô
hình thể chế chính trị dành cho Việt Nam và những cống hiến thực tiễn
của Người trong quá trình xây dựng thể chế chính trị Việt Nam Dân chủ
cộng hòa.
3.2. Phạm vi.
3.2.1. Về nội dung:
Thể chế chính trị là một khái niệm rộng, liên quan đến nhiều loại
thể chế khác nhau: thể chế Đảng, thể chế nhà nước, thể chế các tổ chức
chính trị-xã hội… Tuy nhiên, luận án xin tập trung nghiên cứu về thể
chế nhà nước và thể chế Đảng lãnh đạo xây dựng nhà nước vì lý do sau:
Thứ nhất, trong các loại thể chế tổ chức chính trị, thể chế nhà
nước được coi là thể chế trung tâm.
Thứ hai, khi phân biệt các loại hình thể chế chính trị, người ta
thường căn cứ vào yếu tố nhà nước. Không phải ngẫu nhiên, tên gọi của
chính thể nhà nước chính là tên gọi của thể chế chính trị.
Thứ ba, trong giai đoạn 1945-1969, việc xây dựng thể chế chính
đạo xây dựng những nhánh quyền lực của bộ máy nhà nước: lập pháp
(quốc hội), hành pháp (chính phủ) và tư pháp (tòa án) chi tiết hơn.
Thứ ba, luận án phân tích giá trị lý luận và thực tiễn của cả quá
trình Hồ Chí Minh hình thành quan điểm và chỉ đạo xây dựng thể chế
5
chính trị cộng hòa dân chủ nhân dân dành cho Việt Nam, từ năm 1911
đến năm 1969. Từ đó liên hệ với công cuộc đổi mới thể chế chính trị
Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu luận án.
Ngoài lời lời mở đầu, kết luận, luận án được kết cấu thành 4
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về thể chế chính trị, thể chế chính trị
cộng hòa và quan điểm của Hồ Chí Minh về mô hình thể chế chính trị
dành cho Việt Nam.
Chương 3: Quá trình Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng thể chế chính trị
Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chương 4: Giá trị của mô hình thể chế chính trị dân chủ cộng hòa được
Hồ Chí Minh lựa chọn và chỉ đạo xây dựng ở Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề chung về thể chế
chính trị
1.1.1.1. Nhóm công trình của tác giả nước ngoài
Nghiên cứu về mô hình thể chế chính trị không thể đề cập đến
những tác phẩm mang tính chất kinh điển: tác phẩm “Chính trị luận” của
chế chính trị: Dương Xuân Ngọc – Lưu Văn An (đồng chủ biên): “Thể
chế chính trị thế giới đương đại”,; Nguyễn Đăng Dung: “Thể chế chính
trị”; Phạm Quang Minh: “Tìm hiểu Thể chế chính trị trên thế giới; GS.
TS Tạ Ngọc Tấn với tác phẩm “Thể chế chính trị - Một số kinh nghiệm
của thế giới; “Thể chế chính trị các nước châu Âu” do PGS.TS. Thái
7
Vĩnh Thắng, PGS.TS Nguyễn Đăng Dung và Nguyễn Chu Dương sưu
tầm và biên soạn. Đáng lưu ý là cuốn sách chuyên khảo “Các loại hình
thể chế chính trị đương đại và những giá trị tham khảo cho Việt Nam
hiện nay” của GS.TS Lưu Văn Sùng (Chủ biên) Những công trình trên
trình bày những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến thể chế chính trị,
đặc biệt thể chế chính trị cộng hòa.
Việt Nam là quốc gia đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa nên khi
xem xét về vấn đề thể chế chính trị và thể chế nhà nước, không thể
không nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước.
GS.TS Lưu Văn Sùng có bài viết “Quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về thể chế cộng hòa xã hội chủ nghĩa”; TS. Trần Ngọc Liêu có
tác phẩm “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước với việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Đề cập đến đảng chính trị, đảng cầm quyền nhiều nhà nghiên cứu
trong nước đã tìm hiểu dưới cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn. Cuốn “Một
số đảng chính trị trên thế giới” của Ngô Đức Tính; “Đảng Chính trị ở
các nước tư bản chủ nghĩa” của Ngô Huy Đức; Đặng Đình Tân đã viết
cuốn“Thể chế Đảng cầm quyền – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;
tác giả Lưu Văn Sùng với cuốn “Đảng Cộng sản – Những vấn đề lý
luận và mô hình tổ chức bộ máy”. “Các mô hình hệ thống chính trị”
của tác giả Vũ Hoàng Công…
Trong khi đề cập đến các đảng chính trị, các tác giả có phân tích
Việt Nam của Nguyễn Trọng Phúc; Chính phủ Việt Nam 1945-2003
của Dương Đức Quảng; Quốc hội Việt Nam tổ chức, hoạt động và
đổi mới của Phan Trung Lý… Đáng lưu ý là hai công trình lớn đề
cập đến cơ quan lập pháp và hành pháp của Việt Nam: “Lịch sử
Quốc hội Việt Nam” gồm 2 tập và bộ “Lịch sử Chính phủ Việt Nam”
gồm 3 tập.
9
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 lãnh đạo cuộc đấu
tranh giành chính quyền của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam trở
thành đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng
Tám năm 1945. Nhiều công trình như Tìm hiểu về vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam của Đinh Xuân Lý; Mối
quan hệ giữa Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ
thống chính trị ở Việt Nam của Lê Hữu Nghĩa; Đảng cộng sản Việt Nam
những trang sử vẻ vang (1930-2002) do Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh biên soạn; Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính
trị của Trần Đình Huỳnh và Mạch Quang Thắng… Trong nhiều nội
dung, các tác giả có đề cập đến mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước
đặc biệt là thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước ở Việt Nam.
1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước, về Đảng
Những thế hệ lãnh đạo đầu tiên của cách mạng Việt Nam đã có
nhiều tác phẩm như: “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” (Tập 1+2)
và “Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam” của Trường Chinh;
“Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” của Phạm Văn
Đồng; “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” của
Võ Nguyên Giáp…
việc xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Có rất nhiều tác giả sau này nghiên cứu Hồ Chí Minh trên cương
vị Chủ tịch nước đã góp phần xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam
mới: “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” của Nguyên Bộ trưởng Bộ
Tư pháp Vũ Đình Hòe; “Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” của PGS. Lê Mậu Hãn;“Thắng
lợi của Hồ Chí Minh về việc kiến lập cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” được đăng trên Tạp chí
11
Lịch sử quân sự số 5 năm 2007. Cũng theo cách trình bày này còn có
tác phẩm Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và tổ chức hoạt động
của Chính phủ Việt Nam của Phan Hữu Tích và Trần Đình Thắng “Nhà
nước và cách mạng Việt Nam những năm 1945-1946, những sáng tạo
của Hồ Chí Minh” của Lê Phương Thảo xuất bản năm 2009. Quá trình
xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa những năm 1945-1946
mang dấu ấn cá nhân đậm nét của Hồ Chủ Tịch.
1.2. Khái quát kết quả các công trình khoa học nghiên cứu và
những hướng chính luận án cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1. Khái quát chung
Thông qua nhóm công trình tác giả luận án đã liệt kê, có thể đưa
ra một số tổng hợp bước đầu như sau:
Thứ nhất, các công trình đã trình bày hệ thống lý thuyết về thể
chế chính trị nói chung, thể chế nhà nước nói riêng.
Thứ hai, các công trình trình bày hệ thống về nguồn gốc cũng
như tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
Thứ ba, các công trình đã trình bày đóng góp của Hồ Chí Minh
trong việc chỉ đạo xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đặc
biệt trong những ngày đầu kiến quốc.
2.1.1.3. Thể chế chính trị
Kết hợp hai thuật ngữ “thể chế” và “chính trị”, có thể đưa ra cách
hiểu về thể chế chính trị: một mặt, đó là những quy định, quy chế, chuẩn
mực, quy phạm, nguyên tắc, luật lệ… nhằm điều chỉnh và xác lập các quan
hệ chính trị; mặt khác, đó là dạng thức cấu trúc tổ chức, các bộ phận chức
năng cấu thành của một một chủ thể chính trị hay hệ thống chính trị.
2.1.2. Phân loại
2.1.2.1. Thể chế quân chủ
13
Thể chế quân chủ là thể chế mà quyền lực nhà nước được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cùng một dòng họ. Người đứng đầu
quốc gia là một cá nhân, thông thường được gọi là vua (có nơi gọi là hoàng
đế, nữ hoàng…). Vua là người giữ quyền lực cao nhất, tuyệt đối, được hình
thành theo nguyên tắc tập quyền.
2.1.2.2. Thể chế cộng hòa
Thể chế cộng hòa là thể chế quyền lực nhà nước thuộc về số đông.
Những người nắm quyền lực nhà nước do các công dân lựa chọn theo
nguyên tắc bầu cử. Quyền lực nhà nước có sự phân chia thành ba nhánh lập
pháp, hành pháp, tư pháp.
2.2. Một số mô hình thể chế chính trị cộng hòa trên thế giới
2.2.1. Thể chế cộng hòa tổng thống
Trong thể chế cộng hòa tổng thống, người đứng đầu nhà nước
là Tổng thống. Nhà nước chia thành ba nhánh quyền lực lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Tổng thống cũng là người đứng đầu cơ quan hành
pháp. Quyền lực của Tổng thống rất lớn. Tổng thống được đông đảo
nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra. Trong cộng hòa tổng thống, mô
hình tổ chức nhà nước áp dụng tuyệt đối học thuyết phân chia quyền
lực.
lập Chính phủ công nông binh thành Chính phủ nhân dân. Đây là bước chuyển
rất lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình thể chế chính trị ở Việt Nam.
Thể chế chính trị dành cho Việt Nam sau ngày độc lập được Hồ Chí
Minh lựa chọn là thể chế chính trị cộng hòa dân chủ nhân dân.
2.3.2. Nhà nước không thể chuyên quyền và phi pháp quyền
Từ sự phản đối chính quyền của thực dân Pháp ở Việt Nam, Hồ
Chí Minh sớm hình thành mong muốn về một mô hình nhà nước sau khi
15
Việt Nam có độc lập, chủ quyền là: một nhà nước phải tuân theo các
nguyên tắc của pháp quyền.
2.3.3. Chủ thể quyền lực là nhân dân
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ thể quyền lực là toàn bộ
nhân dân trong nước. Nhà nước phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân
dân, làm việc vì lợi ích của nhân dân.
2.3.4. Nhà nước gồm 3 nhánh quyền lực được tổ chức theo nguyên
tắc tập trung quyền lực
2.3.4.1. Về tổ chức bộ máy nhà nước
Hồ Chí Minh nhiều lần nêu ra quan điểm về ba bộ phận cấu thành
quan trọng của nhà nước: Quốc hội (Nghị viện nhân dân) - cơ quan lập
pháp; Chính phủ - cơ quan hành pháp; Tòa án - cơ quan tư pháp.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan do nhân dân bầu ra theo nguyên
tắc phổ thông đầu phiếu. Đây là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.
Nhánh quyền lực thứ hai là hành pháp – Chính phủ, có nhiệm vụ thực
thi các bộ luật do nhánh lập pháp đề ra. Hồ Chí Minh rất mong muốn
xây dựng một Chính phủ mạnh để thực hiện chính quyền mạnh mẽ và
sáng suốt của nhân dân. Tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực của
nhà nước. Cơ quan tư pháp phải có trách nhiệm bảo đảm mọi người dân
trò quyết định trực tiếp đến những quy định về cách thức tổ chức và
hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nước Việt
Nam mới.
3.2.1. Hiến pháp 1946
Hồ Chí Minh là người đóng vai trò quan trọng quyết định đến
thời điểm ra đời, cách thức ra đời và nội dung trong bản Hiến pháp đầu
tiên năm 1946,
3.2.2. Hiến pháp 1959
17
Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng trong việc ra đời bản Hiến
pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
3.2.3. Góp phần hình thành cơ sở cho hệ thống luật pháp dân chủ
Trong bối cảnh Quốc hội và Chính phủ còn non trẻ, việc ban
hành các điều luật vô cùng hạn chế, thì những sắc lệnh do Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký ban hành đã trở thành nguồn pháp luật chủ yếu của nhà
nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đặt nền móng cho pháp luật Việt
Nam sau này.
3.3. Tham gia xây dựng và trực tiếp thực hiện Chế định Chủ tịch
nước
3.3.1. Tham gia xây dựng Chế định Chủ tịch nước trong hai bản
Hiến pháp
Hiến pháp năm 1946 ra đời đã quy định nguyên thủ quốc gia của
Việt Nam là Chủ tịch nước. Hiến pháp năm 1946 đã để Chủ tịch nước
quyền lực rất lớn. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chế
định Chủ tịch nước trong bản Hiến pháp năm 1959 đã có sự thay đổi.
Chủ tịch nước vẫn là người đứng đầu quốc gia, nhưng quyền hạn không
còn lớn như Hiến pháp 1946.
3.3.2. Trực tiếp thực hiện Chế định Chủ tịch nước
quan hành chính nhà nước cao nhất. Việc thành lập Chính phủ hay Hội
đồng Chính phủ do Nghị viện (Quốc hội) quyết định.
3.5.2. Tạo dựng Chính phủ nhân dân
Hồ Chí Minh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo dựng
ngay từ đầu một Chính phủ nhân dân rộng rãi ở Việt Nam. Đặt lợi ích
dân tộc lên trên hết, Hồ Chí Minh cùng Đảng đã phát huy được tinh
thần yêu nước, trách nhiệm của nhân dân.
3.6. Chỉ đạo xây dựng cơ quan tư pháp
19
3.6.1. Xây dựng những quy định về cơ quan tư pháp
Trong Hiến pháp năm 1946, Điều 63 quy định hệ thống tòa án
của Việt Nam có Tòa án tối cao, tòa án phúc thẩm, tòa án đệ nhị cấp và
sơ cấp.
Theo bản Hiến pháp 1959, cơ quan xét xử gồm tòa án nhân dân
tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự. Từ Hiến
pháp 1959, cơ quan tư pháp còn có Viện kiểm sát. Viện kiểm sát được
thành lập thay cho Viện công tố.
3.6.2. Chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống tòa án nhân dân
Trong giai đoạn 1945-1954, bằng một loạt sắc lệnh, Hồ Chí
Minh đã góp phần quan trọng hình thành nên một hệ thống tòa án thống
nhất trong cả nước.
3.7. Đảm bảo nguyên tắc tập trung quyền lực, phân công rõ ràng,
rành mạch giữa ba nhánh quyền lực.
3.7.1. Xây dựng nguyên tắc Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất
Cách thức tổ chức bộ máy nhà nước trong cả hai bản Hiến pháp
luôn tuân theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, cơ quan do nhân dân bầu ra.
3.7.2. Trực tiếp thực hiện nguyên tắc tập trung quyền lực
4.1.1. Xét từ quan điểm về chủ thể quyền lực nhà nước
Quyền lực rơi vào tay một người, người đứng đầu nhà nước hình
thành theo nguyên tắc thế tập thì đó là thể chế chính trị quân chủ. Nếu
quyền lực ở trong tay số đông, người đứng đầu nhà nước hình thành
theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu sẽ là thể chế chính trị cộng hòa.
Nhưng rõ ràng cũng căn cứ vào việc xác định chủ thể quyền lực
Hồ Chí Minh làm xuất hiện thêm một loại hình thể chế cộng hòa nữa.
Nó không giống mô hình thể chế cộng hòa ở các nước tư bản, cũng
21
không giống mô hình thể chế cộng hòa ở các nước xã hội chủ nghĩa,
điển hình là cộng hòa Xô viết.
Chủ thể quyền lực trong nhà nước ở Việt Nam được mở rộng ra
rất nhiều. Đó là toàn thể dân tộc Việt Nam.
Nhà nước kiểu mới được xây dựng ở Việt Nam sẽ là nhà nước
mang “tính nhân dân”, “tính dân tộc”, bao gồm không chỉ bộ phận giai
cấp vô sản mà còn cả những người dân Việt Nam yêu nước, phấn đấu vì
mục tiêu chung của dân tộc.
4.1.2. Xét từ Chế định Chủ tịch nước và mối quan hệ giữa hai nhánh
lập pháp và hành pháp trong Hiến pháp 1946
Quá trình Hồ Chí Minh thể chế hóa quan điểm của mình về mô
hình thể chế chính trị dành cho Việt Nam vào bản Hiến pháp 1946 đã
tạo ra dấu ấn của một loại thể chế cộng hòa mới. Điều này liên quan đến
Chế định Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia và quy định mối quan hệ
giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp.
Trên thế giới, khi nhắc đến sự xuất hiện của thể chế cộng hòa
lưỡng tính, người ta thường nhắc đến thể chế chính trị ở Pháp. Nhưng
thể chế cộng hòa lưỡng tính này xuất hiện ở Pháp vào năm 1958. Trong
và được duy trì liên tục trong các kỳ Tổng tuyển cử sau đó. Không tùy
tiện khi kết luận rằng linh hồn của toàn bộ quá trình này là Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Không chỉ giải quyết khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội,
tài chính. Điểm đáng bàn là một nền dân chủ triệt để nhất đã được thực
thi ở một nước có trình độ dân trí rất thấp, điều kiện kinh tế vô cùng yếu
kém như Việt Nam sau năm 1945.
4.4. Cung cấp bài học kinh nghiệm cho công cuộc cải cách thể chế
chính trị Việt Nam hiện nay.
4.4.1. Xây dựng bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả, tránh sự chồng
chéo chức năng giữa Đảng và Nhà nước
23
4.4.2. Xây dựng mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể
4.4.3. Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
KẾT LUẬN CHUNG
Nghiên cứu Hồ Chí Minh với việc xây dựng thể chế chính trị Việt
Nam dân chủ cộng hòa, chúng ta thấy Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt
với việc hình thành và phát triển của thể chế chính trị Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã lên ý tưởng, đưa ra một loạt quan
điểm của mình về mô hình thể chế chính trị dành cho Việt Nam sau
ngày độc lập.
Thứ hai, Người đóng vai trò quyết định trong việc thể chế hóa
quan điểm của mình thành những quy định trong Hiến pháp 1946, 1959
– văn bản đề cập đến vấn đề chính thể của một quốc gia.
Thứ ba, trên cơ sở những quy định trong bản Hiến pháp, trên cơ
sở giữ cương vị quan trọng trong bộ máy nhà nước, trong Đảng, Hồ Chí
Minh đã chỉ đạo xây dựng cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà nước
Quan điểm quyền lực trong nước thuộc về nhân dân của Hồ Chí
Minh trở thành cốt lõi để xây dựng nên hệ thống quan điểm của Người
về nhà nước dân chủ cộng hòa dành cho Việt Nam. Đây cũng trở thành
nguyên tắc để hình thành nên thể chế chính trị Việt Nam Dân chủ cộng
hòa trong các bản Hiến pháp. Đây cũng là nguyên tắc trong quá trình
Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng các nhánh quyền lực trong bộ máy nhà
nước. Thông qua phân tích vai trò của Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo
biên soạn Hiến pháp, với việc chỉ đạo tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc
hội, xây dựng Chính phủ và Tòa án nhân dân - những thiết chế chính trị
cơ bản trong bộ máy nhà nước, chúng ta lại rút ra rất nhiều bài học. Một
Nhà nước của dân, do dân, vì dân được xây dựng ở Việt Nam. Tư tưởng
độc lập – tự do, quyền của nhân dân giai đoạn đó được thực hiện rất
nghiêm túc. Ngày nay, đất nước được độc lập, tự do nhưng nhiều khi
các cơ quan có trách nhiệm lại chưa thực thi đầy đủ quyền dân chủ của
dân, thậm chí nhiều đại biểu Quốc hội chưa biết phát huy quyền và
nghĩa vụ của mình với nhận thức đây là cơ quan quyền lực cao nhất, đại
diện cao nhất của nhân dân. Xã hội càng phát triển, dân trí càng cao thì
đòi hỏi về dân chủ và thực thi dân chủ càng lớn.
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đánh giá là nhà nước
tiến bộ, dân chủ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam tính đến thời điểm
đó. Ngay trong thời kỳ đổi mới của nước Việt Nam, vẫn có nhiều quan
điểm của các học giả, người dân và nhiều nhà lãnh đạo cho rằng nên để
tên nước là Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Có nhiều nguyên nhân để lý
25