ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------
NGUYỄN THỊ KIM HUỆ
VẬN DỤNG TRIẾT LÝ DÂN CHỦ
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC XÂY DỰNG
NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN TRIẾT HỌC
HUẾ, 05/2010
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-------
VẬN DỤNG TRIẾT LÝ DÂN CHỦ
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC XÂY DỰNG
NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN TRIẾT HỌC
Dân chủ là khát vọng muôn đời mà nhân loại luôn hướng đến. Dân chủ
là giá trị văn minh của xã hội loài người, là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến
bộ của mọi thời đại.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin coi dân chủ là động lực
của lịch sử, là con đường dẫn tới CNXH, đồng thời là thành quả của cuộc đấu
tranh cách mạng, là giá trị thuộc về bản chất ưu việt của CNXH.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ là của quý báu nhất của
nhân dân, có vai trò là động lực, sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no,
hạnh phúc, tự do và bình đẳng. Trong xã hội hiện đại, dân chủ là một trong
những điều kiện để thúc đẩy xã hội phát triển. Sớm nhận thức được tầm quan
trọng và ý nghĩa của dân chủ trong đời sống xã hội, sinh thời, Hồ Chí Minh đã
đưa ra một hệ thống các luận điểm về dân chủ, từ quan điểm cho đến sự thể
hiện chúng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,.. cũng như
phương thức hiện thực hoá chúng trong thực tiễn.
Hiện nay đất nước ta đang tồn tại, hoạt động và phát triển trong tình
hình mới - nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh
hiện đại. Điều đó được thể hiện rõ trên cả ba bình diện: Đường lối chính
trị và thiết chế chính trị của đất nước đã đổi mới; Trạng thái xã hội với nhiều
yếu tố và nội dung mới đã hình thành và phát triển; Bối cảnh mới của thế giới
và khu vực đã xuất hiện. Trong tình hình chung ấy, nước ta đang xây dựng
nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật,
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hình thái nhà
nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân đang từng bước hoàn thiện, và nội
dung cốt lõi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay, cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, mặt trái của kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ rõ, tình
trng mt dõn ch cú th xy ra bt c lỳc no v cú nguy c chch hng xó
vực thực tiễn.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị - Nguyễn Thế Phúc
(Nxb ChÝnh trÞ - Hµnh chÝnh, Hµ Néi, 2009) - Góp phần làm sáng tỏ nội dung
tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị.
Đề tài “Vận dụng triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh vào việc xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, là sự kế thừa
một số thành tựu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ của các tác
giả đi trước, để làm rõ nội dung triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh và vận dụng
vào việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Dân chủ là một vấn đề rộng lớn và mỗi đề tài nghiên cứu đều có những
những khía cạnh khác nhau, nhưng chung quy lại tất cả các đề tài đều hướng
vào cuộc tranh luận nhằm bảo đảm một cách tốt nhất quyền dân chủ cho con
người ở Việt Nam được hiện thực hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: góp phần làm sáng tỏ triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh và
sự vận dụng triết lý dân chủ của Người vào xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ cơ sở, quá trình hình thành và phát triển triết lý dân chủ của
Hồ Chí Minh.
+ Chỉ rõ những nội dung cơ bản triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh.
+ Hệ thống được những nội dung và giải pháp vận dụng triết lý dân chủ
của Hồ Chí Minh vào việc xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận: Phép biện chứng duy vật về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về
dân chủ.
1.1. Cơ sở hình thành và phát triển
1.1.1. Cơ sở hình thành
a) Cơ sở khách quan
- Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là một sản phẩm lịch sử cụ thể, được
hình thành dưới tác động và ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử xã hội
của dân tộc ta và thời đại mà Người đã sống và hoạt động cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX.
+ Bối cảnh lịch sử Việt nam:
Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam là một nước
thuộc địa nửa phong kiến. Chính quyền triều Nguyễn bạc nhược đã từng bước
khuất phục, lần lượt kí kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của
thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống ách đô hộ của thực dân Pháp, do
các sỹ phu, văn thân, cựu học sỹ, giai cấp tư sản lãnh đạo diễn ra rầm rộ, rộng
khắp nước, nhưng cuối cùng đều thất bại.
Những thất bại của phong trào cứu nước đầu thế kỷ XX đã cho Hồ Chí
Minh nhận thấy cuộc đấu tranh của nhân dân ta không thể thắng lợi bằng con
đường cũ. Sự hấp dẫn của những khái niệm mới, giá trị mới của nhân loại về
dân chủ như tự do, bình đẳng, bác ái, đã cuốn hút Người đi tìm một con
đường mới cho dân tộc.
+ Bối cảnh thời đại (Quốc tế)
Giai đoạn này, lịch sử thế giới đã và đang có những biến đổi to lớn:
Chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc, xác lập quyền thống
trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ
thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, đã lật đổ nhà nước
tư sản, thiết lập chính quyền mới, mở ra một thời đại mới - quá độ lên
Nhà nước sơ khai Việt Nam là kiểu thiết chế làng xã phóng đại trên quy
mô siêu làng do yêu cầu trị thuỷ và chống xâm lược, tạo nên truyền thống
làng - nước trong lúc quan hệ giai cấp chưa gay gắt. Khi nhà nước Việt Nam
phát triển, các chuẩn mực quốc gia được biểu hiện bằng các bộ luật bằng văn,
thì thiết chế làng xã vẫn tồn tại dưới dạng hương ước.
Hương ước là một hình thức dân chủ truyền thống Việt Nam, đó
là lệ làng thành văn. Hương ước không kể do ai soạn thảo, nhưng các nội
dung phải được mọi thành viên trong làng thảo luận, tham gia ý kiến và tự
giác thi hành.
Bên cạnh tư tưởng và hình thức dân chủ của nông dân, ở Việt Nam
cũng đã tồn tại một số biện pháp và hình thức thân dân của các vương triều
tiến bộ.
Trong điều kiện phân hoá giai cấp chưa gay gắt, nhất là trước yêu cầu
thực tiễn của nhiệm vụ giữ nước. Nhà Lý, nhà Trần được xây dựng trên một
thiết chế tập quyền thân dân, lo giữ lòng dân bằng nhiều hình thức dân chủ:
Nhà Lý cho đặt chuông kêu oan; Nhà Trần mở Hội nghị Diên Hồng (1284),
do Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu họp các cụ lão trong cả nước, để
bàn về kế đánh giặc khi quân Nguyên - Mông sang xâm lược Việt Nam lần
thứ hai; v.v.
Thực tế lịch sử này đã có tác động sâu sắc, tích cực đến phong cách và
tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh sau này.
Văn hoá truyền thống Việt Nam với các giá trị của nó, dù còn giản đơn,
chưa trở thành một học thuyết, nhưng cũng chính là một cơ sở văn hoá vững
chắc, thuận lợi để Hồ Chí Minh có thể so sánh, chọn lọc, tiếp thu những giá
trị dân chủ của nhân loại và chủ nghĩa Mác–Lênin.
+ Tinh hoa văn hoá nhân loại
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, trước khi ra đi tìm đường cứu
nước, dù phải tiếp nhận những tri thức thông qua nền giáo dục theo kiểu Hán
đấu tranh chống kẻ thù dân tộc, bảo tồn đất nước là một minh chứng điển
hình.
Tinh hoa văn hoá phương Đông thời cận đại cũng có những tác động
mạnh mẽ tới sự hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Đó là ảnh hưởng
của chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn với chủ trương dân tộc độc lập,
dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Hồ Chí Minh đã không ngần ngại khẳng
định, chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn có những chính sách “thích hợp
với điều kiện nước ta”[5; 15], mà tự nhận mình là một học trò nhỏ của Tôn
Dật Tiên.
Cùng với những tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn
nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng
phương Tây. Người sớm làm quen với văn hoá Pháp, tìm hiểu các cuộc cách
mạng ở Pháp và ở Mỹ. Người trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do,
bình đẳng qua các tác phẩm của các nhà khai sáng như Vôn-te, Rút-xô,
Mông-tet-ki-ơ. Người tiếp thu giá trị các giá trị về quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776; các giá
trị dân chủ trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của đại cách
mạng Pháp 1789.
Những tư tưởng của cách mạng dân chủ tư sản mà Người đã chiêm
nghiệm được trong thời gian sống ở những xã hội phương Tây - Anh, Pháp,
Mỹ,.. – trở thành khao khát lớn cải biến, ứng dụng nó cho hợp tiến hoá, hợp
với tiến trình lịch sử dân tộc ở Hồ Chí Minh.
+ Chủ nghĩa Mác–Lênin.
Đây là cơ sở lý luận cốt lõi tạo nên và hoàn thiện tư tưởng dân chủ của
Hồ Chí Minh.
Bằng hành trang là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam, với
những giá trị dân chủ truyền thống, tiếp thu những giá trị bất hủ của tư tưởng
dân chủ nhân loại đã đạt được, bằng trải nghiệm thực tế qua các hình thức dân
vào cuộc sống để chứng kiến cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nhằm xây
dựng chế độ dân chủ vô sản – một chế độ dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư
sản.
Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu học thuyết cách mạng và khoa
học đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng dân chủ
theo quan điểm của giai cấp công nhân mà trước hết là tiến hành lãnh đạo
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tạo ra điều kiện căn bản nhất cho việc thiết
lập chế độ dân chủ mới ở nước ta.
Từ dân tộc và vì dân tộc ra đi tìm đường cứu nước với hành trang của
văn hóa truyền thống, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị tinh hoa về dân
chủ của nhân loại. Tuy nhiên, Người cũng nhận thức được vấn đề dân chủ
không chỉ là vấn đề của dân tộc Việt Nam mà là vấn đề đòi hỏi phải được tiếp
tục giải quyết đối với nhân loại và đã lựa chọn con đường phát triển dân chủ
theo chủ nghĩa Mác–Lênin, xu thế phát triển của thời đại.
Tóm lại, sự kết hợp những giá trị dân chủ trong văn hóa truyền thống
Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại, cùng với kho tàng lí luận của chủ nghĩa
Mác–Lênin đã làm cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
a.Giai đoạn từ 1890 đến 1920
Tiếp thu được sự giáo dục của gia đình, của các thầy giáo, cũng
như ảnh hưởng của những sỹ phu yêu nước, cùng với ảnh hưởng của
chủ nghĩa yêu nước và nhân văn truyền thống, Hồ Chí Minh đã được trang bị
những giá trị dân chủ trong văn hóa truyền thống của dân tộc và bắt đầu tiếp
cận với những giá trị dân chủ tư sản phương Tây như tự do, bình đẳng, bác
ái.
Những giá trị dân chủ mà nhân loại đạt được, thành quả của các cuộc
cách mạng tư sản, đã tác động không nhỏ tới Hồ Chí Minh, thúc đẩy Người
tìm đọc các tác phẩm của các nhà dân chủ tư sản và tham gia vào phong trào
dân, nhân danh lý tưởng dân chủ và tuyên truyền chủ nghĩa Mác–Lênin vào
các nước thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam.
Vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác–Lênin vào thực tiễn
nước ta, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc kết hợp chủ nghĩa Mác–Lênin
với phong trào yêu nước và phong trào công nhân, dẫn tới việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
c) Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945
Đây là giai đoạn tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh đã được thực hiện
trong thực tiễn cách mạng của nước ta. Từ nước ngoài Hồ Chí Minh chỉ đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó là Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo
phong trào cách mạng trong nước. Những chỉ dẫn của Người (nhất là từ năm
1936 – 1939) về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, về xây dựng
Mặt trận Dân tộc thống nhất đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Hồ Chí
Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với dân chủ trong
cách mạng Việt Nam. Cũng chính trong thời điểm này, thiết kế của Hồ Chí
Minh về một nền dân chủ ở nước ta đã hình thành: nước Việt Nam mới ra đời
sẽ là một nước theo chế độ Dân chủ Cộng hòa.
d) Giai đoạn từ 1945 đến 1969
Đây là thời kì tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh được đưa vào thực tiễn
xây dựng chế độ dân chủ mới ở nước ta.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Người tuyên bố trước
thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh
là người sáng lập và xây dựng chế độ dân chủ mới ở Việt Nam.
Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã thể hiện những giá trị căn bản
nhất của nhân loại về dân chủ khi Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn độc lập
của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp, nhưng
không đóng khung trong nhân quyền và dân quyền, xét về quyền cá nhân và
quyền con người, mà còn phát triển thành quyền của mọi dân tộc: “Tất cả mọi
Người không định nghĩa dân chủ theo kiểu hàn lâm, bác học, nhưng lại phản
ánh được chiều sâu giá trị lý luận của nó. Tất nhiên, với Hồ Chí Minh, giản dị
không phải là giản đơn mà là sự thể hiện phong phú, sâu sắc của tư tưởng.
Hồ Chí Minh quan niệm, dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm
chủ. Đây được xem là một định nghĩa kinh điển về dân chủ trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, một định nghĩa ngắn gọn nhưng lại bao quát đầy đủ nhất bản chất
của dân chủ.
Cách định nghĩa này của Hồ Chí Minh đã vượt qua những quan niệm
thông thường trong nhận thức về dân chủ của các học giả tư sản. Nó khái quát
được những giá trị lý luận của hai nền văn hoá Đông - Tây. Định nghĩa này đã
nhấn mạnh chủ thể chân chính của chế độ mới là nhân dân, họ đã trở thành
người chủ nước nhà. Đây thực sự là một cuộc cách mạng về nhận thức vấn đề
dân chủ ở Việt Nam. Bằng một tư duy sắc sảo với ngôn từ giản dị, Hồ Chí
Minh đã đảo lộn lại những tư tưởng dân chủ phong kiến thay bằng một tư
tưởng cách mạng hiện đại.
Dân là chủ đã khẳng định rõ ràng địa vị người chủ trong chế độ chính
trị, trong xã hội và nhà nước thuộc về nhân dân. Dân là chủ đối lập với nô lệ,
thần dân hay thảo dân trong chế độ phong kiến cũng như thân phận nô lệ
trong tình cảnh bị thực dân thống trị. Trong xã hội phong kiến, với ý thức hệ
phong kiến thì dân chủ được xem là chủ của dân, ông vua được xem là Thiên
Tử. Cho nên mọi người phải có trách nhiệm cung phụng vua như một bổn
phận, cho dù đó là minh quân hay bạo chúa, đó là mối quan hệ quân-thần.
Còn trong chế độ chính trị mới, khi nhà nước dân chủ ra đời, nhìn trong hệ
quy chiếu địa vị quyền lực thì dân là chủ thể quyền lực, còn cán bộ, công
chức là đầy tớ của nhân dân, là người phục vụ nhân dân. Dân là chủ còn biểu
hiện vị thế xã hội, tính tích cực chính trị và địa vị pháp lý của người dân.
Nhưng nếu dân chủ chỉ dừng lại ở chỗ dân là chủ thì chưa hoàn thiện
mà còn là dân làm chủ. Làm chủ phản ánh năng lực thực thi dân chủ của
một sự lý giải cô động sau đây khi Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra.
Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và mọi lực lượng đều ở nơi dân.”[26; 698]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ chỉ rõ dân chủ là giá trị của
nhân loại khi xem xét dân chủ theo nội dung là “sản phẩm của nền văn
minh”[5;44], là sản phẩm của quá trình đấu tranh tự giải phóng của loài
người, là sản phẩm tiến hóa của lịch sử.
1.2.2. Những quan điểm cơ bản trong triết lý dân chủ Hồ Chí Minh
a) Dân chủ trong lĩnh vực chính trị
Quan điểm về dân chủ trong chính trị của Hồ Chí Minh được thể hiện ở
các nội dung sau:
- Giải phóng nhân dân về mặt chính trị để xác lập quyền lực chính trị
của nhân dân.
Tư tưởng giải phóng của Hồ Chí Minh rất triệt để, đó là giải phóng dân
tộc để phát triển dân tộc, đưa cộng đồng dân tộc Việt Nam hoà nhập vào cộng
đồng dân tộc thế giới. Trong sự nghiệp giải phóng này, trước hết là giải phóng
về mặt chính trị để xác lập quyền tự do chính trị, quyền tự quyết dân tộc, đảm
bảo trên thực tế quyền lực chính trị của nhân dân, từ đó tiến tới những cuộc
giải phóng khác. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Thứ nhất, đánh đổ chủ nghĩa thực dân, phong kiến làm cho nước Nam
hoàn toàn độc lập.
Thứ hai, xây dựng chính phủ công nông
chủ. Nhà nước của dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đó là điểm đặc sắc đầu
tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xác lập chủ thể của nền chính trị mới.
Nhà nước do dân là việc hiện thực hoá quyền lực thuộc về nhân dân,
nhân dân là chủ thể chính trị mới, nhân dân uỷ quyền của mình cho nhà nước
bằng cách lựa chọn, bầu ra những đại biểu xứng đáng của mình để thay mặt
mình thực thi mọi công việc hàng ngày. Nhà nước đó do dân tổ chức nên, dân
ủng hộ, giúp đỡ đóng thuế để nhà nước hoạt động. Nhà nước đó cũng do nhân
dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Tất cả các cơ
quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng
nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[29; 591], và “Hễ chính phủ
nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi và
gây lên chính phủ khác”[23; 270].
Nhà nước vì dân là nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước
dân phải giải quyết cho được bốn vấn đề cốt yếu nhất là: “1. Làm cho dân có
ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chổ ở; 4. Làm cho dân có học
hành”[25; 152]. Nhà nước vì dân là nhà nước bảo vệ nhân dân, chống lại
những tệ nạn vi phạm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân. Hồ Chí Minh
viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là
Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến
huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào đều phải là đầy tớ trung thành
của nhân dân”[30; 323].
Như vậy, chủ thể của nền chính trị mới mà Hồ Chí Minh xác lập phản
ánh được tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn. Tính khoa học là
nắm vững tinh thần lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, vận dụng vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tính cách
mạng triệt để trong tư tưởng chính trị dân chủ của Hồ Chí Minh là ở chỗ,
hướng sự nghiệp giải phóng đến triệt để, gắn liền giải phóng dân tộc trên lập
nước phải minh bạch. Để làm được như vậy thì nhà nước phải chịu sự kiểm
soát quyền lực từ phía nhân dân, phải lắng nghe sự đóng góp ý kiến phê bình
của nhân dân. Điều đó vừa phản ánh được trách nhiệm của nhân dân đối với
nhà nước; vừa thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Hồ Chí Minh
viết: “Dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ chính phủ. Nếu
chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”[26; 60].
Thực hiện như vậy mới thực sự là Chính phủ và nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “Không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực luợng, nếu không có
chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường”[25; 56].
* Nhân dân làm chủ bằng cách tham gia vào công việc quản
lý nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn công việc tham gia quản lý nhà nước với
mục tiêu xây dựng CNXH và trách nhiệm của người làm chủ nước nhà.
Người đã chỉ rõ mục đích tại sao người dân từ công nhân, nông dân đến trí
thức và với người lao động khác phải tham gia vào quản lý nhà nước. Người
nhấn mạnh: “Khác hẳn với trước kia, công nhân bây giờ là người chủ đất
nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống… Muốn thực hiện đúng vai trò làm chủ, giai
cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí nghiệp, làm cho năng
suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều với
phẩm chất tốt, giá thành hạ”[32; 564].
Kế thừa tư tưởng của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng việc
nhân dân tham gia quản lý nhà nước. Khi nói về dân chủ vô sản, V.I. Lênin
chỉ rõ là phải làm thế nào để cho nhân dân thực sự học tập được công tác quản
lý…. Thấm nhuần tư tưởng đó của Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo
vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam khi chỉ đạo công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc. Người viết: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng,
nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân,
để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người