Vận dụng tư tưởng hồ chí minh vào việc xây dựng đảng vững mạnh về chính trị ở huyện nga sơn (thanh hoá) hiện nay - Pdf 33

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
--------------

Vận dụng t tởng Hồ Chí Minh
vào việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị
ở huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) hiện nay
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành giáo dục chính trị
Ngời thực hiện: Phạm

Thị Thơm - Khóa 46
Ngời hớng dẫn khoa học: ThS. Thái Bình Dơng
Vinh, tháng 5 năm 2009

Lời cảm ơn

Để thực hiện đợc đề tài này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ của Hội
đồng khoa học khoa Giáo dục chính trị, các thầy, cô giáo trong tổ T tởng Hồ Chí Minh, Đảng bộ huyện Nga Sơn và đăc biệt là sự giúp đỡ rất
nhiệt tình của thầy giáo, ThS. Thái Bình Dơng. Tôi xin chân thành cảm
ơn Hội đồng khoa học Giáo dục chính trị, các thầy, cô giáo trong tổ T tởng Hồ Chí Minh, Đảng bộ huyện Nga Sơn và đặc biệt tôi xin chân
thành cảm ơn thầy giáo, ThS. Thái Bình Dơng đã giúp tôi hoàn thành
khoá luận này.


2


Mục lục

Trang

2.1.2.2. Về triển khai và tổ chức thực hiện.......................................................36
2.1.2.3. Về hiệu quả và những vấn đề đặt ra........................................................47
2.2. Một số giải pháp để vận dụng t tởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng
Đảng vững mạnh về chính trị ở huyện Nga Sơn hiện nay.................................52
2.2.1. Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng.......................52
2.2.2. Chú trọng xây dựng và tổ chức thực hiện đờng lối, chủ trơng phải sát
đúng với tình hình thực tiễn kinh tế xã hội của huyện nhà..........................54
2.2.3. Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh......................................................................................................58
2.2.4. Tăng cờng công tác bảo vệ Đảng............................................................60
Tiểu kết chơng 2................................................................................................63
Kết luận.........................................................................................................64
Tài liệu tham khảo.................................................................................66


Bảng chữ cái viết tắt
- BCH:
- BTV:
- CNXH:
- CHH,HĐH:
- ĐH:
- TƯ:
- UBKT:
- TCCS:
- XHCN:

Ban chấp hành
Ban thờng vụ
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá.

là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải đợc nghiên cứu công phu, khoa học,
nhằm xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Cùng với cả nớc, nhân dân Huyện Nga Sơn dới sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện cũng hăng hái thi đua lao động sản xuát, xây dựng quê hơng, góp phần
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong những thuận lợi và
khó khăn chung của đất nớc, ngời dân Nga Sơn cũng gặp không ít trở ngại do
điều kiện lịch sử khách quan, chủ quan của huyện nhà, đòi hỏi Đảng bộ Nga
Sơn phải nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình,
trong đó nâng cao sức chiến đấu của Đảng về chính trị có tầm quan trọng đặc
biệt. Nghiên cứu t tởng xây dựng Đảng về chính trị của Hồ Chí Minh nhằm

6


góp phần làm sáng tỏ và vận dụng vấn đề này vào việc xây dựng Đảng về
chính trị ở Nga Sơn hiện nay là vấ đề cấp thiết. Vì vậy, chúng tôi chọn Vận
dụng t tởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị ở
huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) hiện nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, góp
phần nhỏ để Đảng bộ Huyện Nga Sơn thực sự trong sạch vững mạnh, tổ chức,
lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của
mình, xây dựng quê hơng giàu mạnh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xây dựng Đảng đã đợc nhiều nhà nghiên cứu chính trị - xã hội quan
tâm, đã có nhiều đề tài, nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài viết về vấn đề này. Tiêu
biểu là các bài viết sau:
- Nguyễn Thị Hảo: Đảng bộ Quỳnh Lu với công tác xây dựng Đảng thời
kỳ 65-75 (Luận văn tốt nghiệp Đại học do Thạc sỹ Nguyễn Thị Bình Minh hớng dẫn, năm 1997)
- Phơng Minh Hoà: T tởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản với công
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. (Tạp chí nghệ thuật quân
sự Việt Nam, tháng 5 & 6 năm 2005).

4. Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tôi sử dụng phơng pháp lịch sử và lôgíc là hai phơng pháp chính kết hợp với các phơng pháp
khác nh: thu thập số liệu, phân tích - tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm rõ
những t tởng cốt lõi của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và việc vận dụng t tởng của Ngời vào việc xây dựng Đảng về chính trị ở Nga Sơn (Thanh Hoá).
5. Giới hạn của đề tài
Đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, khoá luận chỉ tập trung chủ yếu
vào những vấn đề sau:
- Làm rõ t tởng cơ bản của Hồ Chí Minh xây dựng Đảng về chính trị .
- Làm rõ tình hình xây dựng Đảng về chính trị ở Nga Sơn (Thanh Hoá)
trong giai đoạn hiện nay.
- Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp có tính khả thi để thực hiện
tốt hơn công tác xây dựng Đảng về chính trị ở Nga Sơn trong thời kỳ hội nhập.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận có 2 chơng:
- Chơng I: Nội dung cơ bản xây dựng Đảng về chính trị trong t tởng Hồ
Chí Minh.
- Chơng II: Vận dụng t tởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng Đảng
vững mạnh về chính trị ở Nga Sơn (Thanh Hoá) hiện nay.

8


nội dung
Chơng 1
Nội dung cơ bản xây dựng Đảng về chính trị
trong t tởng Hồ Chí Minh
1.1. Những luận điểm chủ yếu trong t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
Trong toàn bộ di sản t tởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, t tởng về xây
dựng Đảng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng và có nội dung rất phong phú,
đặc sắc, toàn diện, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Hồ Chí Minh luôn coi

tộc. Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân vì chỉ có giai cấp công
nhân mới có thể đa cách mạng đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa
đến thành công [16, 303]. Đó chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân, sứ mệnh ấy không phải do sự áp đặt chủ quan mà đợc quy định một
cách khách quan bởi Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên
quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại là giai cấp tiên tiến nhất
trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ t bản và đế quốc để xây
dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một t tởng cách
mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ
ảnh hởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì vậy, về mặt chính trị t tởng, tổ
chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo [17, 212], và
chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc
mới thành công [16, 485] hơn nữa chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm
nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc, đơng đầu với bọn đế quốc, thực dân, giai
cấp công nhân ta đã tỏ ra là ngời lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy
nhất của nhân dân Việt Nam [20, 9]. Do vậy, giữ vững và tăng cờng bản chất
giai cấp công nhân của Đảng là nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác xây dựng
đảng qua mọi thời kỳ cách mạng.
Giữ vững và tăng cờng bản chất giai cấp công nhân của Đảng là một
vấn đề cơ bản bao trùm, có tính nguyên tắc đối với các Đảng Cộng sản chân
chính. Nó càng đặc biệt đối với Đảng ta - một Đảng ra đời và trởng thành ở
một nớc nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp cha phát triển, giai cấp công nhân
còn nhỏ bé, tỷ lệ đảng viên xuất thân từ công nhân thấp ... Việc giữ vững bản
chất giai cấp công nhân của Đảng là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì nó quyết
định đến mọi thắng lợi và chi phối toàn bộ nội dung xây dựng đảng về chính

10


trị, t tởng, tổ chức, cán bộ và phơng thức lãnh đạo của Đảng.

đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. Nguyên tắc sinh hoạt của
Đảng bằng tự phê bình và phê bình, vì muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng,
ắt phải thống nhất t tởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và

11


phê bình. Tự phê bình và phê bình trở thành quy luật phát triển của Đảng.
Khi các nguyên tắc này bị vi phạm thì uy tín và sức chiến đấu của Đảng sẽ
giảm sút, Đảng không thể vừa là đạo đức vừa là văn minh, cũng không còn
vừa là ngời lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân. Do vậy, trong
quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng cần triệt để thực hiện các nguyên tắc
trên.
1.1.3. Rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên
Theo Hồ Chí Minh, Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc
thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém, tất cả các công việc của
Đảng đều phải bắt đầu từ đội ngũ cán bộ, đảng viên, vì vậy Ngời rất quan tâm
tới công tác xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ.
Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của cán bộ, theo Hồ Chí Minh
việc rèn luyện và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải chú trọng
những vấn đề nh: Thờng xuyên coi trọng việc phát triển đảng viên mới; đội
ngũ cán bộ, đảng viên phải có đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, suốt
đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng; có năng lực, trình độ chuyên
môn cao, tơng ứng, ngang tầm nhiệm vụ; có phong cách công tác khoa học...
Ngời đã đề ra những tiêu chí để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
cũng nh cách sử dụng cán bộ nh thế nào để đạt hiệu quả.
1.1.3.1. Tiêu chí để xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên
- Thứ nhất, ngời cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng.
Đây là yêu cầu đầu tiên, quan trọng mà ngời cán bộ, đảng viên nào
cũng phải có. Ngời coi đạo đức là nền tảng của ngời cách mạng, cũng nh gốc

trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi.
Năng lực, trình độ, trí tuệ là tiêu chuẩn không thể thiếu của ngời cán bộ
và đợc Ngời rất coi trọng Bất kỳ hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ phải
luôn ra sức chiến đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ
văn hoá, tri thức và trí tuệ của mình ([17, 468 - 469]. Ngời rất quan tâm đến
nội dung huấn luyện toàn diện để hình thành đội ngũ cán bộ có đủ trình độ
học vấn, chuyên môn, chính trị, văn hoá. Muốn làm cán bộ hoàn toàn thì cán
bộ chuyên môn phải hiểu chính trị, cán bộ chính trị phải hiểu chuyên môn,
biết rõ ai là bạn, ai là thù, nhận rõ mối quan hệ giữa lợi ích chung của dân tộc
và lợi ích riêng của cá nhân, dứt khoát phải có lập trờng vững chắc. Ngời cán
bộ cần có năng lực, trình độ để giải thích đờng lối, nghị quyết, biến những
điều trong nghị quyết thành những điều hiện thực trong cuộc sống.
Thứ t, cán bộ, đảng viên phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
Trong mọi thời kỳ cách mạng, cán bộ, đảng viên cần phải giữ mối liên
hệ mật thiết với nhân dân. Bằng hành động của mình cán bộ đảng viên phải
nâng cao tinh thần phụ trách trớc Đảng và trớc quần chúng, hết lòng hết sức
phục vụ nhân dân. Chúng ta biết rằng đối tợng lãnh đạo của Đảng ở thời kỳ
đảng cầm quyền đó là quần chúng nhân dân lao động. Do đó nếu cán bộ
không phục vụ nhân dân thì phục vụ ai? Muốn phục vụ nhân dân thì đi đến

13


nhân dân mà phục vụ, phục vụ nhân dân mà không vẻ vang thì cái gì là vẻ
vang? Đợc phục vụ nhân dân là rất vẻ vang, chúng ta đều là đầy tớ của nhân
dân, phải hết lòng ra sức phục vụ nhân dân [20, 112].
Thứ năm, phải có phong cách công tác tốt.
Ngời cán bộ không đợc quan liêu, mệnh lệnh, tránh lối làm việc chỉ
tay năm ngón, ham chuộng hình thức, phô trơng, đại khái làm việc theo kiểu
bàn giấy tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửi giấy về xã, giấy không thể che


nhắc không cẩn thận thì không khỏi đem những cán bộ chỉ nói mà không
làm, không phù hợp với địa vị lãnh đạo. Nh thế rất có hại. Phải vì công tác, tài
năng mà cất nhắc, nh thế thì công việc mới chạy.
Cất nhắc cán bộ không nên làm nh giã gạo mà nên cần phải xem xét
kỹ lỡng, rõ ràng trớc khi cất nhắc, và sau khi cất nhắc thì phải giúp đỡ họ. Bởi
vì một cán bộ mà bị nhấc lên thả xuống nhiều lần thì coi nh hỏng cả đời,
chẳng làm đợc việc gì.
- Thơng yêu cán bộ.
Tức là phải giúp đỡ cán bộ học tập, công tác tiến bộ ngày càng nhiều,
quan tâm giúp đỡ cán bộ giải quyết những khó khăn trong đời sống sinh hoạt
hằng ngày. Ngời viết: Thơng yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của họ,
kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng
cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Làm thế không phải làm
cho kiêu căng mà cốt làm cho họ để đi đến chỗ bại cũng không nản, thắng
cũng không kiêu. [21, 283].
- Phê bình cán bộ.
Đã là con ngời không ai là không có khuyết điểm. Có làm là sẽ có sai
lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm, khuyết điểm mà chỉ sợ không chịu cố
gắng sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và càng sợ những ngời lãnh đạo không
biết cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Cần nhận thức
rằng: trừ những kẻ cố ý phá hoại thì không có ai cố ý sai lầm. Vì vậy, Bác cho
rằng: Đối với cán bộ sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn, nh thế
mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết giúp họ tìm ra cái cớ
vì sao mà sai lầm? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại phải phê bình cho
đúng. [21, 283]. Nói chung, cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới
thực hiện đợc nguyên tắc: vấn đề cán bộ quyết định mọi việc.
1.1.4. Chú trọng công tác kiểm tra của Đảng
Kiểm tra là sự xem xét lại những hoạt động của tổ chức hoặc của con
ngời để nhận xét, đánh giá những kết quả đạt đợc so với yêu cầu, mục đích,

mạnh của nhân dân, củng cố uy tín của Đảng trớc nhân dân. Qua đó ta thấy ý
nghĩa bao trùm của công tác kiểm tra là góp phần cũng cố Đảng về t tởng, tổ
chức.
Nội dung của kiểm tra đợc Hồ Chí Minh đề cập đến một cách toàn diện
không chỉ kiểm tra việc, kiểm tra ngời mà còn kiểm tra các tổ chức, cơ quan
kiểm tra các mệnh lệnh, nghị quyết nhằm mục đích khẳng định u điểm và chỉ
rõ khuyết điểm.
1.1.4.3. Kiểm tra nh thế nào để đạt hiệu quả cao
Theo Hồ Chí Minh, muốn đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm tra cần
phải có hình thức, biện pháp khoa học, linh hoạt. Ngời chỉ rõ, phải đến tận
nơi, xem tận chỗ chứ không nên ngồi trong phòng xem bản báo cáo. Có nh
vậy tính sát thực của công tác kiểm tra mới cao. Ngời cũng nhắc nhở các cấp

16


uỷ Đảng, các cán bộ lãnh đạo, những ngời phụ trách bộ, ban, ngành phải thiết
thực kiểm tra, giúp đỡ cấp dới, cấp cơ sở.
Kiểm tra phải có hệ thống, phải dùng cách thật thà tự phê bình và phê
bình mới tỏ rõ khuyết điểm và tìm cách sửa chữa. Đồng thời phải biết kết hợp
linh hoạt các hình thức, phơng pháp kiểm tra. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt
nhấn mạnh sự kết hợp kiểm tra từ dới lên và từ trên xuống, kiểm tra thờng
xuyên và kiểm tra trực tiếp.
Phải tổ chức kiểm tra chu đáo. Muốn vậy phải củng cố, kiện toàn UBKT
và đặc biệt chú trọng những ngời thực sự có uy tín làm công tác kiểm tra. Các
đồng chí lãnh đạo phải đích thân kiểm tra. Ngời viết: Muốn kiểm soát có hiệu
quả tốt phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thờng
xuyên. Hai là ngời đi kiểm soát phải là những ngời có uy tín [12, 287].
Trên đây là những t tởng cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng,
trên cơ sở đó chúng tôi nghiên cứu sâu hơn nội dung xây dựng Đảng về chính

chiến lợc ở hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm đi đến mục tiêu Bắc Nam sum
họp một nhà, non sông thu về một mối và xây dựng một nớc Việt Nam hoà
bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Hồ Chí Minh và Đảng đã
chỉ ra mối quan hệ khăng khít, mật thiết giữa hai nhiệm vụ cách mạng của hai
miền một cách cụ thể. Đờng lối đó đã thể hiện tính đúng đắn, sáng suốt trong
tiến trình cách mạng Việt Nam. ở nớc ta với chế độ nhất nguyên về chính trị,
một đảng lãnh đạo, Đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền có
vai trò định hớng phát triển cho toàn xã hội. Đây vừa là vai trò, vừa là nhiệm
vụ của Đảng mà không một tổ chức nào có thể thay thế đợc. Theo Hồ Chí
Minh, Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện vai trò lãnh đạo chính trị của mình
chủ yếu bằng việc đề ra cơng lĩnh, đờng lối chiến lợc, sách lợc và tuỳ vào
từng điều kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ mà thực hiện đờng lối chiến lợc,
sách lợc cho phù hợp. Đảng luôn xem xét kỹ lỡng trớc khi đề ra đờng lối,
tránh tình trạng sai lầm. Bởi vì sai lầm về đờng lối là sai lầm nghiêm trọng
nhất đối với xã hội, với vận mệnh Tổ quốc và sinh mạng chính trị của hàng
triệu đảng viên cùng nhân nhân dân lao động. Sự sụp đổ của Đảng cộng sản
Liên Xô và nhiều đảng cộng sản cầm quyền ở các nớc Đông Âu đầu những
năm 90 đã để lại cho chúng ta bài học kinh nghiệm ấy.
Hồ Chí Minh khẳng định: Phải có đờng lối cách mạng đúng, có đảng
của giai cấp vô sản đúng. Đờng lối ấy chỉ có thể là đờng lối của giai cấp vô
sản và Đảng của nó là Đảng lao động Việt Nam. Đảng phải thực sự là đội tiên
phong dũng cảm và bộ tham mu sáng suốt của giai cấp vô sản, của nhân dân
lao động và của cả dân tộc [21, 493-494].
Theo Hồ Chí Minh, Đảng muốn xây dựng đờng lối chính trị đúng đắn
cần phải chú trọng những vấn đề sau đây:

18



của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học vào hoàn cảnh cụ thể của
dân tộc mình để xây dựng đờng lối chính trị.
Vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin không

19


phải là vấn đề dễ dàng. Muốn làm đợc điều ấy, trớc hết phải nắm vững chủ
nghĩa Mác - Lênin. Về điều này, Hồ Chí Minh nêu rõ: Học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi ngời và đối
với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa
Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của n ớc ta.
Học để mà làm, lý luận đi đôi với thực tiễn. [19, 292]. Nắm vững bản chất
cách mạng và khoa học, nắm vững phơng pháp luận, nắm nội dung, nguyên lý
cơ bản của học thuyết. Nắm vững còn có nghĩa là nắm hệ thống nguyên lý lý
luận chứ không cắt xén. Do đó, quá trình nghiên cứu, nắm vững chủ nghĩa
Mác - Lê nin của Hồ Chí Minh chính là cơ sở và tiền đề cho sự sáng tạo.
Trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào việc xây
dựng đờng lối chính trị, một vấn đề đặt ra là việc tiếp thu kinh nghiệm của
các Đảng cộng sản anh em. Hồ Chí Minh rất chú trọng đến tiếp thu kinh
nghiệm dồi dào của các nớc anh em, nhng chúng ta cũng không thể áp dụng
kinh nghiệm ấy một cách máy móc bởi vì nớc ta có những đặc điểm riêng của
ta. Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều, đồng thời phải đề phòng chủ
nghĩa xét lại. [18, 499].
Nh vậy, chủ nghĩa Mác - Lê nin là nền tảng, là cơ sở lý luận cho việc
xây dựng đờng lối chính trị nhng cần phải biết vận dụng sáng tạo không đợc
phép giáo điều. Nếu biến chủ nghĩa Mác - Lê nin thành công thức cứng đờ thì
đờng lối chính trị của Đảng chỉ là sự sao chép và không chứa đựng khả năng
thực thi. Quá trình giáo điều của mỗi Đảng cộng sản đồng thời cũng là quá
trình làm nghèo đi chủ nghĩa Mác - Lê nin, một học thuyết vốn rất sống động.

thành triệt để mục tiêu độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử nh vậy, đờng
lối chính trị do Hồ Chí Minh và Đảng đa ra là tiếp tục hoàn thành mục tiêu
giải phóng dân tộc, từng bớc thực hiện mục tiêu dân chủ, tạo tiền đề và điều
kiện để tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là một đờng lối phù hợp với
đặc điểm lịch sử và thực tiễn của đất nớc.
Năm 1946, một nhà báo nớc ngoài hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tha
Chủ tịch, chúng tôi nghe nói Chủ tịch có xu hớng cộng sản, nhng có phải Chủ
tịch cho rằng đất nớc Việt Nam cha thể cộng sản hoá đợc trớc thời hạn là 50
năm không. Ngời trả lời: Tất cả mọi ngời đều có quyền nghiên cứu một chủ
nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa C. Mác.Còn khi nào chủ nghĩa
C. Mác đợc thực hiện thì tôi không thể trả lời đợc. Muốn cho chủ nghĩa cộng
sản thực hiện đợc, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi ngời đều đợc phát triển hết khả năng của mình, ở nớc tôi những điều kiện ấy cha đủ. Câu
trả lời của Hồ Chí Minh thể hiện kiên định chủ nghĩa cộng sản, đồng thời
nhận thức rõ tình hình cụ thể của đất nớc để đề ra đờng lối, nhiệm vụ chính
trị cũng nh bớc đi thích hợp, tạo dựng những điều kiện cần có để tiến tới mục
tiêu chủ nghĩa xã hội.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn đợc giải phóng (1954), đờng lối của Đảng
là tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

21


ở miền Nam, thống nhất đất nớc, đồng thời đa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng: Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc
biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội
hoàn toàn mới xa nay cha từng có trong lịch sử nớc ta . Phải tiến hành quá
trình biến đổi đó trong những điều kiện đặc biệt nớc ta. Đó là một xã hội
vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến lạc hậu, cha có nền tảng vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảch đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Trong
những điều kiện nh thế, chúng ta phải dùng những phơng pháp gì, hình thức


cờng sức mạnh, đủ sức lãnh đạo nhân dân xây dựng một nớc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Trong việc xây dựng Đảng, để Đảng đề ra đờng lối chính trị đúng, Hồ
Chí Minh đã đề cập đến những vấn đề chủ yếu sau:
- Không ngừng nâng cao trình độ lý luận bởi vì lý luận là sự tổng kết
kinh nghiệm của loài ngời, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội
trong quá trình lịch sử. Ngời nhiều lần nhắc lại ý của Lênin: Không có lý luận
cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Chỉ có Đảng nào đợc một lý
luận tiên phong hớng dẫn thì mới làm tròn đợc vai trò của ngời chiến sỹ tiên
phong. Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy cho ta hành động, Hiểu biết do
thực hành mà ra. Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành, Thực hành, hiểu
biết, lại thực hành, lại hiểu biết nữa, cứ đi vòng nh thế mãi không bao giờ
ngừng. Đồng thời phải luôn gắn lý luận với thực tiễn, tránh lý luận suông.
Phải gắn lý luận Mác - Lênin với việc phân tích và giải quyết các vấn đề cụ
thể của cách mạng Việt Nam. Trong khi vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin thì
phải bổ sung làm phong phú thêm lý luận đó bằng những kết luận mới rút ra
từ trong thực tiễn cách mạng nớc ta. Hồ Chí Minh cho rằng: Thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận
mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. [8, 496].
- Dân chủ là cái quý báu của nhân dân, là thành quả của cách mạng.
Đảng cần mở rộng và thực hành dân chủ để mọi đảng viên đóng góp ý kiến
của mình cho Đảng, trên tinh thần xây dựng theo đúng các nguyên tắc tổ chức
và sinh hoạt Đảng.
- Phải nghiên cứu tình hình cụ thể để có tác phong công tác tốt, tránh
quan liêu, đại khái, hình thức. Phải nhận thức và nắm vững quy luật phát triển
của cách mạng. Từ đó đa ra những biện pháp, kế hoạch cụ thể, chắc chắn, cân
đối. Không nên áp đặt chủ quan mà không để ý đến những điều kiện khách
quan thực tế. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công

nhóm, nhằm tránh tình trạng ỷ lại ngời khác, ỷ lại tập thể. Ngời cho rằng:
Việc gì đã đợc đông ngời bàn bạc kỹ lỡng rồi, hoạch định rõ ràng rồi thì cần
phải giao cho một ngời hoặc một nhóm ít ngời phụ trách theo kế hoạch đó mà
thi hành. Nh thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. [15, 504]
Cần tuyên truyền cho mọi ngời hiểu đờng lối, chủ trơng của Đảng và
phải xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết, thiết thực. Ngời nói: Kế hoạch phải
thiết thực, kế hoạch một phần, biện pháp thực hiện phải hai phần; phải tạo ra
hiệu quả công tác, chớ phô trơng hình thức. Bệnh phô trơng hình thức thu hút
mọi tâm lực của ngời ta vào việc tạo ra những phong trào rầm rộ, nhất thời
hơn là hiệu quả thực tế của nó. Bệnh quan liêu trong tổ chức thực hiện ngăn
cản việc kịp thời phát hiện những sự không ăn khớp, kém hiệu quả của các
hình thức, biện pháp đã đợc đa ra; đồng thời không nhanh chóng nắm đợc
những sáng tạo mới nảy sinh từ chính phong trào quần chúng. Đó là những

24


hạn chế làm giảm đáng kể hiệu quả tổ chức thực hiện nghị quyết, làm giảm
tiến trình phát triển của cách mạng.
Bên cạnh những yêu cầu đó cần phải thờng xuyên kiểm tra, đôn đốc để
điều chỉnh, bổ sung tạo ra hiệu quả cao. Và sau khi thực hiện nghị quyết cần
phải tổng kết kinh nghiệm.
Nh vậy, sức chiến đấu của Đảng về chính trị thể hiện ở việc xây dựng
đờng lối chính trị đúng, cụ thể hoá đờng lối chính xác, kịp thời và thực hiện
đờng lối thắng lợi.
1.2.3. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ
1.2.3.1. Tầm quan trọng của công tác bảo vệ Đảng
Bảo vệ Đảng là chống lại sự phá hoại Đảng của các thế lực thù địch, là
loại trừ những nhân tố cản trở sự phát triển của Đảng nảy sinh trong nội bộ
Đảng, nhằm giữ cho Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, t tởng, tổ chức,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status