TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
Chuyên nghành: Sƣ phạm Giáo Dục Công dân
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẨN:
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
TS. PHẠM VĂN BÚA
NGUYỄN QUANG LÂM
MSSV: 6106623
CẦN THƠ 11/12/2013
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc tiên, em xin đƣợc gởi lời cảm ơn đến thầy hƣớng dẫn luận văn của
em, Tiến sĩ Phạm Văn Búa, đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ em hoàn
thành tốt luận văn này.
Em xin cảm ơn Khoa khoa học chính trị, trƣờng đại học Cần Thơ đã tạo
nhiều điều kiện thuận lợi cho em để tiến hành tốt luận văn.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hơn 83 năm qua, kể từ ngày có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Từ một nƣớc thuộc địa, Việt Nam đã trở thành một đất nƣớc độc
lập, thống nhất, có chủ quyền và đang định hƣớng lên chủ nghĩa xã hội. Toàn dân
ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh đuổi sạch bóng bọn xâm lƣợc và thành công
gần đây nhất đó chính là sự thắng lợi của công cuộc đổi mới năm 1986.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo
quan điểm mácxít về tín ngƣỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằm
thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Tƣ tƣởng này đƣợc xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm văn hóa Việt
Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, các tín ngƣỡng, tôn giáo có lịch sử
hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu hƣớng hòa đồng, tồn tại đan
xen, ảnh hƣởng lẫn nhau.
Cùng với sự đổi mới, trƣớc hết là đổi mới tƣ duy, Đảng ta đã từng bƣớc đổi
mới về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo. Trong quá trình đó, tƣ duy lý luận của
Đảng về vấn đề tôn giáo ngày càng đƣợc thể hiện một cách đầy đủ hoàn thiện hơn
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Đảng cộng
sản Việt Nam, nhà nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xác định tín
ngƣỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ còn
đó cơ sở tồn tại lâu dài trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta,
đồng thời các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc.
Vì vậy, Đảng ta chủ chƣơng thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do, tín ngƣỡng tôn giáo; đoàn kết các đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo
nói chung và Phật giáo nói riêng; Động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, các tín
Đề tài thực hiện với mục đích cơ bản là tìm hiểu sâu hơn về tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh đối với tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng; tìm hiểu sâu hơn
4
những quan điểm, đƣờng lối của Đảng về các tôn giáo trong thời kì đổi mới. Mặt
khác việc nghiên cứu đề tài còn nhằm tìm hiểu thêm những thành tựu đã đạt đƣợc
và những khó khăn còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối
với Phật giáo của Đảng và Nhà nƣớc. Từ đó đề ra những giải pháp, nhằm thực
hiện tốt hơn các chính sách về tôn giáo, góp phần phát triển khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng và sự
vận dụng của Đảng ta trong thời kì đổi mới
- Phạm vi nghiên cứu: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là vấn đề rộng lớn trong phạm vi đề
tài này nên chỉ nghiên cứu
+ Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
+ Chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Phật Giáo
+ Về thời gian: Trong sự nghiệp đổi mới ( Từ năm 1986 đến nay)
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, em đã sử dụng nhiều phƣơng
pháp kết hợp lại với nhau trong đó có các phƣơng pháp nhƣ sau: phƣơng pháp
logic và lịch sử, phƣơng pháp diễn dịch, quy nạp, phƣơng pháp hệ thống, phân
tích-tổng hợp.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thì
luận văn gồm có 2 chƣơng, 6 tiết
Chƣơng 1: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Chƣơng 2: Thực hiện chính sách của Đảng đối với Phật giáo dƣới ánh sáng
6
Sau này qua các bài viết, Ngƣời đã bộc lộ sự hiểu biết sâu sắc về khổng
giáo, về Khổng Tử và đặc biệt là vận dụng những kiến thức Nho học vào cuộc
đấu tranh cách mạng và trong cuộc sống đời thƣờng
Những khái niệm cơ bản của Nho giáo nhƣ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần,
kiệm, liêm, chính, trung, hiếu… đều đƣợc Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng, nhƣng
điều quan trọng là Hồ Chí Minh không hề tiếp thu một cách máy móc, giáo điều
mà Hồ Chí Minh đã đƣa vào những nội dung mới, nâng cao, trên khái niệm cũ để
phù hợp với cuộc sống mới, thời đại mới. Có thể dẫn ra nhiều ví dụ: Nho giáo từ
Đổng Trọng Thƣ định tiêu chuẩn cho ngƣời quân tử - mẫu ngƣời của chế độ phong
kiến là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Hồ Chí Minh đã cho rằng ngƣời đảng viên, ngƣời
cán bộ muốn trở nên ngƣời cách mạng chân chính thì cần phải có năm đức tính là
nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và ở những khái niệm này đã chứa đựng những nội
dung mới so với Nho giáo. Khái niệm trung, hiếu của Hồ Chí Minh khắc hẳn khái
niệm trung, hiếu của Nho giáo.
Ngƣời giải thích: “ngày xƣa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ
mình thôi. Ngày nay nƣớc ta là dân chủ cộng hòa… trung là trung với tổ quốc,
hiếu là hiếu với nhân dân, ta thƣơng cha mẹ ta, mà còn phải thƣơng cha mẹ ngƣời,
phải làm cho mọi ngƣời đều biết thƣơng cha mẹ [12,tr.197]
Hồ Chí Minh am hiểu Nho giáo đến mức có thể chỉ ra những mặt hạn chế
của Nho giáo, bằng sự nhận xét tinh tế, chính xác cho rằng tƣ tƣởng đạo đức
Khổng Tử “ chỉ thích hợp với một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi”, “đạo
đức của ông hoàn hảo, nhƣng nó không thể dung hợp với các trào lƣu tƣ tƣởng
hiện đại” và “ông không phải là ngƣời cách mạng… ông tiến hành một cuộc tuyên
truyền mạnh mẽ có lợi cho họ (giai cấp phong kiến thống trị)” [9,tr.452]
Từ những giá trị tốt đẹp cũng nhƣ hạn chế của Nho giáo, Hồ Chí Minh đi
kết bài học: “Những ngƣời An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh
Về thực hành lối sống của nhà Phật, Hồ Chí Minh đã từng sống kham khổ
nhƣ nhà tu hành, đã nghiên cứu giáo lý đạo Phật và am hiểu những kiến trúc chùa
chiền. Theo lời của nghị sĩ Quốc hội Thái Lan Siphanôm Vishivarason kể lại “
Bác Hồ là vĩ nhân văn hóa. Năm 1927 Bác đã xây dựng nhà Phật to nhất của chùa
8
Phôthixâmphon ở tỉnh Uđon – Đông Bắc Thái Lan. Bác là ngƣời đứng ra chủ trì
xây dựng nhà Phật cho hoàn thiện” [21,tr.16]
Trong những bài viết của mình, Hồ Chí Minh nhiều lần dùng khái niệm
mƣợn của nhà Phật. Trong bài “sẻ cơm nhƣờng áo” Hồ Chí Minh viết: “Tôi chắc
rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ, cứu nạn, mà hăng hái hƣởng ứng lời đề
nghị nói trên” [19,tr.50] . Khi tuyên bố vơi quốc dân, Hồ Chí Minh nói: “Không
đƣợc báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đƣờng lạc lối, đồng bào cần phải
dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ” [11,tr.148]
1.1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
1.1.2.1 Về sự hình thành, phát triển của tôn giáo.
Mác, Ăngghen đã tiếp thu tƣ tƣởng vô thần truyền thống tiến bộ trong lịch
sử nhân loại và đƣa lý luận cũng nhƣ thực tiễn của chủ nghĩa vô thần khoa học lên
một trình độ cao, tiến bộ nhất. Các ông đã chứng minh rằng, tôn giáo không có
một lịch sử độc lập tách rời những nguồn gốc trần thế của lịch sử phát triển. Cần
phải tìm nguồn gốc của tôn giáo ở dƣới đất chứ không phải ở trên trời. “Con ngƣời
sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con ngƣời... Tôn giáo là sự tự
ý thức và sự tự cảm giác của con ngƣời chƣa tìm đƣợc bản thân mình hoặc đã lại
để mất bản thân mình một lần nữa” . Tôn giáo có hai nguồn gốc trầ n thế thực sự là :
nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
Hai ông cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn
tại xã hội. Toàn bộ nội dung của tôn giáo đều có nguồn gốc là thế giới hiện thực.
Đặc trƣng của tôn giáo là ở chỗ những khách thể của hiện thực không đƣợc phản
Nếu Phơ-bách đã hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con ngƣời và buộc
phải không nói đến quá trình lịch sử và ấn định tình cảm tôn giáo là một cái gì tồn
tại tự thân, và giả định một cá nhân con ngƣời trừu tƣợng, cô lập, thì về bản chất
của tôn giáo, các ông từng nói: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hƣ ảo - vào trong đầu óc của con ngƣời - của những lực lƣợng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lƣợng ở
trần thế đã mang hình thức những lực lƣợng siêu trần thế....
10
Thời kỳ đầu: Lực lƣợng thiên nhiên đƣợc phản ánh nhƣ thế với các thần
lửa, thần mƣa, thần sấm, v.v. Trong thời kỳ phát triển về sau, mỗi dân tộc khác
nhau có cách nhân cách hóa khác nhau về lực lƣợng thiên nhiên. Thần thiên nhiên
vì thế rất phong phú, đa dạng. Về sau: Những lực lƣợng thiên nhiên mang tính xã
hội. Lực lƣợng mang tính xã hội này đối lập với con ngƣời, xa lạ với con ngƣời.
Nó là những nhân vật ảo tƣởng huyền bí có sức mạnh huyền bí, vạn năng thống trị
con ngƣời.
Đối tƣợng của tôn giáo là thế giới vô hình và sự tác động qua lại của con
ngƣời với thế giới ấy - Tôn giáo là sản phẩm của con ngƣời, chính con ngƣời sáng
tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con ngƣời. Tôn giáo là hiện
thực siêu hình của bản chất nhân loại.
Về chức năng của tôn giáo: Trong khi nhấn mạnh chức năng xã hội của
tôn giáo, hai ông đã chỉ ra những yếu tố mang tính văn hoá của tôn giáo.
Khi bàn về chức năng xã hội của tôn giáo , các ông nhấn mạnh ở các khía
cạnh:
Tôn giáo là sản phẩm của xã hội và văn hóa : Ở từng quốc gia khác nhau ,
các khu vực khác nhau, trong cộng đồng ngƣời khác nhau và trong từng nền văn
minh khác nhau, thì tôn giáo biểu hiện ra cũng rất khác nhau.
Tôn giáo vừa phản ánh xã hội đƣơng thời đã sinh ra nó (cho dù là phản ánh
kiện để tôn giáo biến đi.
Từ quan niệm, con ngƣời sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng
tạo ra con ngƣời, Mác, Ăngghen chỉ rõ: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác
của con ngƣời chƣa tìm thấy bản thân mình (đánh mất mình một lần nữa) , là thế
giới quan lộn ngƣợc vì tôn giáo phản ánh chính thế giới hiện thực lộn ngƣợc con
ngƣời. Tôn giáo biến bản chất con ngƣời thành tính hiện thực ảo tƣởng.
Các ông khẳng định, xóa bỏ tôn giáo là đòi hỏi hạnh phúc thật sự của nhân
dân. Vì thế, phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cái biển khổ
ấy - Cái biển khổ mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh. Phê phán tôn giáo
12
phải làm cho con ngƣời thoát khỏi ảo tƣởng, để con ngƣời tƣ duy, hành động xây
dựng tính hiện thực của mình. Phê phán thƣợng giới phải biến thành phê phán cõi
trần; phê phán tôn giáo phải biến thành phê phán pháp quyền; phê phán thần học
biến thành phê phán chính trị.
Trong Lời nói đầu của tác phẩm “Góp phần phê phán triết học Hê ghen”,
C.Mác quan niệm: Sự nghèo nàn của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự nghèo
nàn hiện thực, và mặt khác là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy.
Tôn giáo là tiếng thở dài của chứng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không
có trái tim, cũng nhƣ nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh
thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Từ đó ông chỉ ra:
Tôn giáo là hạnh phúc ảo tƣởng của nhân dân. Xoá bỏ tôn giáo là đòi hỏi
hạnh phúc thật sự của nhân dân. Tức, khi nhân dân có hạnh phúc thực sự sẽ là một
trong các điều kiện để tôn giáo tự nó mất đi.
Tôn giáo chỉ là mặt trời ảo tƣởng vận động xung quanh con ngƣời. Khi con
ngƣời là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con ngƣời chƣa tìm thấy bản thân mình,
hoặc đã đánh mất mình một lần nữa, thì con ngƣời để cho tôn giáo (là cái mặt trời
ảo tƣởng) vận động xung quanh mình. Khi con ngƣời thoát khỏi ảo tƣởng, có lý trí
Cũng trong “Chống Đuy Rinh”, Ăngghen khẳng định một trong những
điều kiện để tôn giáo mất đi là trong hôn nhân gia đình, tình yêu tự nguyện chân
chính của trai gái quyết định hôn nhân của họ. Họ yêu nhau thì họ lấy nhau chứ
không phải bất kỳ một thế lực nào khác. Cũng nhƣ thế, một trong những điều kiện
để tôn giáo mất đi, có việc thực hiện bình đẳng tôn trọng lẫn nhau giữa đàn ông
với đàn bà, giữa nam và nữ [7,tr.559-560].
1.1.2.4. Quan niệm của Lênin về nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc
xã hội của tôn giáo.
Về nguồn gốc nhận thức: Kế thừa quan niệm của Mác-Ăngghen về nguồn
gốc nhận thức của tôn giáo, Lênin chỉ ra một cách cụ thể các khía cạnh nguồn gốc
nhận thức của tôn giáo là:
14
Sự bất lực của những ngƣời dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên
đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép mầu nhiệm. [28,tr.169,171]
Chính quan điểm sai tận gốc của chủ nghĩa duy tâm cho rằng “xét đến
cùng tính khách quan của những vật thể vật lý, mà chúng ta gặp trong kinh nghiệm
của chúng ta, là dựa vào sự kiểm tra lẫn nhau và sự xét đoán ăn khớp với nhau của
những ngƣời khác nhau. Nói chung, thế giới vật lý tức cái kinh nghiệm ăn khớp về
mặt xã hội, hài hòa về mặt xã hội. Tóm lại, là cái kinh nghiệm đƣợc tổ chức về
mặt xã hội- dẫn họ đến chủ nghĩa tín ngƣỡng, dù họ có phủ định chủ nghĩa tín
ngƣỡng”[29,tr.21,144,171]. Đây là nguồn gốc nẩy sinh các giáo lý tôn giáo.
Chính chủ nghĩa bất khả tri của Cant, Hium trong vấn đề tính nhân quả mà
những ngƣời theo chủ nghĩa Ma Khơ lập lại, là một trong những nguồn gốc nhận
thức của tôn giáo [31,tr.199-200].
“Cũng nhƣ tất cả những ngƣời theo phái Ma Khơ, Badarốp đã lạc đƣờng
khi lẫn lộn tính khả biến của những khái niệm của con ngƣời về không gian và
thời gian, tính chất hoàn toàn tƣơng đối của những khái niệm ấy với tính bất biến
phép màu...” .[30,tr.171]
Tình trạng nô lệ về mặt kinh tế là nguồn gốc thực sự của sự mê hoặc nhân
loại bằng tôn giáo.
“Cảm giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo” - cái chết làm nẩy sinh
sự sợ hãi, lòng tin vào thƣợng đế - Đó là nguồn gốc tâm lý xã hội của tôn giáo
[32,tr.51]. Điều này đƣợc Lênin cụ thể ra ở các mặt:
Tính ích kỷ theo nghĩa triết học, là gốc rễ của tôn giáo [32,tr.52].
Gia-cốp-Bômơ là “ngƣời hữu thần duy vật”, không những ông thần thánh
hóa tinh thần, mà ông còn thần thánh hóa cả vật chất nữa. Ở ông thƣợng đế có tính
vật chất - chủ nghĩa thần bí của ông là ở chỗ đó - “ở chỗ nào con mắt nhìn đến và
bàn tay mò đến thì chỗ đó các thần thánh không tồn tại nữa”. Nhƣ vậy, nếu thần
thánh hóa vật chất và thực sự chỉ lệ thuộc vào vật chất cũng là một nguồn gốc xã
hội của tôn giáo [32,tr.62].
16
Khi lý tƣởng của con ngƣời không hƣớng tới sự phù hợp với giới tự
nhiên, mà hƣớng tới lý tƣởng siêu tự nhiên, khi đó tôn giáo nẩy sinh [32,tr.66].
Sự phiến diện, cứng nhắc, thấy cây mà không thấy rừng, chủ nghĩa chủ
quan và mù quáng chủ quan sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và là nguồn gốc của tôn
giáo [32,tr.385].
Trong tôn giáo cũng nhƣ trong nền dân chủ, chúng ta đều thấy có nguyện
vọng chung là giải phóng. Nhƣng chúng ta thấy rằng, về mặt này, dân chủ đi xa
hơn và tìm sự giải phóng không phải trong tinh thần, mà chính trong xác thịt,
trong hiện thực vật chất, thực tế, nhờ tinh thần của con ngƣời [32,tr.446]. Nếu chỉ
hƣớng sự giải phóng con ngƣời đến sự giải phóng tinh thần, thì đó là nguồn gốc xã
hội cho tôn giáo nẩy sinh. Chính trị phi kinh tế tự nó làm nhục nó.
1.1.2.5. Về vài trò của tôn giáo trong xã hội.
Trong xã hội tƣ bản, sự áp bức chủ nghĩa về mặt kinh tế, gây nên và đẻ ra
điên cuồng hoặc là một tội ác bất kỳ nào đó [31,tr.511] - Tử vì đạo bởi chính dục
vọng bàng quang của chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến.
Trong chủ nghĩa đế quốc, dục vọng bàng quang của chủ nghĩa sô vanh
hiếu chiến của tƣ bản tài chính đối với nhà thờ, chính là sự củng cố uy tín của nhà
thờ và sự thiết lập sự kiểm soát tinh thần của nhà thờ đối với quảng đại quần
chúng các bộ lạc hạ đẳng [31,tr.512].
Ở Anh, các giáo phái Anh giáo thƣờng dựa vào các giai cấp trung gian và
một phần công nhân lớp trên để thần thánh hóa sự cƣớp bóc [31,tr.543].
Trong lịch sử, đạo Cơ đốc đã lợi dụng truyền giáo để cƣớp bóc thuộc địa
[31,tr.636].
Lê nin cũng chỉ ra tính hai mặt của tôn giáo khi trích dẫn “Các cha cố đạo
Cơ Đốc nói về chiến tranh rằng, các cha cố Pháp lo lắng vì chiến tranh xẩy ra sẽ
dẫn châu Âu đến kiệt quệ, các ông khêu gợi lòng yêu nƣớc của mỗi ngƣời và vì sự
nhân từ của chúa (cha của mọi con chiên), và vì chúa ở trong lòng mọi ngƣời, mà
không tiến hành chiến tranh, nhƣng các cha cố ngƣời Đức cũng vận dụng lý do đó
mà tán thành chiến tranh do Đức khởi xƣớng [31,tr.661-663].
18
1.1.2.6. Quan niệm của Lênin về thái độ của Đảng cộng sản và Nhà
nƣớc đối với tôn giáo.
* Về thái độ của Đảng cộng sản đối với tôn giáo.
Đối với Nhà nƣớc, tôn giáo chỉ là việc tƣ nhân. Điều đó không có nghĩa đối
với Đảng thì tôn giáo là việc tƣ nhân. Làm nhƣ thế là hạ thấp Đảng của giai cấp
công nhân xuống trình độ của ngƣời thị dân “có tƣ tƣởng tự do tầm thƣờng nhất” Hạng này sẵn sàng không theo bất cứ tôn giáo nào, nhƣng lại cự tuyệt không chấp
hành nhiệm vụ đấu tranh theo lập trƣờng của Đảng để chống thứ thuốc phiện tôn
giáo mê hoặc nhân dân [33,tr.94]
Ngƣời nói, với những công nhân theo tín đồ Cơ Đốc, và những trí thức theo
chủ nghĩa thần bí, những ngƣời cộng sản không gạt họ ra khỏi xô-viết và cũng
Lênin chủ trƣơng, phải tách Giáo hội ra khỏi Nhà nƣớc. Tôn giáo phải đƣợc
tuyên bố là một việc của tƣ nhân đối với Nhà nƣớc, Nhà nƣớc không dính đến tôn
giáo, các đoàn thể tôn giáo không đƣợc dính đến chính quyền Nhà nƣớc. Bất cứ ai
cũng đƣợc quyền tự do theo hoặc không theo bất cứ một tôn giáo nào đó. Không
phân biệt quyền lợi giữa công dân có tín ngƣỡng tôn giáo với các công dân khác.
Trong các văn kiện chính thức của Nhà nƣớc phải vứt bỏ thậm chí mọi sự nhắc
đến tôn giáo nào đó của công dân. Nhà nƣớc không chi bất cứ một khoản phụ cấp
nào cho quốc giáo cũng nhƣ cho các đoàn thể tôn giáo, giáo hội. Các đoàn thể tôn
giáo hoàn toàn độc lập với chính quyền... Phải triệt để thực hiện điều này để tránh
và chấm dứt sự nhục nhã khi giáo hội phụ thuộc vào Nhà nƣớc, và tồn tại tòa án
của giáo hội đã truy tố công dân về tội vô thần hay tín ngƣỡng, cƣỡng bức lƣơng
tâm con ngƣời; nhằm đập tan mọi sự liên kết giữa giáo hội và Nhà nƣớc tƣớc mất
quyền tự do của con ngƣời [30,tr.170-173]
Ngƣời chỉ rõ, một khi tín ngƣỡng tôn giáo trở thành tôn giáo Nhà nƣớc thì
ngƣời ta sẽ quên ngay “những điều ngây thơ” của tôn giáo lúc sơ khai với tinh
thần dân chủ cách mạng của nó [33,tr.53].
Lênin nhấn mạnh: Cho đến nay, hôn nhân có tính chất tôn giáo vẫn thịnh
hành mà phụ nữ là ngƣời gánh chịu hậu quả của tệ nạn đó. Đấu tranh chống tệ nạn
20
này còn khó hơn đấu tranh chống lại pháp chế cũ. Đấu tranh chống các thành kiến
tôn giáo phải cực kỳ thận trọng. Trong cuộc đấu tranh này, ai làm tổn thƣơng đến
tình cảm tôn giáo, ngƣời đó sẽ gây thiệt hại lớn. Phải đấu tranh bằng tuyên truyền
giáo dục, nếu hành động thô bạo sẽ làm cho quần chúng tức giận, sẽ gây thêm chia
rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo. Nguồn gốc sâu xa nhất của thành kiến tôn
giáo là cùng khổ và dốt nát. Chính điều đó mà chúng ta cần phải đoàn kết và đấu
tranh .Tình trạng nô lệ về mặt kinh tế, đó là nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc
nhân loại bằng tôn giáo [30,tr.175].
cũng khẳng định: “chúng tôi xin nói thêm hai điểm, nói rõ để tránh mọi ngƣời hiểu
lầm.
Một là, vấn đề tôn giáo, thì Đảng lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng
quyền tự do tín ngƣỡng của mọi ngƣời…” [13,tr.184]
Theo Hồ Chí Minh, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngƣỡng
của nhân dân không chỉ thực hiện đối với cán bộ, đảng viên, những ngƣời làm
công tác tôn giáo mà cả toàn xã hội, ngay cả những tôn giáo khác nhau. Bởi vì, do
tính chất cục bộ, mỗi tôn giáo đều mong muốn đề cao tôn giáo mình , hạ thấp tôn
giáo khác, thậm chí phủ nhận tôn giáo khác, nếu không thực hiện tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tôn giáo sẽ dẫn đến có sự xung đột tôn giáo xảy ra. Điều này đã
đƣợc chứng minh qua lịch sử hình thành và phát triển của các tôn giáo trên thế
giới.
Tôn trọng những ngƣời sáng lập ra các tôn giáo là tôn trọng đức tin của
ngƣời theo tôn giáo: Theo Hồ Chí Minh biểu tƣợng cao nhất của niềm tin tôn giáo
là niềm tin, sự tôn trọng đối với các đấng giáo chủ, ngƣời sáng lập ra các tôn giáo,
vì vậy, Ngƣời luôn ca ngợi đạo đức, tôn trọng những ý tƣởng nhân đạo của các vị
sáng lập các tôn giáo. Với chúa Giêsu, Ngƣời nói: “Gần hai mƣơi thế kỉ trƣớc, một
vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Ngƣời chỉ lo cứu thế dộ dân, hi sinh cho sự tự do,
bình đẳng” [12,tr.90] hoặc “Đức Giêsu hi sinh vì muốn loài ngƣời đƣợc tự do,
22
hạnh phúc” [11,tr.150] , “ Suốt đời Ngài chỉ hi sinh phấn đấu cho tự do, cho dân
chủ” [12,tr.121]
Với đức Phật, Ngƣời nói: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu nạn.
Muốn cứu chúng ta ra khỏi khổ nạn, Ngƣời phải hi sinh tranh đấu diệt lũ ác ma”.
“Phật Thích Ca là một ngƣời quí tộc. Ngƣời đã bỏ hết công danh phú quí để cứu
vớt chúng sinh” [12,tr.197]
Trong công việc hằng ngày. Hồ Chí Minh phê phán việc tuyên truyền chủ