Vận dụng tư tưởng hồ chí minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh đồng tháp trong giai đoạn hiện nay - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ ANH THI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014


Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàn
trung thực. Các số liệu và kết quả công bố trong luận văn này là công trình
nghiêm túc của tôi. Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Tác giả luận văn Lê Anh Thi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN

B - NỘI DUNG 9
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ VÀ PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ 9
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ và quyền
bình đẳng của phụ nữ 9
1.1.1. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước 9
1.1.2. Trong lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc 11
1.1.3. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội 17
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về việc phát huy vai trò của phụ nữ 18
1.2.1. Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là một mục tiêu của
cách mạng 18
1.2.1.1. Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người 18
1.2.1.2. Thực hiện việc phát húy vai trò của phụ nữ là một cuộc cách mạng
lâu dài và khó khăn 25
1.2.1.3. Phụ nữ phải được phát huy vai trò của họ trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội 26
1.2.2. Những biện pháp thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ 36
1.2.2.1. Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước 36
1.2.2.2. Thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ là sự nghiệp của bản thân
người phụ nữ 39
1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện việc phát huy
vai trò của phụ nữ 42 Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ Ở
TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY 46
2.1. Khái quát về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội tỉnh


A - PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử, phụ
nữ bao giờ cũng có một vai trò, vị trí quan trọng trong tất cả các phương diện,
các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, nghệ thuật đến các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội. Về mặt số lượng, phụ nữ chiếm khoảng một
phần hai tổng dân số, tài năng và trí tuệ của họ không kém nam giới. Không
chỉ anh hùng trong chiến đấu, phụ nữ vốn có tính cần cù và sáng tạo, họ đã
trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, đóng góp
một phần không nhỏ trong việc phát triển chung của xã hội.
Phụ nữ luôn luôn tự vươn lên, đấu tranh với nhiều hình thức và mức độ
khác nhau để được bình đẳng với nam giới. Vấn đề này đã trở thành một vấn
đề toàn cầu, có tính chất quốc tế rộng rãi và tính thời đại rõ rệt, không chỉ
riêng một quốc gia, dân tộc nào. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh đó rất lâu dài, khó
khăn, phức tạp, có lúc rất quyết liệt và đến nay vẫn chưa kết thúc.
Hiện nay, ở Việt Nam, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo và
vùng nông thôn nghèo vẫn còn tồn tại tư tưởng gia trưởng, “trọng nam, khinh
nữ”, coi phụ nữ chỉ là cái bóng của nam giới. Họ bị bó buộc vào cái gia đình
bé nhỏ, công việc của họ chỉ là sinh con, nuôi con và xoay quanh việc nội trợ
trong gia đình. Thực tế cho thấy, một số phụ nữ không được bình đẳng ngay
chính trong gia đình của mình, họ bị chà đạp về thể xác và tinh thần; không
được đi học, không được tham gia vào các công việc chính trị, xã hội, đoàn
thể. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển toàn diện không
phải chỉ riêng đối với người phụ nữ mà còn đối với sự phát triển chung của cả
xã hội.
Vì vậy, thực hiện quyền bình đẳng đối với phụ nữ được xem là một cuộc
cách mạng lớn, nhằm cởi bỏ những ràng buộc, những định kiến, những bất
2


kỳ hội nhập quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, tạo điều kiện hơn
nữa cho phụ nữ trẻ, đảm đang, năng động khẳng định vai trò của mình. Vì thế,
phụ nữ Việt Nam ngày nay đã và đang chứng minh sức mạnh cũng như vai trò
quan trọng của mình, họ thực sự vươn lên làm chủ chính bản thân và làm chủ
các công ty, doanh nghiệp, đảm nhận nhiều nhiệm vụ trọng yếu trong hệ
thống chính trị của nước ta.
Đồng Tháp là một trong mười ba tỉnh thành thuộc khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long. Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế,
việc phát huy vai trò và nguồn lực của phụ nữ đã được Đảng và chính quyền
địa phương quan tâm đặc biệt và bước đầu đã thu được những thành tựu rất
quan trọng. Tuy nhiên, xét về tổng thể, việc quán triệt tư tưởng của Hồ Chí
Minh và của Đảng ta vào việc phát huy vai trò của phụ nữ cả nước nói chung,
phụ nữ tỉnh Đồng Tháp nói riêng vẫn là một đòi hỏi cấp thiết cả trên phương
diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp trong giai
đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phụ nữ và vai trò, vị trí của phụ nữ đối với sự phát triển của xã
hội là một vấn đề có tính chiến lược, do vậy, nó đã thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà khoa học và học giả trên cả nước.
Các thành tựu nghiên cứu về phụ nữ nói chung có thể kể đến các công
trình tiêu biểu sau:
- Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ (1995), “Phụ nữ Việt Nam trong quá trình
đổi mới đất nước, vấn đề lao động, việc làm và hạnh phúc gia đình, gia đình
và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ”, Nxb.
Khoa học Xã hội. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vai trò của
người phụ nữ ở một số khía cạnh lao động, việc làm và vị thế của họ trong gia
4

văn hóa của các dân tộc, tác giả đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp
chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng cho phụ dân tộc miền núi.
- Tác giả Nguyễn Thị Báo (2003), “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong
sự nghiệp và cuộc sống gia đình”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10. Tác giả đề
cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và trong cuộc sống.
- Tác giả Nguyễn Đình Tấn và tác giả Lê Ngọc Hùng (2000), “Quyền
phụ nữ trong điều kiện kinh tế hiện nay ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lý
luận, số 9. Trên cơ sở phân tích quyền phụ nữ trong thời kỳ đổi mới, tác giả
đã đi sâu phân tích vai trò quan trọng của người phụ nữ trong điều kiện kinh
tế hiện nay ở nước ta.
- Tác giả Nguyễn Lộc (2005), “Những nỗ lực chính trị - pháp lý quốc
tế trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ”, Tạp chí Cộng sản, số 5.
Tác giả đề cập đến quyền bình đẳng của người phụ nữ, đồng thời đưa ra
những giải pháp ở góc độ chính trị và pháp lý quốc tế để đảm bảo quyền bình
đẳng của người phụ nữ.
Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ có thể kể
đến các công trình tiêu biểu sau:
- Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một số ấn
phẩm của Nhà xuất bản Phụ nữ như: “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng
phụ nữ” (1970), “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982); “Hồ Chí
Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990). Tất cả các công trình trên đều
phản ánh nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ.
- Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử Đảng, Triết
học, Tư tưởng Hồ Chí Minh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ
nữ như: Đặng Thị Lương (1993), “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ
trong cách mạng Việt Nam”. Tác giả đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề giải phóng phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng nước ta; Trương Thị
6

Phúc: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ với việc thực

Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ nữ tại tỉnh Đồng Tháp trong giai
đoạn hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ, thực
trạng vấn đề thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp thời
gian qua, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát huy vai trò của phụ
nữ tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ
sau đây:
- Khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò
của phụ nữ.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng việc thực hiện việc phát huy vai trò
của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của
phụ nữ tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về
vai trò của phụ nữ và thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện
bình đẳng của phụ nữ tỉnh Đồng Tháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của
phụ nữ gắn với đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Tháp trong
việc vận dụng vào thực hiện việc phát huy vai trò của phụ nữ.
8

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ Học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin, một học thuyết cách mạng, khoa học,
rất quan tâm đến vấn đề vai trò phụ nữ và giải phóng phụ nữ. Nó chỉ ra được
nguồn gốc và nguyên nhân, các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giữa
nam và nữ trong lịch sử xã hội loài người. Từ đó nhấn mạnh rằng, muốn tiến
hành sự nghiệp giải phóng phụ nữ, điều đầu tiên phải quan tâm đó là xóa bỏ
triệt để chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện công hữu hóa, đồng thời
thủ tiêu sự bất bình đẳng ngay trong tư tưởng và nhận thức của xã hội. Chủ
nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định rằng sự nghiệp giải phóng phụ nữ luôn gắn
liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, giải phóng con
người, nó có mối quan hệ hữu cơ và mang tính biện chứng sâu sắc. Thêm vào
đó, sau khi đã xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng giữa nam và nữ thì
cần tạo cơ hội và điều kiện cho phụ nữ về mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội để phụ nữ có thể phát huy hết tiềm năng của mình.
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ
Sớm tiếp thu chủ chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị
trí, vai trò của phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng.
1.1.1. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Vị trí địa lý cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam
luôn ở thế bị “dòm ngó” và xâm lược. Vì thế, giữ vững bờ cõi là điều cốt yếu
để dân tộc Việt Nam có thể tồn tại và phát triển. Với tiến trình đó, vai trò của
phụ nữ chiếm một phần quan trọng trong suốt sự nghiệp dựng nước và giữ
nước. Hồ Chí Minh đánh giá trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
có sự góp sức của rất nhiều vị nữ anh hùng: “Hai Bà Trưng đã để lại cho phụ
nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến. Liên đoàn
10

phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy,

lại những định kiến áp đặt lên vai người phụ nữ trong chế độ phong kiến,
những lễ giáo Khổng, Mạnh.
Do hoàn cảnh lịch sử, ở thế kỷ X và XV, nước ta đã phải huy động rất
nhiều người tham gia vào quân đội. Do đó, người phụ nữ phải thay chồng,
thay con trực tiếp lao động sản xuất, nuôi dạy con nhỏ, chăm sóc cha mẹ già
và cung cấp lương thực, lương thảo cho quân đội. Việc điều động một lực
lượng lao động lớn là nam giới vào các công trình tập trung, đã làm cho phụ
nữ trở thành lực lượng lao động thiết yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Việt
Nam từ ngàn xưa.
1.1.2. Trong cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh khảo sát thực tiễn nhiều cuộc cách mạng lớn trên thế giới,
tìm hiểu các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, Người đã khái
quát lên vị trí, vai trò của người phụ nữ trong cách mạng như sau: “Xem trong
lịch sử cách mệnh chẳng lần nào là không có đàn bà con gái tham gia… Vậy
nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái
công nông các nước” [39, tr. 313]. Người ghi nhận như sau: “Phụ nữ Thổ Nhĩ
Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc
phương Tây. Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung
Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu
tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải hủy bỏ
đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v ” [38, tr. 288]. Ngoài
ra, phụ nữ thế giới còn tham gia vào công việc xây dựng đời sống, phát triển
kinh tế, Người nói: “Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương
Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn.
Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không
12

còn là hiện tượng hiếm nữa. Trong các tổ chức công đoàn Nhật Bản, phụ nữ
chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc mới thành lập
được ba năm đã có trong hàng ngũ của mình hơn 150 nữ công nhân và nữ sinh

đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam” [50, tr. 523]. Phụ nữ đã luôn có mặt
trong các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh, giành độc lập và thống nhất tổ quốc.
Họ tham gia với số lượng ngày càng đông, ý chí quyết tâm ngày càng lớn,
tinh thần giác ngộ ngày càng sâu sắc, với những hình thức hoạt động rất đa
dạng, gan dạ, khôn khéo và dũng cảm.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có rất nhiều phụ nữ hòa cùng
khí thế chống quân xâm lược của dân tộc, chung sức, chung lòng, đứng lên
chống thực dân Pháp. Ví như, trong phong trào Duy Tân, có bà Đinh Phu
Nhân, 10 năm liên tục tham gia hoạt động dũng cảm, dù bị địch bắt và tù đày,
tra khảo nhưng không khai nửa lời. Sau khi có Đảng, có một giai đoạn lịch sử,
Đảng ta phải hoạt động một cách bí mật, Người nhận thấy, “Thời kỳ bí mật,
nhiều chị em đã giác ngộ, tham gia hoạt động cách mạng rất dũng cảm, mặc
dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ. Rất nhiều chị em khác cũng đã bảo vệ
cách mạng rất gan góc. Thời kỳ đó, căn cứ địa cách mạng của ta ở Việt Bắc,
do đó rất nhiều chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số không những vượt gian
nguy mà còn gạt cả mê tín để bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách
mạng” [49, tr. 509]. Trong “Thư gửi đồng bào các tỉnh ở Việt Bắc”, Người đã
viết: “Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ đó,
đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các
em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ” [42, tr. 238].
Trong “Thư khen phụ nữ Cao Bằng” Người đã viết: “Tôi nhận được báo cáo
rằng, chị em phụ nữ Cao Bằng thi đua ủng hộ bộ đội và dân quân bằng lựu
đạn, lương thực, khăn áo, bánh trái, vân vân, đáng giá 140.000 đồng. Thế là
rất tốt. Tôi nhớ rằng, trong thời kỳ bí mật, lúc bắt đầu tổ chức đội du kích và
14

quân giải phóng đánh Nhật, đánh Pháp, phụ nữ Cao Bằng luôn luôn hăng hái
giúp đỡ, tiếp tế. Nhiều bà cụ và chị em nhịn ăn để nuôi bộ đội. Luôn mấy năm
như thế. Nhiều chị em lại mạnh bạo tham gia du kích giết giặc. Tôi thay mặt
Chính phủ khen ngợi chị em… Tôi lại mong phụ nữ các tỉnh thi đua với chị

phải. Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước. Đó là vì lòng chí công vô tư mà chúng
ta đều phải học tập theo” [44, tr. 134]. Người nhiều lần gửi thư tỏ lòng biết ơn
đến các nữ anh hùng, đồng thời ghi nhận công lao của họ: “Tôi kính cẩn
nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc,… Tôi kính
chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ
mà trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta đang gánh một phần quan
trọng” [44, tr. 339].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Việt Nam cũng đã
phát huy hết khả năng, tinh thần và sức mạnh của mình. Hồ Chí Minh rất tin
tưởng nên có lời kêu gọi: “Bác mong phụ nữ ta ra sức phát huy hơn nữa
truyền thống dũng cảm và đảm đang, cùng toàn quân, toàn dân ta bảo vệ độc
lập tự do của Tổ quốc, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn
toàn” [52, tr. 174, 175]. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, giới tuyến tạm
thời được thiết lập. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ âm mưu thay Pháp xâm chiếm
miền Nam, nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Chúng cùng bè lũ tay sai đã cố
tình phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến hành bình định với hàng loạt việc làm
tàn bạo như: bắt cóc thủ tiêu cán bộ ta, dùng nhiều thủ đoạn bắt người man rợ.
Trong khi đó, lực lượng cách mạng ở miền Nam còn rất mỏng và yếu, thế và
lực không được như trước. Tuy vậy, ở miền Nam, những người phụ nữ anh
dũng đã gan góc xông pha, đứng lên đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-
vơ. Với vũ khí thô sơ, phụ nữ miền Nam có tấm lòng yêu nước và ý chí đánh
thắng địch, họ đã dùng lời lẽ đanh thép và nhiều hình thức phong phú, phương
pháp đấu tranh trực diện, tấn công liên tục làm cho quân địch phải hoảng sợ
chùn bước. Về sau, chúng thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, tra khảo
16

dân, trường kỳ truy bức, bắt ly khai Đảng, xé cờ Đảng. Trước tình hình đó,
nhiều nơi, các mẹ, các chị còn biến những buổi lên lớp “tố cộng” thành những
buổi tố cáo, vạch trần âm mưu của Ngô Đình Diệm, chúng buộc phải giải tán
các trường “tố cộng”. Hồ Chí Minh đã rất tự hào về những thành tựu của phụ

Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng to gió lớn, suốt ngày đêm
chèo thuyền đưa bộ đội cán bộ qua sông để chiến đấu. Bà mẹ Cán, người Thái
ở Sơn La có sáu con thì hai con đi bộ đội, bốn vào du kích, bản thân bà mẹ
cũng hăng hái vào bạch đầu quân. Bà mẹ Đích ở Thái Bình đã cho cả bốn con
trai và một con rể vào bộ đội. Bản thân mẹ vừa lo việc nhà cho các con, vừa
hăng hái giúp đỡ gia đình chiến sĩ. Bà Đích còn rất tự hào là cả nhà có bốn
con trai, hai con gái, một con rể đều vẻ vang được tham gia Đảng Lao động
Việt Nam” [52, tr. 172, 173].
Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Trong thời kỳ cách mạng hoạt động bí
mật và trong những năm kháng chiến chống bọn thực dân Pháp và lũ can
thiệp Mỹ, phụ nữ ta đều có công lao to lớn” [52, tr. 172]. Bởi, “Phụ nữ Việt
Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong
kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu
nước. Từ ngày hòa bình trở lại, nước ta bị chia cắt làm hai miền. Chị em miền
Nam đang bền bỉ đấu tranh chống ách thống trị dã man của Mỹ - Diệm. Ở
miền Bắc hoàn toàn giải phóng, chị em phụ nữ đều phấn khởi thi đua sản xuất
thực hành tiết kiệm, công tác và học tập đều tiến bộ khá” [49, tr. 507].
1.1.3. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do
phụ nữ Việt Nam, trẻ cũng như già ra sức mà dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ”
[44, tr. 340]. Đây là một tổng kết mang tính lịch sử, đồng thời mang tính dự
báo chính xác của Người về vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong chế độ
mới - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.
18

Nhân dịp tới dự “Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm tốt”” Người đã nói:
“Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến
sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng
đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế
là dưới chế độ tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phụ nữ ta

thì mặt hạn chế của nó chính là quan điểm “trọng nam khinh nữ”. Người nói:
“Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ. Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng:
Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc
họ thì họ thù oán” [39, tr. 512].
Bên cạnh đó, những hiểu biết của Hồ Chí Minh về tình cảnh người phụ
nữ còn xuất phát từ việc chứng kiến trực tiếp cuộc sống trong gia đình và
ngoài xã hội, khi thực dân Pháp xâm lược, đặt ách đô hộ và cai trị. Tội ác của
chế độ thực dân đã gây nên những chính sách tàn bạo, đẩy phụ nữ Việt Nam
vào con đường cùng. Người đã có rất nhiều bài viết đăng trên các báo như bài
“Những kẻ đi khai hóa (Le Paria, ngày 01/7/1922)”, “Phụ nữ Việt Nam và
chế độ thực dân Pháp (Le Paria, ngày 01/8/1922)”, “Bản án chế độ thực dân
Pháp”,… nhằm tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với phụ nữ các nước
thuộc địa và nhất là với phụ nữ An Nam. Người đặc biệt nhấn mạnh rằng, ở
các nước thuộc địa, phụ nữ chính là những người bị bóc lột tàn bạo nhất, dã
man nhất và chiếm số đông nhất, phụ nữ trở thành nạn nhân trực tiếp. Bởi, họ
là những người yếu thế trong xã hội. Bọn thực dân chẳng những chẳng chút
nương tay mà còn đối xử một cách thậm tệ, thân phận họ chẳng thua con vật.
Ví như, phụ nữ mang thai phải giấu, thắt chặt bụng lại, vì nếu để giới chủ biết
được họ sẽ đuổi việc. Khi nghỉ để sinh nở sẽ không được hưởng một đồng
lương mà còn bị đe dọa mất chỗ làm. Ngoài ra, họ cũng không được nghỉ cho
con bú giữa giờ làm việc. Thêm vào đó, chỗ làm việc của chị em thường hết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status