BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………
TIỂU LUẬN
Triết học và vấn đề phát huy vai trò
nhân tố con người ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay
con người – đề cập đến quan điểm về con người và bản chất của con người của
Triết học Mác.
Chương 3: Phát huy vai trò nhân tố con người ở việt nam trong giai đọan
hiện nay – tác giả đã nêu lên một số đặc điểm của người Việt Nam trong chiến
tranh rồi từ đó mới đònh hướng giải phòng con người. 2
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
TRƯỚC MÁC
1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
1
Có thể nói rằng lich sử khoa học nói chung, của triết học nói riêng là
lòch sử nghiên cứu về con người. Tuy nhiên, mỗi khoa học có cách tiếp cận vấn
đề con người theo phương pháp riêng, phù hợp với đặc điểm đối tượng của mình.
Các khoa học khác khi nghiên cứu con người thì nghiên cứu trực tiếp vào một bộ
phận nào của con người, còn triết học Mác nghiên cứu con người bằng cách tổng
hợp các yếu tố thành hệ thống. Do vậy, quan hệ giữa triết học với các khoa học
khoa học khác là quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Từ thời cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải bản chất
con người, quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh.
Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo
nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhò
nguyên luận. Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc.
Đời sống của con người trên trần thế chỉ là ảo giác hư vô. Vì vậy, cuộc đời con
người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ. Cuộc sống vónh cửu là phải hướng
đến trạng thái Niết bàn, nơi tinh thần của con người được giải thoát để trở thành
bất diệt.
Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú , thiên về con người trong mối quan
hệ chính trò, đạo đức. Nhìn chung con người trong triết học phương Đông biểu
hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối
quan hệ với tự nhiên và xã hội.
1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác
1
Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau
về con người:
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo,
nhận thức về vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí. Trong
Kitô giáo, con người là kẻ có thể xác. Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn vẫn còn
tồn tại mãi mãi. Linh hồn là giá trò cao nhất trong con người. Vì vậy, phải thường
xuyên chăm sóc linh hồn để hướng tới thiên đường vónh cửu.
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu
của tư duy triết học. Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu
lẫn nhau. Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la. Prôtago, một nhà nguy
biện cho rằng “con người là thước đo của vũ trụ”. Quan điểm của Arixtốt về con
người, theo ông, chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làm
cho con người nổi bậc lên, con người là bậc thang cao nhất của vũ trụ. Khi đề cao
nhà nước, ông xem con người là “một động vật chính trò”.
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại đã có sự phân biệt con người với tự
nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người.
1
Sđd, tr.464-467.
4
Triết học Tây u trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đế
sáng ïtạo ra. Mọi số phân niềm vui, nổi buồn sự may rủi của con người đều do
nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách
con người ra khỏi điều kiện lòch sử cụ thể. Con người của Phoiơbắc là phi lòch sử,
phi giai cấp và trừu tượng.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước
Mác, dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhò nguyên luận hay duy vật
5
siêu hình đều không phản ánh đúng bản chất con người. Nhìn chung, các quan
niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh
thần thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt
xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy, một số trường phái triết học vẫn đạt
được những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao uy tính,
xác lập các giá trò về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những
tiền đề có ý nghóa cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết học Mác.
tộc và nhân lọai… Song triết học không giới hạn đối tượng nghiên cứu của
mình ở từng mặt của con người trong trạng thái trừu tượng, cô lập với thế
giới bên ngòai. Hay nói cách khác triết học nghiên cứu về con người theo
hướng trước hết trả lời cho câu hỏi “Con người là gì?” từ đó mới đi truy tìm
bản chất con người.
Triết học Mác quan niệm rằng: “Con người là thực thể thống nhất giữa
mặt sinh vật với mặt xã hội”
1
.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm con người trong lòch sử triết học
đồng thời khẳng đònh con người người hiện thực là sự thống nhất giữa con người
sinh học và con người xã hội.
1
Sđd, tr.467.
7
Tiền đề vật chất là tiền đề đầu tiên quy đònh sự tồn tại của con người là
sản phẩm của giới tự nhiên. Do đó con người sẽ bò những quy luật tự nhiên và qui
sinh học ví du:ï như quy luật phủ đònh của phủ đònh, quy luật biến dò, di truyền
v.v chi phối cuộc sống một cách tự nhiên mà con người không cưỡng lại được.
Vì con người là thực thể sinh học cho nên con người mang bản chất tự
nhiên thể hiện nhu cầu có tính bản năng đói muốn ăn, khát muốn uống, đau
kêu… Như vậy, con người trước hết là một sinh vật, biểu hiện trong những cá
nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối
với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý,
các giai đọan phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con
người.
Tuy nhiên, điều cần khẳng đònh rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy đònh bản chất con người. Đặc trưng quy đònh sự khác biệt giữa con
1
Con người sống trong cộng đồng người nào, sống trong chế độ xã hội
nào thì mang bản chất của cộng đồng đó, chế độ xã hội đó. Chúng ta thấy rằng,
con người đã vượt lên thế giới loài vật về cả ba phương diện khác nhau: quan hệ
với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba
mối quan hệ đó, suy cho cùng, đều mang tính chất xã hội, trong đó quan hệ xã
hội giữa người và người là quan hệ bản chất, bao trùm các quan hệ khác và mọi
hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản
chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng “Bản chất con
người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riệng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
2
. Điều
này khẳng đònh rằng không có con người trừu tượng, thoát ly khỏi mọi điều kiện
mọi hoàn cảnh lòch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác đònh, sống trong
một điều kiện lòch sử nhất đònh, một thời đại nhất đònh. Trong điều kiện lòch sử
đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trò vật chất và
tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và cả tư duy trí tuệ. Do đó, bản chất
con người, trong mối quan hệ với điều kiện lòch sử xã hội luôn vận động và biến
đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nên khi xem xét về bản chất con người ta
phải đặt con người trong không gian cụ thể, thời gian cụ thể, hoàn cảnh cụ thể.
Bản chất con người không phải là hệ thống đóng kín, mà là hệ thống
mở, là “tổng hoà các quan hệ xã hội”. Các quan hệ xã hội khác nhau không ít thì
nhiều có sự thâm nhập với nhau, chi phối nhau để góp phần hình thành nên bản
chất của con người. Bản chất con người bò chi phối bởi tất cã các yếu tố. Nếu như
xét về mặt thời gian thì thì bản chất con người bò chi phối bới quá khứ, hiện tại và
tương lai. Nếu xét về mặt không gian thì tất cả những quan hệ trực tiếp, gián tiếp,
quan hệ gần quan hệ xa đều góp phần hình thành bản chất con người. Nếu xét về
các loại quan hệ thì có bao nhiêu loại quan hệ thì có bay nhiêu quan hệ góp phần
2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lòch sử
Với tư cách là thực thể xã hội, con người họat động thực tiễn tác động
vào giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, thúc đẩy sự vận động và phát triển của
lòch sử xã hội thì càng đóng vai trò là chủ thể. Thế giới lòai vật dựa vào những
điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua họat động thực
tiễn của mình để làm phong phú thêm giới tự nhiên, tái tạo lại lại tự nhiên thứ
hai theo mục đích của mình.
Mặt khác, trong quá trình cải biến giới tự nhiên thì con người vừa làm
nên lòch sử của chính mình. Con người là sản phẩm của lòch sử, đồng thời là chủ
thể sáng tạo ra lòch sử của chính bản thân con người. Họat động lao động sản
xuất vừa là điều kiện tồn tại của con người, vừa là phương thức để biến đổi đời
sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lòch sử xã hội, con người
thông qua họat động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến
cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có họat động
của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn
tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của tòan bộ lòch sử xã hội lòai
người.
10
Không có con người từu tượng, chỉ có con người trong mỗi giai đọan
phát triển nhất đònh của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ
với điều kiện lòch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho
phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ
thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất của con người theo hướng tích cực thì cần
phải làm cho hòan cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hòan cảnh trên
nhiều phương diện khác nhau, nó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người
và hòan cảnh trong bất kỳ giai đọan nào của lòch sử.
tuyệt vọng, bế tắc khôi phục lại niềm tin ở mỗi con người vào sự tất thắng của
chính nghóa và lý trí.
Dân tộc Việt Nam ta trong thời kỳ chiến tranh được đánh giá rất cao vì
họ là những người dám hy sinh thân mình vì người khác, vì cuộc chiến đấu giải
phóng dân tộc. Họ là những con người có vóc dáng rất nhỏ bé nhưng ý chí, niềm
tin thật là to lớn, không có kẻ đòch nào có thể khuất phục được họ. Thế điều gì đã
tạo nên sức mạnh Việt Nam, phẩm chất Việt Nam trong thời kỳ đánh Mỹ cứu
nước.
Một điều hiển nhiên là khi xem xét hiện tại thì không thể tách rời khỏi
quá khứ lòch sử, nhân dân ta rất tự hào về nền văn hiến mấùy nghìn năm lòch sử.
Mặc dù bò đô hộ hơn 1000 năm nhưng nước ta không bò mất, dân ta không bò
thuần hóa bởi chế độ thống trò mà trái lại họ vẫn là người Việt Nam, vẫn kiên
cường đấu tranh để giành lại quyền độc lập tự do.
Không phải những đặc điểm về chủng tộc, về hòan cảnh đòa lý… mà
chính lòch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước trải qua cuộc đấu tranh chinh
phục thiên nhiên và chống giặc ngọai xâm đã tạo nên một vốn rất cơ bản cho
người Việt Nam. Hồ Chí minh đã nói, chủ nghóa yêu nước là cái vốn quý nhất là
đặc điểm lớn nhất trong di sản tinh thần của dân tộc Việt Nam ta. Chủ nghóa yêu
nước là truyền thống Việt Nam: thà chết, thà hy sinh tất cả chứ không chòu cúi
đầu làm nô lệ, là động lực tinh thần của ý chí quyết chiến, quyết thắng bất cứ kẻ
xâm lược lớn mạnh nào, là cơ sợ đạo lý của đại đòan kết tòan dân. Chủ nghóa
yêu nứơc kết hợp với tài thao lược, mưu trí, sáng tạo đã hung đúc nên nghệ thuật
quân sự Việt Nam điêu luyện bách chiến bách thắng.
Con người Việt Nam trong chiến tranh mang tính nhân văn, tính “người”
rất cao. Chúng ta phải tôn trọng, nâng niu những giá trò truyền thống đó, nhưng
chúng ta không nên quá đề cao vai trò của lòch sử. Chúng ta phải hiểu rằng lòch
sử là một quá trình tiếp nối vô tận, trong đó luôn luôn diễn ra sự phủ đònh biện
12
chứng giữa cái cũ và cái mới, con người luôn luôn diễn ra sự phủ đònh biện chứng
chế độ xã hội không khuyết khích họ, họ không được giải phóng ra khỏi những
ràng buộc nhất là ràng buộc về kinh tế. Kết quả là sau 10 năm đổi mới nền kinh
tế nước ta không thể phát triển, con người không thể phát huy được tính năng
động sáng tạo vốn có cuả họ.
Có thể nói rằng con người Việt Nam trong thời bình có thể phát huy
được tài năng cuả mình từ khi chế độ bao cấp được bải bỏ, khi ta tiến hành xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự đònh hướng cuả nhà nước. Khi Đảng ta
13
vận dụng quan điểm cơ bản cuả chủ nghiã duy vật biện chứng và chủ nghiã duy
vật lòch sử về sự tác động biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, về con người
với tư cách là chủ thể có ý thức cuả xã hội, vưà là sản phẩm cuả xã hội, Đảng ta
xem xét và giải quyết vấn đề xây dựng con người mới trong mối liên hệ thống
nhất hữu cơ với việc xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới.
Muốn phát huy hơn về vai trò nhân tố con người trong thời đại hiện nay
thì phải đề cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể cuả lòch sử và tạo
điều kiện để con người phát huy được tài lực, trí lực, nhân lực. Để làm được điều
này thì Đảng ta phải có những đònh hướng, phải có những đường lối, chính sách
rõ ràng để từng bước nâng cao trình độ học vấn, trình độ tư tưởng, nâng cao mức
sống… nhằm để con người có những điều kiện tốt nhất để phát huy khả năng cuả
mình.
Những vấn đề này đã được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm và được
thực hiện qua nhiều việc làm cuả toàn dân như sau:
- Thực hiện xoá đói giảm nghèo để mọi người thoát ra khỏi nghèo đói từ
đó tài năng sẽ dễ dàng phát huy. Khi điều kiện kinh tế quá thấp, suốt ngày ý nghó
không ra thể vượt ra ngoài cơm, áo, gạo, tiền thì người ta rất khó nghó đến những
thứ khác như học tập nâng cao trình độ, tìm tòi để phát hiện ra những cái mới. Do
đó phải thực hiện được xoá đói giảm nghèo bằng cách cho họ vay vốn để sản
xuất nông nghiệp, tạo cho họ có công ăn việc làm …. Cũng đã đem lại hiệu quả
nhất đònh đã làm cho một số người dân thoát ra khỏi tình trạng thiếu trước hụt sau
thấy bắt đầu xuất hiện những cơ sở sản xuất, những nhà máy, những khu công
nghiệp mói bắt đầu mọc lên. Khi những cơ sở, những nhà máy này mọc lên thì ở
khắp nơi thì tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình lao động sản xuất
tạo ra cuả cải vật chất, để đời sống cuả họ được nâng lên từ đó làm cho xã hội
phát triển, mọi người có đủ điều kiện làm chủ bản thân mình, làm chủ tiến trình
lòch sử. KẾT LUẬN
Sau khi đã tìm hiểu chủ đề Triết học và vấn đề phát huy vai trò nhân tố con
người ở Việt nam trong giai đọan hiện nay tôi rút ra được một số vấn đề cơ bản
sau:
- Con người là một thự thể sinh học xã hội nên muốn nghiên cứu về con
người Việt Nam phải nghiên cứu những đặc điểm của con người Việt Nam về
mặt sinh học, về mặt tâm lý về nhận thức để làm cơ sở đònh hướng cho sự phát
triển.
- Vì con người là chủ thể và là sản phẩm của lòch sử nên khi nghiên cứu
con người Việt nam thì phải nghiên cứu con người Việt Nam trong lòch sử dựng
15
nước và giữ nước cũng như phải nghiên cứu con người Việt Nam mới xã hội chủ
nghóa qua các giai đọan phát triển khác nhau của cách mạng Việt Nam cho đến
nay.
- Nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay. Những đặc điểm, chỗ mạnh
và chỗ yếu của nó. Làm thế nào phát huy được đầy đủ những ưu điểm và chỗ
mạnh, khắc phục được nhanh chóng những chỗ yếu, những nhược điểm, để hòan
thành nhiệm vụ của thời kỳ lòch sử và đưa con người Việt Nam lên một bước phát
Go to Purchase Now>>
Merge multiple PDF files into one
Select page range of PDF to merge
Select specific page(s) to merge
Extract page(s) from different PDF
files and merge into one
AnyBizSoft