1Luận văn
Phát triển mô hình cửa
hàng tiện ích ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường
bán lẻ Việt Nam trở nên hết sức sôi động. Đặc biệt, Việt Nam được đánh giá là
thị trường có mức độ hấp dẫn và chỉ số phát triển cao nhất thế giới trong năm
2008. Điều này đã làm cho thị trường bán lẻ Việt Nam trở thành chiếc bành ngọt
hấp dẫn của các đại gia bán lẻ nước ngoài. Hiện các doanh nghiệp trong nước
đang như ngồi trên đống lửa, loay hoay tìm cách để không bị loại ra khỏi cuộc
chơi ngay trên sân nhà. Việc mở cửa thị trường bán lẻ vào đầu năm 2009 là cuộc
cạnh tranh vừa có lợi ích mà cũng lắm nguy cơ. Lợi ích thấy rõ nhất đó là tăng
tính hiệu quả cho hoạt động bán lẻ. Còn nguy cơ thì rất lớn, đó là hàng hiệu cao
cấp xâm nhập vào thị trường Việt Nam sẽ làm giảm thị phần và lợi thế cạnh
tranh của nhà phân phối nội địa. Nhà sản xuất, phân phối và các thương hiệu yếu
sẽ bị loại bỏ. Trong khi đó thị trường nội địa thì rất nhỏ bé, manh mún, thiếu
tính liên kết.
Hiện nay, kênh phân phối truyền thống vẫn đang giữ vai trò chủ yếu với
70% thị phần. Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng của người dân Việt Nam đang có
những bước chuyển biến tích cực. Thu nhập tăng cao tạo điều kiện cho người
dân quan tâm hơn đến các vấn đề về chất lượng, an toàn vệ sinh và đặc biệt là sự
tiện lợi. Với xu hướng "mở cửa" hội nhập thị trường bán lẻ thì kênh phân phối:
Cửa hàng tiện lợi, siêu thị (chuyên doanh hoặc tổng hợp), trung tâm thương mại
hoạt động.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu trong phạm vi các doanh
nghiệp nội địa hoạt động trên địa bàn cả nước. Số liệu từ năm 2000 cho đến quý
I năm 2009.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Phương pháp chủ yếu là thu thập thông tin và phân tích số liệu.
6. Kết cấu của đề tài: gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận về mô hình cửa hàng tiện ích
Chương II.Thực trạng kinh doanh cửa hàng tiện ích ở Việt Nam
Chương III. Phương hướng và giải pháp phát triển mô hình cửa hàng tiện
ích ở Việt Nam. CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CỬA HÀNG
TIỆN ÍCH
I. Khái quát về kinh doanh bán lẻ
4
1. Khái niệm
Kinh doanh bán lẻ là hoạt động kinh doanh thương mại nhằm tiêu thụ
hàng hóa, dịch vụ tới những cá nhân người tiêu dùng hoặc những tập thể hoạt
động không vì mục đích lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh bán lẻ có một vai trò hết sức
quan trọng đối với nền kinh tế. Kinh doanh bán lẻ là khâu gần gũi người tiêu
dùng nhất. Trong rất nhiều kênh tiêu thụ, khâu bán lẻ giữ vai trò là một lực
lụợng chủ đạo tổ chức và vận hành quá trình tiêu thụ hàng hóa. Nó giúp thỏa
mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, là
điều kiện cần để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng xã hội, đảm bảo
cân đối giữa cung và cầu hàng hóa, cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng. Kinh
doanh bán lẻ còn là công cụ để thực hiện cơ chế phân phối theo giá cả thị
sản phẩm không thiết yếu. Đại siêu thị thường ở vị trí xa trung tâm hoặc đóng
vai trò trung tâm trong một khu mua sắm hay trung tâm mua sắm.
Thứ hai là các siêu thị ( super market): siêu thị được dùng nhiều nhất để
chỉ một diện tích bán hàng từ 400m2 đến 2500m2 với ít nhất 70% hàng hóa là
thực phẩm và các hàng hóa thường xuyên khác.
Thứ ba là các trung tâm thuơng mại (department store): là một nơi bán
hàng với diện tích bán hàng thường từ 2500m2 trở lên bán chủ yếu là các hàng
hóa phi thực phẩm và có ít nhất năm nhóm ngành hàng bố trí trong các khu vực
khác nhau, thông thường là ở các tầng khác nhau.
Trong trung tâm thương mại thường bày bán các mặt hàng cao cấp, giá
đắt và ngay cả các siêu thị bên trong các department store cũng có giá đắt hơn
các siêu thị thông thường.
Thứ tư là các trung tâm mua sắm (shopping mall): đặc điểm nổi bật của
loại hình này là có diện tích rất rộng, rộng hơn cả đại siêu thị hay trung tâm
thương mại. Bên trong trung tâm mua sắm thường có cả đại siêu thị, siêu thị,
trung tâm thương mại, rạp chiếu phim, siêu thị chuyên doanh…với rất nhiều dãy
nhà mà người tiêu dùng muốn đi hết các khu vực cũng phải mất cả ngày.
Thứ năm đó là loại hình cửa hàng tiện ích: là một loại cửa hàng nhỏ, diện
tích khoảng trên 50m2 chuyên bày bán các loại hàng thiết yếu phục vụ hàng
ngày cho người tiêu dùng.
6
Loại hình này thường được coi như là cánh tay kéo dài của các siêu thị,
đại siêu thị, len lỏi vào các khu dân cư để phục vụ người tiêu dùng một cách
nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả nhất.
Thứ sáu là loại hình cửa hàng chuyên doanh: cửa hàng này chỉ kinh doanh
duy nhất một loại mặt hàng hay nhóm hàng. Chẳng hạn như cửa hàng điện thoại
di động, cửa hàng chuyên doanh thực phẩm, cửa hàng điện máy…
3.2. Loại hình kinh doanh bán lẻ truyền thống.
Khác với các loại hình kinh doanh hiện đại thì kinh doanh bán lẻ truyền
ngày trong tuần.
Thứ năm, cách thức phục vụ hiện đại, thuận tiện bất kể thời gian, giao
hàng tận nhà cho khách hàng.
Thứ sáu, giá cả thường cao hơn so với các loại hình phân phối truyền
thống do cộng thêm các yếu tố tiện ích.
Thứ bảy, đối tượng phục vụ: phục vụ cho những khách hàng có ít thời
gian, có thu nhập tương đối, có nhu cầu mua sắm nhanh, tốn ít thời gian mà vẫn
đảm bảo số lượng, chất lượng, an toàn và vệ sinh.
Như vậy, cửa hàng tiện lợi về cơ bản bày bán các mặt hàng phục vụ mọi
nhu cầu thiết yếu của người dân giống như loại hình cửa hàng tạp hóa truyền
thống, nếu có thể thay thế được các cửa hàng tạp hóa thì sẽ thu được thắng lợi
lớn do thị trường cực kỳ rộng lớn.
3. Những ưu, nhược điểm của cửa hàng tiện ích so với các loại hình bán lẻ
khác
3.1. Những ưu điểm
Trước hết phải khẳng định rằng ưu thế lớn nhất, vượt trội nhất của các cửa
hàng tiện ích so với các kênh khác đó chính là yếu tố tiện ích, tiết kiệm thời
gian.
Đối với các kênh phân phối hiện đại như đại siêu thị, siêu thị và trung tâm
mua sắm thì cửa hàng tiện ích có một số đặc điểm ưu thế hơn như:
Đầu tư ít vốn: việc mở một cửa hàng tiện ích đơn giản hơn rất nhiều so
với mở một siêu thị hay đại siêu thị do vấn đề về mặt bằng vì một cửa hàng tiện
8
ích chỉ cần mặt bằng rộng khoảng 50m2 là có thể mở được trong khi một siêu thị
cần ít nhất là 400m2 chính vì thế sẽ thu hồi vốn được nhanh hơn.
Vị trí: Cũng vì thuận lợi hơn trong vấn đề mặt bằng nên các cửa hàng tiện
ích sẽ dễ dàng được mở ở gần khu dân cư hơn đáp ứng tốt hơn những nhu cầu
tức thời của người tiêu dùng.
Giá cả cạnh tranh hơn do đầu tư ít hơn và chi phí thấp hơn. Đây là một
sánh bằng các siêu thị được.
Đối tượng khách hàng sẽ hẹp hơn: đối với những khách hàng có thời gian
họ sẽ thích đi siêu thị với hàng hoá phong phú đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ
hơn là đi mua ở cửa hàng tiện ích. Không những thế đi siêu thị còn để ngắm
hoặc tham gia các tiện ích khác như: trò chơi điện tử…, nhiều người còn coi
việc đi siêu thị là hình thức giải trí cùng bạn bè người thân mỗi dịp cuối tuần.
Những điều này không thể thực hiện khi đi vào cửa hàng tiện ích.
Đối với các kênh truyền thống:
Giá cả ở cửa hàng tiện ích luôn cao hơn so với các kênh truyền thống như
chợ hay cửa hàng tạp hóa do phải cộng thêm các yếu tố tiện ích.
Đối với cửa hàng tạp hóa: Vốn đầu tư cho một cửa hàng tiện lợi lớn hơn
nhiều so với một cửa hàng tạp hóa, việc đào tạo nhân công, chăm sóc khách
hàng hay trang bị thiết bị hiện đại cũng tốn rất nhiều chi phí.
Đối với chợ: cửa hàng tiện lợi có không gian hẹp hơn và chắc chắn sẽ có
ít sự lựa chọn hơn cho khách hàng đặc biệt là đối với những loại mặt hàng rau,
củ, quả, thịt tươi sống
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hoạt động và phát triển của cửa hàng tiện
ích
4.1. Các nhân tố về khách hàng.
Thói quen tiêu dùng: là cách tiêu dùng được cố định dần dần từ hoàn cảnh
sống như: chỗ ở, đi lại, quy hoạch dân cư…đặc biệt là tính cách của người tiêu
dùng. Ví dụ: thói quen đi lại vào ban đêm, thói quen đi mua đồ ở chợ vào mỗi
sáng…Thói quen tiêu dùng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc
10
kinh doanh mô hình cửa hàng tiện ích nói riêng và đối với bất kỳ một hình thức,
một loại hình kinh doanh nào nói chung.
Nhu cầu tiêu dùng của người dân: một cửa hàng tiện ích chỉ có thể thành
công khi nó đáp ứng tốt những nhu cầu phù hợp với thói quen tiêu dùng của
tiện ích. Cửa hàng tiện ích là một loại hình kinh doanh hiện đại, thích hợp phát
triển ở những nền kinh tế hiện đại, có lối sống văn minh, hiện đại và năng động.
Các yếu tố về khoa học – kỹ thuật: khoa học kỹ thuật phát triển một mặt
tạo điều kiện cho loại hình kinh doanh cửa hàng tiện ích có điều kiện thuận lợi
để có thể nâng cao tính tiện ích trong dịch vụ của mình mặt khác giúp các doanh
nghiệp có thể quản lý cửa hàng cũng như chuỗi cửa hàng một cách hiệu quả hơn
từ đó tạo điều kiện để kinh doanh cửa hàng tiện ích một cách hiệu quả.
Yếu tố luật pháp: những vấn đề về chính sách, định hướng phát triển cho
nền kinh tế như thế nào, những quy định về đăng ký kinh doanh có đơn giản hay
không, thủ tục ra sao, thời gian nhanh hay chậm… tạo điều kiện thuận lợi hay
rào cản cho việc kinh doanh.
4.3. Những yếu tố xuất phát từ doanh nghiệp
Đặc điểm hàng hóa doanh nghiệp bày bán: tính đa dạng của hàng hóa,
chất lượng của hàng hóa, vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn…có tốt không, giá cả
hàng hóa ra sao, có phù hợp với đối tượng khách hàng mà cửa hàng muốn nhắm
tới hay không. Tất cả những yếu tố đó có ý nghĩa quyết định tới việc giữ chân
khách hàng, tạo ra khách hàng trung thành cho cửa hàng, giúp cửa hàng có thể
tồn tại lâu bền trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Cách thức trưng bày hàng hóa, thiết kế cửa hàng cũng là một yếu tố quan
trọng. Đây là hình ảnh đầu tiên tạo nên ấn tượng đối với khách hàng. Nếu như
chất lượng hàng hóa có thể tạo nên khách hàng trung thành cho cửa hàng thì
hình ảnh bắt mắt và thân thiện, phù hợp với tâm lý khách hàng sẽ rất hiệu quả
trong việc thu hút khách hàng ngay lần đầu tiên xuất hiện. Đây là điều kiện tiên
quyết đối với việc kinh doanh của cửa hàng.
Dịch vụ: một trong những thế mạnh nổi trội nhất của cửa hàng tiện ích đó
là dịch vụ tận tình, chu đáo, mang lại sự tiện ích nhất đối với khách hàng. Dó đó
cung cách, thái độ phục vụ của nhân viên là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng cạnh tranh của cửa hàng.
12
Thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều ưu điểm cũng như nhược điểm còn
tồn tại. Nhìn chung, có thể thấy một số đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, quy mô thị trường Việt Nam còn nhỏ so với một số nước xét theo
tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn như doanh thu bán
lẻ hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc cũng như Ấn Độ lớn hơn rất nhiều lần
của Việt Nam.
Bảng 2: Quy mô thị trường bán lẻ theo doanh thu.
Đơn vị tính: tỷ USD.
Năm
Việt Nam Trung Quốc Ấn Độ
2004 26 628 180
2005 32 670 215
2006 37 754 305
2007 45 848 320
2008 58 955 353
Nguồn: A. T. Kearney
Thứ hai, thị trường bán lẻ Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao. Tuy xét
về tổng mức doanh thu bán lẻ và diện tích mặt bằng bán lẻ thì thị trường bán
lẻ Việt Nam vẫn là thị trường có quy mô nhỏ nhưng phát triển rất nhanh,
tiềm năng lớn, có sức hấp dẫn đối với cả các nhà đầu tư trong nước lẫn các
nhà đầu tư nước ngoài.
14
Bảng 3: Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá
thực tế và tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Năm Tổng mức bán lẻ
và doanh thu dịch
vụ (tỷ đồng)
thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 270 nghìn tỷ đồng, tăng 21,9% so với cùng kỳ
năm 2008, bao gồm kinh doanh thương nghiệp 212,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23,5%;
khách sạn nhà hàng 30,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,8%; du lịch đạt 2,6 nghìn tỷ
đồng, tăng 16,8%; dịch vụ đạt 24,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%. Nếu loại trừ yếu
tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng
6,5%, thấp hơn mức tăng 11% của cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có tác động đến thị trường bán lẻ Việt Nam.
Thứ ba, thị trường bán lẻ Việt Nam bao gồm ba thành phần kinh tế cơ bản
đảm nhận. Một là, lưu chuyển hàng hóa bán lẻ cho hệ thống phân phối bán lẻ
quốc dân đảm nhận. Hai là, lưu chuyển hàng hóa do hệ thống phân phối bản lẻ
ngoài quốc doanh đảm nhận. Ba là, lưu chuyển hàng hóa bán lẻ do hệ thống
phân phối bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài đảm nhận. Tương ứng với ba bộ
phận này, cơ cấu tổng mức bán lẻ và dịch vụ qua các năm như sau:
Bảng 4: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ theo thành
phần kinh tế
Đơn vị: %
Năm Kinh tế nhà nước Kinh tế ngoài
quốc doanh
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
2000 17.8 80.6 1.6
2001 16.7 81.7 1.6
2002 16.2 79.9 3.9
2003 15.7 80.2 4.1
2004 15.0 81.2 3.8
2005 12.9 83.3 3.8
2006 12.7 83.6 3.7
2007 10.2 85.9 3.9
2008 11.7 86.0 2.3
Quý I/2009 8.9 88.1 3.0
doanh bán lẻ truyền thống vẫn là chủ yếu, lượng hàng hóa được lưu thông tại
các ngôi chợ và cửa hàng tạp hóa năm 2007 là 90%, năm 2008 là 68%.
Năm 2005, thị trường bán lẻ Việt Nam có khoảng 9063 chợ ở nông thôn,
2275 chợ ở thành thị, hơn 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại và 1000 cửa
hàng tiện ích hoạt động trên 32 tỉnh thành, ngoài ra còn khoảng 9000 cửa hàng
tạp hóa hoạt động trên cả nước. Đến năm 2008, số siêu thị đã tăng lên 400, 60
17
trung tâm thương mại, 2000 cửa hàng tiện ích, và hàng ngàn cửa hàng tiện ích
được nâng cấp từ cửa hàng tạp hóa. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng như hiện
nay, thị trường bán lẻ Việt Nam được dự báo đến 2009 thương mại hiện đại sẽ
tăng trưởng nhanh và chiếm gấp đôi so với hình thức chợ.
Tuy nhiên, có một vấn đề hết sức cấp bách đối với ngành bán lẻ Việt Nam
hiện nay là vấn đề thiếu mặt bằng. Để đưa sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng,
các doanh nghiệp bán lẻ phải thông qua hệ thống riêng của mình, vì vậy vấn đề
mặt bằng, địa điểm bao giờ cũng rất quan trọng và là ưu tiên số một của các nhà
bán lẻ Việt Nam.
Hiện các doanh nghiệp Việt Nam đang rất khó khăn trong việc đi tìm vị
trí kinh doanh. Thực tế là vừa qua, dù 4 đại gia bán lẻ lớn trong nước là: Sai
Gon Coop, Phú Thái, HapPro và Satra đã bắt tay thành lập Cty cổ phần VDA
với tham vọng sẽ chiếm lĩnh 60% thị phần trong nước và góp phần điều tiết giá
cả, nhưng khó khăn lớn nhất mà họ đang gặp phải vẫn là việc tìm kiếm, xin
được vị trí thuận tiện để kinh doanh tại các tỉnh, thành trên toàn quốc.
Theo một công bố mới nhất vào cuối năm 2008 của CB Richacrt Eliss
Việt Nam (CBRE) - một trong những Cty tư vấn và quản lý bất động sản có
tiếng cho thấy: tại Hà Nội, nguồn cung diện tích sàn cho các nhà bán lẻ trong và
ngoài nước thuê hiện có khoảng 100.000 m2, thấp hơn nhiều so với nhu cầu.
Mức giá thuê tại khu vực trung tâm thường dao động khoảng từ 65 - 150
USD/m2/tháng, tại các vị trí xa hơn khoảng 25 - 60 USD/m2/tháng. Nếu so sánh
và lúng túng trong việc tìm ra giải pháp chính xác và cụ thể để tồn tại và phát
triển.
2. Các loại hình kinh doanh bán lẻ ở Việt Nam
Tuy thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất nhỏ lẻ, manh mún, xong cũng
được nhận xét là “ thế giới có cái gì thì Việt Nam có cái đó”. Các loại hình bán
lẻ của Việt Nam cũng bao gồm loại hình hiện đại và loại hình kinh doanh truyền
thống.
Thứ nhất: Loại hình đại siêu thị là một loại hình phân phối hiện đại, chưa
được hình thành rõ rệt ở Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ tồn tại duy nhất
Big C Đồng Nai là mang dáng dấp của đại siêu thị, tuy nhiên quy mô vẫn còn
nhỏ hơn rất nhiều so với các đại siêu thị ở nước ngoài. Hiện nay, loại hình kinh
doanh đại siêu thị cũng rất có tiềm năng phát triển ở nước ta, song có một vấn đề
hết sức khó khăn là về mặt bằng và tiền vốn.
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hệ thống các trung tâm của tập đoàn Metro
Cash and Carry mang dáng dấp như một đại siêu thị, tuy nhiên lại không phải là
19
đại siêu thị vì đối tượng khách hàng chính mà Mêtro nhắm tới là các tổ chức,
các doanh nghiệp sản suất hay những người kinh doanh mua hàng hóa là để bán
chứ không phải là người tiêu dùng cuối cùng, hay nói cách khác đó là các trung
tâm bán buôn chứ không phải bán lẻ như các đại siêu thị.
Thứ hai: Loại hình siêu thị, ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 400 siêu
thị rải khắp các tỉnh thành kể cả siêu thị trong nước lẫn siêu thị của nước ngoài.
Ví dụ: siêu thị Hapromart, Fivi-mart, Co.op mart, Big C, … Tuy nhiên, các siêu
thị này thường có quy mô rất nhỏ mà theo các chuyên gia đánh giá thì nó chỉ
tương đương với những cửa hàng bách hóa ở các nước khác, và mới chỉ dừng ở
mức độ các cửa hàng tự chọn chứ chưa phải là tự phục vụ, đúng với nghĩa của
"Supermarket". Đa số các siêu thị có danh mục hàng tương đối phong phú song
xét về chủng loại thì vẫn còn nghèo nàn. Chất lượng hàng hóa trong siêu thị nhìn
chung tốt. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng người tiêu dùng mua phải hàng quá
Trung tâm thương mại có diện tích kinh doanh gần 33.400 m2, vốn đầu tư 75
triệu đô la Mỹ này là liên doanh giữa Lotte Mart và doanh nghiệp tư nhân sản
xuất thương mại Minh Vân. Hai bên lên kế hoạch sẽ mở 30 trung tâm thương
mại khắp các thành phố lớn của Việt Nam trong vòng 10 năm tới với tổng vốn
đầu tư lên đến 5 tỉ đô la Mỹ. Trước đó, vào đầu năm 2008, Công ty Cổ phần đầu
tư phát triển Saigon Co.op (SCIC) cũng ký hợp tác xây dựng khu phức hợp
thương mại dịch vụ Tân Phong cùng 2 đối tác là Tập đoàn Mapletree
(Singapore) và Tổng công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn (SAMCO). Khu
phức hợp Tân Phong (Tân Phong Shopping Complex) đặt tại quận 7 - TP.HCM
với diện tích hơn 4,2 ha tương đương 42000m2, cùng tổng vốn đầu tư khoảng
200 triệu USD. Bao gồm khu kinh doanh thương mại, siêu thị Coopmart, cao ốc
văn phòng và nơi vui chơi, giải trí của người dân, nhất là giới trẻ. Tuy nhiên, đây
mới chỉ là dự án và chưa được hoàn thành.
Đối với loại cửa hàng tiện lợi: loại mô hình này ở Việt Nam bắt đầu bùng
nổ từ năm 2006. Trước đó, Massan cũng đã từng kinh doanh nhưng đã thất bại.
Hiện nay, có khoảng 2000 cửa hàng tiện ích đang hoạt động ở khắp các tỉnh
thành, bên cạnh đó là hàng ngàn các cửa hàng mới được nâng cấp lên từ các cửa
hàng tạp hóa trước đây. Các cửa hàng tiện ích tiêu biểu nhất như: G7mart,
Speedy, co.op, shop$go …riêng về cửa hàng tiện ích sẽ được phân tích cụ thể
trong phần II.
Bên cạnh sự phát triển của các cửa hàng tiện ích. Các cửa hàng chuyên
doanh hiện nay cũng đang được các doanh nghiệp chú ý đến như: chuyên doanh
cửa hàng thực phẩm, chuyên doanh cửa hàng điện thoại, chuyên doanh cửa hàng
điện tử, các cửa hàng bán quần áo…ví dụ như cửa hàng thực phẩm co.op food
Hiện nay, loại hình kinh doanh này đang được coi là phù hợp và có tiềm năng
21
phát triển do thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng trẻ tuổi Việt
Nam. Thị phần loại hình kinh doanh này tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 14,4%
thị trường bán lẻ.
khoảng 9000 cửa hàng và đến năm 2008 con số này đã vượt qua con số 10.000
cửa hàng. Tuy nhiên, loại hình cửa hàng này ở nước ta cũng phát triển một cách
tự phát, mạnh ai nấy làm, thiếu tính quy hoạch và thiếu tính liên kết do đó sẽ
khó có thể cạnh tranh được với trình độ quản lý và công nghệ hiện đại của các
doanh nghiệp nước ngoài khi họ vào kinh doanh.
Ngoài ra, còn có rất nhiều gánh hàng rong, xe đẩy hàng, là những loại
hình rất điển hình ở Việt Nam, nhờ mang tính thuận tiện cao, nên các loại hình
này cũng rất được khách hàng ưa chuộng. Tuy nhiên, việc các loại hình này phát
triển một cách tự do có thể làm nguyên nhân gây ra mất an ninh, mất cảnh quan,
gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông…đòi hỏi phải có sự tính toán và quy
hoạch phù hợp.
II. Thực trạng kinh doanh cửa hàng tiện ích tại Việt Nam.
1. Khái quát về kinh doanh cửa hàng tiện ích ở Việt Nam.
Loại hình cửa hàng tiện ích bắt đầu bùng nổ ở Việt Nam từ năm 2006 với
sự mở đầu là quyết định và hành động táo bạo của Trung Nguyên trong dự án
xây dựng chuỗi cửa hàng tiện ích G7 mart. Nếu như cuối năm 2005 Việt Nam có
khoảng 1000 cửa hàng tiện lợi hoạt động thì hiện nay con số đó là 2000 cửa
hàng với khoảng 10 hệ thống, đa số được ra đời trong khoảng 2-3 năm trở lại
đây như : Hapromart, best and buy, co.op, small mart 24/7, 365 days, V-24h,
shop$go, speedy…và tình hình cạnh tranh đang diễn ra hết sức sôi động. Mỗi hệ
thống lại có một điểm khác biệt riêng:
Co-op Mart coi cửa hàng Co-op là cánh tay nối dài. Tận dụng hệ thống
cửa hàng của các hợp tác xã thành viên, Co-op đào tạo bán hàng, bày hàng, quản
lý và phân phối hàng với giá rẻ để nâng cấp thành cửa hàng Co-op có người
phục vụ, bán hàng chất lượng theo đúng giá. Hiện nay, chuỗi cửa hàng co.op có
khoảng 34 cửa hàng hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty G7 cũng làm tương tự với hệ thống tiệm tạp hóa, cộng thêm việc
đem lại lợi nhuận cho các cửa hàng này bằng hệ thống biển quảng cáo cho các
hãng sản xuất, dịch vụ ngân hàng
doanh của loại hình kinh doanh này, sau đây sẽ là một số phân tích về một vài
hệ thống cửa hàng cụ thể.
2. Một số hệ thống cửa hàng tiện ích tiêu biểu
2.1. Hệ thống cửa hàng tiện ích G7mart.
2.1.1. Ý tưởng của G7mart.
Trong xu thế hội nhập, việc mở cửa thị trường bán lẻ là tất yếu, trong khi
đó, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhỏ lẻ manh mún, cần phải được tổ
chức, sắp xếp lại, hiện đại hóa các hình thức kinh doanh, liên kết lại thành một
hệ thống phân phối nội địa hiện đại, có như vậy mới có thể cạnh tranh được với
các doanh nghiệp nước ngoài.
Trong hoàn cảnh đó, năm 2006 công ty trách nhiệm hữu hạn G7 được
thành lập với số vốn đầu tư 395 triệu USD để trở thành hệ thống cửa hàng tiện
ích đầu tiên do doanh nghiệp trong nước thực hiện nhằm hỗ trợ và phát triển
thương hiệu Việt dựa trên ý tưởng “ kết hợp và tối ưu hóa phân phối với hệ
thống bán lẻ với lưu lượng hàng hóa luân chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu
dùng cuối cùng lớn nhất Việt Nam hiện nay là các cửa hàng tạp hóa”.
Ý tưởng khác biệt của G7 là xây dựng chuối cửa hàng tiện lợi dựa trên
nền sản xuất sẵn có của các cửa hàng tạp hóa cũ, nhân lực tại chỗ là chủ và gia
đình chủ cửa hàng. Theo đó, các cửa hàng tạp hóa sẵn có sẽ được nâng cấp, điều
chỉnh và thống nhất nguyên tắc hoạt động và công nghệ phục vụ, bán hàng sau
đó sẽ cho gắn nhãn hiệu G7mart. Như vậy sẽ vừa tiết kiệm được chi phí công
sức, vừa phù hợp với mức sống, tập quán cửa người Việt Nam là quen mua sắm
ở các cửa hàng tạp hóa.
Như vậy, G7 đã đánh vào thị trường nhỏ lẻ, gần khu dân cư, và theo hình thức
này, G7 sẽ liên kết với cả các nhà phân phối, các nhà sản xuất trong nước, tạo
nên một hệ thống phân phối thống nhất hoàn chỉnh. Tham vọng của G7 là hệ
thống G7 mart sẽ hỗ trợ mạnh mẽ chiến lược thương hiệu Việt và sẽ trở thành
một hệ thống phân phối địa phương đối trọng với các tập đoàn phân phối nước
ngoài.
Tuy nhiên, G7 mart đã chưa làm được điều này.