ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
VẬN DỤNG QUAN NIỆM VỀ KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC TINH THẦN KHOAN DUNG
NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT QUA GIẢNG
DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Giảng viên hướng dẫn
: T.S Dương Anh Hoàng
Sinh viên thực hiện
: Trần Thị Phương Dung
Lớp
: 09SGC
Đà Nẵng, tháng 05/2013
LỜI CẢM ƠN
***
Sau bốn năm học tập, việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp là khâu quan
trọng đặc biệt. Có được kết quả như ngày hôm nay, ngoài sự cố gắng nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều phía.
Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là khi chúng ta thực hiện nền
kinh tế mở cửa có rất nhiều luồng văn hóa mới du nhập vào, thêm vào đó là mặt
trái của cơ chế thị trường đã có nhiều tác động tiêu cực đối với việc xây dựng đời
sống đạo đức của xã hội. Điều đáng buồn ở đây là đạo đức ở lứa tuổi học sinh trung
học phổ thông ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Con người ngày càng chật vật
với cuộc sống cơm áo gạo tiền mà quên đi sự giáo dục đạo đức lối sống cho thế hệ
trẻ hiện nay, để rồi những hành vi vi phạm pháp luật của các em ngày càng gia tăng
do những mâu thuẫn không kịp thời giải quyết, tình trạng bạo lực học đường ngày
càng xảy ra phổ biến, quan hệ giữa thầy trò, cha mẹ và con cái cũng ngày càng mờ
nhạt đi do sự bất đồng về quan điểm, suy nghĩ mà thiếu đi sự lắng nge và cảm
thông…
Những điều này đã thật sự gióng lên hồi chuông cảnh báo về lối sống, đạo đức
của giới trẻ ngày nay. Trong khi đó yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn
mới đang đặt thế hệ trẻ, học sinh phổ thông vào vị trí xung kích. Xã hội đặt rất
nhiều kỳ vọng vào sự đóng góp của thế hệ này đối với sự nghiệp của nước nhà.
Vì vậy, đánh giá đúng thực trạng và có biện pháp đúng đắn nhằm giáo dục
cho thế hệ trẻ là một công việc cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn. Với ý nghĩa đó,
việc tìm hiểu: “Vận dụng quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh
vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông qua giảng dạy môn Giáo Dục Công Dân” không những có ý nghĩa
về mặt lý luận mà cả trong đời sống thực tiễn của nước ta. Đó chính là lý do để em
chọn làm đề tài khóa luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung là một yếu tố rất cần thiết
để hoàn thiện đạo đức, nhân cách của con người và đáp ứng được yêu cầu của tình
hình mới. Có thể kể đến một số tác phẩm, bài viết khái quát đề cập đến khoan dung
trong tư tưởng Hồ Chí Minh như:
- Dương Tùng (2003): “Hồ Chí Minh - một con người- một nhân cách”, Tạp
quan niệm về khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó vận dụng quan niệm
của Người vào việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học
sinh phổ thông qua giảng dạy môn Giáo Dục Công Dân.
- Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành quan niệm về khoan
dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Làm rõ chiều sâu quan niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người.
+ Nêu bật lên tầm quan trọng của việc giáo dục tinh thần khoan dung trong tư
tưởng Hồ Chí Minh cũng như vai trò của nhà trường và bộ môn Giáo dục Công
dân đối với việc giáo dục tinh thần khoan dung nhằm nâng cao đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông.
+ Thực trạng và giải pháp cùng với những ý kiến đề xuất việc vận dụng quan
niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người vào việc giáo dục tinh thần khoan
dung nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạy môn
Giáo dục Công dân.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Cơ sở của đề tài là dựa trên nền tảng Chủ Nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng.
7
- Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp lịch sử cụ thể
+ Phương pháp lôgic
+ Phương pháp khái quát hóa
+ Phương pháp điều tra, thống kê xã hội học
5. Nét mới của đề tài
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các tác giả, người viết khóa luận
dung trong tư tưởng của Người.
Khoan dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thể hiện toàn bộ những suy
nghĩ, tình cảm của Người đối với toàn thể nhân loại, với mọi kiếp người, không kể
đến họ là ai và nó luôn chi phối suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, một
cuộc đời luôn đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc
của nhân dân và đấu tranh không ngừng với cái ác để bảo vệ lợi ích cho những
người lương thiện.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về khoan dung được hình thành từ
thực tế hoàn cảnh sống và sự chiến đấu của bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự
kế thừa một cách sáng tạo của truyền thống dân tộc, quê hương và gia đình.
Truyền thống khoan dung của dân tộc.
Tinh thần khoan dung thấm đẫm trong truyền thống dân tộc Việt Nam được
xây dựng và đúc kết trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, được hình thành từ
quá trình dựng nước và giữ nước, luôn luôn phải đương đầu với thiên tai, lũ lụt, bão
táp đến hạn hán, rồi sâu bệnh, gió mùa... nên phải thương yêu, đoàn kết với nhau để
chống thiên tai. Từ buổi đầu lập quốc, dân tộc ta đã phải liên tục đứng lên, kiên
cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc trước sự
tàn bạo của kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Sức mạnh của dân tộc ta
không chỉ là tinh thần đoàn kết mạnh mẽ, lòng yêu nước sâu sắc và mãnh liệt, ý chí
chiến đấu kiên cường, bất khuất, quyết chiến, quyết thắng với tinh thần tha thiết với
nền độc lập, hòa bình mà còn ở tinh thần nhân ái, khoan dung với đồng loại.
Truyền thống khoan dung của dân tộc là tình thương yêu vô hạn đối với con
người: những cụ già cô đơn, trẻ em cơ nhỡ và tật nguyền, những số phận không
9
may mắn, những cảnh đời oan nghiệt... Con người Việt Nam từ tuổi ấu thơ đã thấm
nhuần tinh thần khoan dung qua lời ru của những bà mẹ. Lớn lên, họ được sống
trong tình chan hòa trong tình tương thân, tương ái của xóm làng. Và để giữ lấy hòa
Bên cạnh đó, tính chất khoan dung còn thể hiện rất rõ trong mối quan hệ giữa
con người với nhau không kể dân tộc, đẳng cấp, chủng tộc, tôn giáo,… Đó là mối
quan hệ cao quý nhất của cuộc sống và nó cũng làm nên giá trị nhân văn của truyền
thống dân tộc. Chính vì vậy, khi tình thế bắt buộc phải dùng vũ lực để bảo vệ đất
nước, đến khi chiến thắng, dù căm thù quân xâm lược bao nhiêu chăng nữa, kể cả
từng có khi “căm giặc nước thề không cùng sống”, nhưng khi đất nước đã được
yên bình, độc lập thì thái độ ứng xử của dân tộc Việt vẫn là khoan dung đối với kẻ
thù bại trận để : “thể lòng trời tỏ lượng hiếu sinh”. Điều này thể hiện rõ nhất hành
động mang tính chất khoan dung của dân tộc ta và được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế
thừa, phát huy với hình ảnh trọn vẹn và sinh động nhất.
Nội dung cơ bản của truyền thống khoan dung dân tộc Việt nam là: Tiếp nhận
và thâu hóa những giá trị tích cực, phù hợp, đồng thời có sự tôn trọng, không kỳ
thị, bài bác những yếu tố khác biệt với mình để cùng nhau chung sống, đoàn kết,
bảo vệ và xây dựng đất nước. Với truyền thống khoan dung của dân tộc, khoan
dung Hồ Chí Minh là sự thăng hoa của truyền thống tốt đẹp ấy và nâng nó lên một
tầm cao mới, mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.
Khoan dung không chỉ thể hiện tính cách của người Việt Nam, đã được thử
thách qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước mà được nâng lên thành giá trị
đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, truyền thống khoan dung, văn
hóa khoan dung. Gía trị truyền thống ấy được hình thành trong hệ thống ứng xử, tổ
chức đời sống xã hội, đường lối chính trị, xử lý văn hóa và ngày càng trở nên giá trị
phổ biến.
Truyền thống khoan dung của dân tộc, đó như là một giá trị cơ bản trong cuộc
sống tinh thần của mỗi con người. Và Hồ Chí Minh là một biểu hiện của sự khoan
dung, cao hơn là sự mẫu mực về tinh thần khoan dung. Khoan dung ở Hồ Chí Minh
cũng được biểu hiện rất đa dạng, chân thực. Đây là một giá trị đạo đức mà ý nghĩa
và tầm ảnh hưởng của nó không giới hạn ở lĩnh vực luân lý thuần túy. Ngược lại,
nó được lan tỏa, trải rộng trong mọi biểu hiện ở nhân cách Hồ Chí Minh mà tập
trung nhất là trong lĩnh vực chính trị, trong lối ứng xử với mọi người, với các dân
của học thuyết Khổng Tử. Lớn lên, Người đã chứng kiến cuộc sống thực của cha,
12
của anh chị và họ hàng thân thuộc, về những tấm gương hy sinh vì nước, vì dân đã
để lại trong tâm trí Người những ấn tượng đầy sự cảm phục và quý mến.
Sinh thời Bác Hồ của chúng ta luôn thấu hiểu và trăn trở trước cảnh lầm than,
nghèo khổ của đất nước, của sự áp bức, bị bóc lột đến tận xương tủy của đồng bào
ngay trên mảnh đất, quê hương mình. Xuất phát từ nổi trăn trở, thương xót của một
trái tim cao cả, vĩ đại đã thôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Với
tri thức bách khoa về con người và thực tiễn tuyệt vời của cuộc sống đã dần dần
hình thành giá trị quan niệm về khoan dung trong tư tưởng của Người.
Như vậy, với nổi thấu hiểu cảnh cùng cực của người dân mất nước, nô lệ, của
những người cùng khổ, tình yêu thương con người của Người rộng mở đối với tất
cả mọi người với một lòng khoan dung độ lượng rộng lớn, sâu sắc. Chính vì vậy
đã thôi thúc Người đi đến hành động để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh
phúc cho nhân dân, cho những người lương thiện khi bị cái ác chà đạp.
1.1.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
* Tinh hoa văn hóa phương Đông
- Nho giáo:
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta dễ dàng nhận thấy những yếu tố nhân
bản, nhân đạo của Nho giáo và trong quan niệm về khoan dung của Người đó là sự
kế thừa từ chữ “Nhân ” trong tư tưởng của Khổng Tử.
Chữ “Nhân” trong tư tưởng của Khổng Tử đó là “trung thứ” với nội dung là:
Cái để suy ta ra người, được xem như một biểu hiện gần gũi nhất của nhân, không
chấp nhặt quá khứ bất hảo của người khác. Đó là sự cung kính, khoan dung, thành
tín, cần mẫn và có ân huệ. Cung kính thì không khinh nhờn; khoan dung thì được
lòng mọi người; thành tín thì được người tín nhiệm; cần mẫn thì nên công; có ân
huệ thì dễ sai khiến người. Như vậy, khoan dung vừa là phương pháp, vừa là
phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp, đặc biệt là lối sống không xa rời, lẩn tránh
mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào
cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.
Người nhấn mạnh về sự gắn bó, tác động qua lại giữa việc giải quyết nhiệm
vụ dân tộc là giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân và các
thế lực thù địch với sự thực hiện lý tưởng nhân đạo của Phật giáo.
14
Người viết: “Phật giáo Việt Nam đối với dân tộc như bóng với hình, tuy hai
mà một”. Một chỗ khác Người nói rõ: “Hiến pháp ta luôn tôn trọng tự do tín
ngưỡng thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện. Nước có độc lập thì
Phật giáo mới được mở mang… đồng bào Phật giáo lại đoàn kết hy sinh của cải,
xương máu kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc
dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Thế là
chúng ta theo dòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca. Kháng chiến để đưa
giống nòi ra khỏi cửa ải nô lệ” [13, 408].
Người đặt ra nhiều hy vọng vào sự nổ lực của tăng ni phật tử và đồng bào
Phật giáo trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con
người. Suốt cả cuộc đời mình, Người đã lấy việc hy sinh quyền lợi riêng làm sự
nghiệp mưu cầu hạnh phúc cho con người. Tấm gương đó gợi ta nhớ đến đức hy
sinh của Đức Phật. Và điều khác biệt ở đây là Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng ấy
thành hành động thực tiễn. Người đã chỉ ra con đường giải phóng cho dân tộc trong
đó có cả tăng ni phật tử. Và Người sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn, khó nhọc,
không ham danh lợi, cao sang phú quý để trọn đời mình vì nghĩa lớn: “Nước được
độc lập, người dân được tự do”.
Như vậy, tất cả mặt tích cực của Phật giáo đã để lại dấu ấn trong tư duy hành
động, đi vào cách ứng xử trong đời sống tinh thần và nhân dân lao động. Gia đình
Hồ Chí Minh là gia đình nhà Nho, sống gần gũi với nhân dân, người lao động nên
mảnh đất của kẻ xâm lược dân tộc mình.
Đến với quê hương của lý tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, Hồ Chí Minh
được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rútxô, Mông-tét-xki-ơ,… những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789 như: Tinh
thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô,… tư tưởng dân chủ
của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Người còn tiếp thu
lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý trong trong Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của Pháp năm 1791. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ
và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn.
Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt
trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V.
16
Cu-tuya-ri-ê, G. Mông-mút-xô… mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con
người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ
của thời đại, Đông và Tây, vừa thông thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri
thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
Rõ ràng là: Ở Pháp Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một
cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.
Khi xuất dương, Người cũng đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê
và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người
thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người
được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị
của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong
bản tuyên ngôn này. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới
trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945. Mở đầu bản Tuyên ngôn,
Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc
nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Trong những tháng năm dừng chân tại nhiều nước châu Âu, châu Phi và Mỹ
thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên
thế giới.
Có thể nói rằng: Giải phóng dân tộc, giải phóng con người trở thành mục tiêu
cao cả trong suốt cuộc đời hoạt động, đấu tranh cách mạng của Hồ Chí Minh.
Người thấu hiểu sâu sắc giá trị của con người, trước hết là con người Việt Nam. Để
tập hợp đông đảo lực lượng quần chúng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người
chủ trương thức tỉnh cả đến phần ít ỏi của lương tri còn sót lại trong những con
người tội lỗi.
1.1.3. Giá trị nhân văn cộng sản chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là đỉnh cao của tư duy nhân loại, là thế giới quan,
phương pháp luận khoa học và cách mạng, là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động, của các Đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ
mọi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa.
18
Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra nguồn gốc của niềm đau khổ con người, vạch rõ con
đường khoa học, tất yếu đưa đến sự giải phóng triệt để và vĩnh viễn của toàn thể
loài người. Trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa nhân đạo thống nhất với chủ nghĩa
cộng sản. Nó vạch ra mục tiêu giải phóng triệt để con người.
Hồ Chí Minh đã tin theo chủ nghĩa cộng sản từ khi Người gia nhập vào Đảng
Xã hội Pháp. Nhưng chỉ sau khi Người đọc được Bản Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo
L’ Humanite, số ra ngày 16 và 17-7-1920. Tác phẩm của Lênin đã giúp Người
tìm ra được con đường giải phóng dân tộc và tự do cho đồng bào mình. Người như
hạnh phúc, sung sướng lên nhiều khi được đọc tác phẩm này của Lênin. Sau này,
khi được kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “… Luận cương của Lê nin
đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!... Ngồi một
chủ nghĩa nhân bản xã hội hóa, nâng cao, bổ sung, phát triển các nhân tố nhân đạo
trong lý thuyết và trong hiện thực lịch sử của nhân loại xưa nay chứ không có sự
phủ định sạch trơn. Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản xuất hiện như một quá trình lịch
sử tự nhiên, hợp quy luật lịch sử. Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản được hình thành,
gắn liền với việc xóa bỏ xã hội tiền tệ, xóa bỏ áp bức bóc lột và bất công.
Nói tóm lại: Chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng nhân đạo hiện thực với bản
chất của nó là phép biện chứng duy vật, thực tiễn. Ở đó, tính nhân loại, tính dân
tộc, tính giai cấp công nhân thống nhất trong mối quan hệ hài hòa nhưng chặt chẽ
với nhau. Đây là một học thuyết, tư tưởng về con người và sự nghiệp giải phóng
con người, phát triển con người với tư cách là thực thể tự nhiên xã hội.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin, là quá trình đi từ truyền thống nhân ái, khoan dung của dân tộc đến chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản. Và khoan dung trong tư tưởng của Người đã mở ra một
giai đoạn mới của truyền thống khoan dung dân tộc Việt Nam. Ngay từ khi Hồ Chí
Minh tiếp thu lý luận Mác - Lênin đã giữ vai trò quan trọng quyết định, là cơ sở lý
luận giúp Người nhận thức được những vấn đề trong truyền thống khoan dung của
dân tộc và nâng cấp giá trị truyền thống này lên một tầm cao mới. Chính vì vậy,
Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cẩm nang” thần kỳ, là “kim chỉ nam”, là
“mặt trời” soi sáng con đường đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong tác phẩm “
20
Đường cách mệnh” (1927), Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ
nghĩa Lênin” [20, 268].
Nói về nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã viết: Học
thuyết Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức, Cơ đốc giáo có ưu điểm là lòng
nhân ái, chủ nghĩa Mác- Lênin có ưu điểm là phép biện chứng trong công việc, chủ
nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với Việt Nam. Khổng
Tử, Chúa Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên có ưu điểm chung là nghĩ đến nhân loại, mưu
đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể của các
quốc gia và thời đại để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực
tiễn, làm cho lý luận có giá trị khách quan, tính cách mạng và khoa học. Nguyễn Ái
Quốc luôn xác định một dân tộc biết bảo vệ tự do của mình thì đồng thời cũng tôn
trọng tự do của dân tộc khác, biết đấu tranh vì quyền tự quyết của mình thì cũng
ủng hộ những dân tộc khác vì mục đích như thế. Ngược lại, nếu nhân danh nhân
quyền, dân chủ, tự do, mà chà đạp quyền làm người của dân tộc khác, áp đặt khuôn
mẫu giá trị của mình ra ngoài biên giới, thì đó là sự xuyên tạc các giá trị nhân loại.
Theo Nguyễn Ái Quốc, sự cộng sinh, sự cùng chung sống giữa các dân tộc,
chỉ có thể hiểu như sự tôn trọng lẫn nhau và cùng phát triển. Từ điểm xuất phát
này, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Quốc tế Cộng sản, và từ việc tiếp xúc với Luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã làm
giàu thêm truyền thống dân tộc, một khi nội dung của khoan dung được xác định,
và trở thành yếu tố hòa giải, tập hợp lực lượng, trong cuộc đấu tranh vì những giá
trị của dân tộc.
Như vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên tìm đường cứu nước, trong hành
trang tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, khoan dung đã thực sự có tác dụng lớn, nhất
là khi Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và một lần nữa, phấn đấu để đạo lý
khoan dung từng bước biến thành những nội dung tư tưởng cụ thể.
Sự tiếp thu và diễn đạt tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về tinh thần quốc
tế vô sản cũng được Hồ Chủ tịch diễn đạt hoàn toàn theo tinh thần của Nho gia:
“Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” . Câu nói này
chứa đầy ý nghĩa, nó vừa là sự phỏng theo quan niệm của Nho gia về “tứ hải giai
huynh đệ”, đồng thời lại thể hiện luôn cả khẩu hiệu lớn lao của thời đại ngày nay:
“Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!”. Đây là sự biểu hiện của sự hòa hợp sâu sắc
giữa tư tưởng “Đại Đồng” của Khổng Tử và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả của
22
chủ nghĩa Mác trong con người Hồ Chí Minh. Người viết: “Hiểu chủ nghĩa Mác Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống
Ở phương Tây: Khoan dung có nguồn gốc chung là từ tiếng Latinh
(Tolerantia) sau đó được phổ biến sang các thứ tiếng khác thuộc hệ ngữ Latinh
(chẳng hạn tiếng Anh là Tolerance, tiếng Pháp - Tolérance, tiếng Đức - Toleránz).
Thuật ngữ này được dịch sang tiếng Việt thông qua Hán ngữ tolerance được biểu
đạt bằng nhiều từ khác nhau như bao dung, độ lượng, khoan dung.
Khoan dung gốc từ tiếng Latinh là tolerantia, có nghĩa là phẩm chất đặc trưng
cho thái độ đối với những người khác cũng như đối với cá nhân có phẩm giá bình
đẳng với mình và thể hiện việc tự giác đè nén cảm giác tức giận sinh ra từ tất cả
những gì thể hiện cái khác mình thể hiện ở người khác từ ngoại hình, lối nói, thị
hiếu, lối sống đến niềm tin,… Thuật ngữ tolerantia trong tiếng Latinh còn có hàm
nghĩa khác là chịu đựng, nhẫn nhục và kiên tâm một cách thụ động, là tự nguyện
đón nhận một đau khổ thường liên tưởng thái độ đối với các hiện tượng thuộc các
thuật ngữ như đau khổ, cái ác…
Đến nay khoan dung đã được hiểu căn bản là lập trường cho phép thừa nhận
và tôn trọng sự khác biệt, là quy tắc đạo đức tất yếu dẫn tới việc tìm kiếm khả năng
và giải quyết khả năng, giải quyết xung đột và mâu thuẫn thông qua sự thừa nhận
quyền của người khác hoặc thông qua những người nào đó có quan điểm, tín
ngưỡng, hình thức ứng xử khác với chúng ta.
Ở phương Đông: Khoan dung ban đầu được dùng như một khái niệm thuần
túy đạo đức. Xuất phát từ lòng nhân nghĩa, người ta kêu gọi cần có sự đối xử nhân
từ, rộng lượng đối với người khác, sẵn sàng bỏ qua cho những sai lầm, tội lỗi của
người khác. Trên ý nghĩa đó, khoan dung đồng nghĩa với bao dung, nó mang tính
cách bề trên, có màu sắc đẳng cấp Nho giáo.
Trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, “khoan dung” được sử dụng
đồng nghĩa với “bao dung”, trong đó “khoan” là rộng rãi, dung được nhiều, độ
lượng rộng; và “dung” là tiếp nhận, bao chứa, bao bọc. Do vậy, “khoan dung”
được hiểu là rộng lòng bao dung, là khoan thứ, vị tha. Đại từ điển tiếng Việt cũng
nhất trí với cách giải thích này .
24
25
Từ những khái niệm trên, có thể khẳng định rằng: Khoan dung không chỉ là
việc nắm lấy những nguyên tắc sống cơ bản, mà còn là điều kiện cho hòa bình, cho
phát triển kinh tế và cho sự tiến bộ xã hội. Khoan dung phải ăn sâu không chỉ trong
tâm trí của mọi người như một thái độ ứng xử, mà cả trong những cách bố trí của
sự vận hành xã hội và chính trị, chi phối và tạo dựng những mối quan hệ giữa con
người với con người. Khoan dung không chỉ thuộc về đạo đức của mỗi cá nhân, mà
còn thể hiện tinh thần yêu hòa bình của mỗi dân tộc.
Khoan dung hẳn không phải là nét riêng của dân tộc này hay dân tộc khác, mà
được hình thành từ lịch sử của nhiều dân tộc trong cuộc mưu sinh và bảo vệ phẩm
giá của mình. Dân tộc ta từ xưa đã làm cho yếu tố này trở thành phổ biến trong hệ
thống ứng xử và đánh giá đối với quan hệ bên trong lẫn quan hệ đối ngoại. Điều
này bộc lộ rõ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc đi trước, thực
hiện sự sàng lọc nghiêm túc, dần dần biến thành cái của chính mình.
Tóm lại, khoan dung là sự tôn trọng quyền tự do của người khác về niềm tin
tôn giáo cũng như về các quan điểm chính trị, triết học, là cách nhìn rộng lượng với
những cái khác biệt, là chấp nhận đối thoại về giá trị trong sự đa dạng của các nền
văn hóa để cùng tồn tại và phát triển.
Trên cơ sơ nhận thức tất cả mọi người đều bình đẳng về phẩm chất, nhưng
mỗi người lại có cách suy nghĩ và niềm tin khác nhau, chính sự khác nhau đó là
nhân tố làm nên sự phong phú cho nền văn hóa mỗi dân tộc và toàn bộ nền văn
minh nói chung, do đó khoan dung là sự đòi hỏi một thái độ hài hòa khác biệt để
cùng nhau tồn tại và phát triển.
Mặt khác khoan dung đòi hỏi chống lại mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, tôn giáo,
tuyệt đối hóa các giá trị của riêng mình, đi tới bỉ án, đàn áp, chống lại niềm xác tính
của người khác, áp đặt những giá trị xa lạ với truyền thống, bản sắc văn hóa của
dân tộc họ.