Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ SỢI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XĂ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN NAY
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 27

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XĂ HỘI CHỦ NGHĨA
HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2012 97
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 11
CHƢƠNG 1 - TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP

giáo dục đạo đức, xây dựng nâng cao đạo đức cán bộ, đẩy mạnh đấu
tranh và phòng chống tham nhũng 77
2.2.4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 83
2.2.5 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong cải cách nền hành chính
quốc gia, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh 85
Kết luận chƣơng 2 88
C. KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

3
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ
nghĩa Mác-Lênin đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
trong thế kỷ XX. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường
xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh” và Đảng ta cũng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác-
Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là tư tưởng về
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân

Chính vì thế tác giả chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền rất rộng, nhiều vấn đề để
nghiên cứu, với trình độ hạn chế và phạm vi của luận văn thạc sĩ, tác giả luận
văn chỉ trình bày một số nội dung mà tác giả nắm vững.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hướng nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý luận về nhà nước và
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
1. Đào Trí Úc (chủ biên) - Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005. Trong cuốn sách này tác giả
đề cập tới các nội dung như: Tìm hiểu nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư
tưởng phương Đông và phương Tây. Nghiên cứu một số vấn đề về việc xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như: cơ sở lí luận, vấn đề dân 5
chủ, nhân quyền, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa
2. Bùi Ngọc Sơn - Góp phần nghiên cứu hiến pháp và nhà nước pháp
quyền, Nxb Tư pháp, 2005. Cuốn sách đề cập tới các nội dung sau: Tìm hiểu
khoa học luật hiến pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam; Một số vấn đề lý luận về hiến pháp và bộ máy nhà nước Việt Nam
trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền.
3. Nguyễn Trọng Thóc - Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, 2005. Cuốn sách tập trung
nghiên cứu những vấn đề: Giới thiệu chung về nhà nước pháp quyền và dân chủ
xã hội chủ nghĩa; thực trạng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền; phát huy
dân chủ và những giải pháp nâng cao hiệu quả của chúng ở nước ta hiện nay.
4. Nguyễn Minh Đoan - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

có các nội dung sau: Giới thiệu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình
tổ chức, hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Những đặc
trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Mô hình tổng thể
tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước trong nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
9. Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên) - Đảng lãnh đạo nhà nước trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận Chính
trị, 2007. Nội dung của cuốn sách đề cập tới các nội dung chủ yếu sau: Cơ sở
lý luận và thực tiễn về Đảng lãnh đạo nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền. Thực trạng, định hướng và những giải pháp chủ yếu nâng
cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
10. Nguyễn Văn Thanh - Bước đầu tìm hiểu vấn đề xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2006. Tác giả đi sâu nghiên cứu các
nội dung chủ yếu sau: Khái niệm nhà nước pháp quyền, sự hình thành và phát 7
triển tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, phương hướng và
biện pháp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.
11. Lê Minh Quân - Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, 2003. Trong tác phẩm này tác giả đã khái quát lịch
sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với sự phát triển của
xã hội. Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tính tất yếu
của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay. Một số phương hướng cơ bản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa.
12. Nguyễn Duy Quý (chủ biên) - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị

4. Hoàng Văn Hảo - Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - sự
hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, 1995. Tác giả cũng đã
nghiên cứu sự lựa chọn kiểu nhà nước của Hồ Chí Minh đến những tư tưởng
của Người về nhà nước Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ
nhân dân và trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phần kết luận tác giả
có nhiều nghiên cứu về sự “kết hợp đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ
Chí Minh”; từ đó nêu ra sự vận dụng tư tưởng về nhà nước pháp quyền và
từng bước hoàn thiện nó trong quá trình đổi mới.
5. Vũ Đình Hòe - Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa
Thông tin, 2001. Trong cuốn sách này tác giả đã cho bạn đọc hiểu hơn về
nguồn tư tưởng nhân nghĩa trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
của Hồ Chí Minh, quá trình thực thi tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa của Hồ
Chí Minh từ 1911 đến năm 1960.
Tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy nhà nước pháp quyền và
tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là nghiên cứu liên ngành,
thu hút nhiều nhà sử học, luật học, chính trị học, triết học quan tâm, nghiên
cứu. Chính sự đa dạng, phong phú về nguồn tài liệu khi nghiên cứu tư tưởng 9
của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền đã khiến tác giả gặp khó khăn khi
thực hiện đề tài luận văn này. Và với trình độ, thời gian nghiên cứu còn hạn
chế luận văn đôi khi chỉ là sự tổng hợp lại những vấn đề được các tác giả lớn
nghiên cứu. Nhưng với mong muốn khi thực hiện luận văn tác giả sẽ cố gắng
nghiên cứu để tiếp tục khẳng định những đóng góp và giá trị to lớn của tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền đối với việc tiếp xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn nghiên cứu, phân tích có hệ thống những luận điểm cơ bản
của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, từ đó đưa ra các nội dung, cách

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 2 chương.
Chương 1: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.
Chương 2: Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa vào xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay.
11
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 - TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1.1. Sự hình thành và phát triển tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là di sản quý báu cho
chúng ta kế thừa trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng chính
trị, pháp lý dân chủ, nhân văn của cả phương Đông và phương Tây để tạo ra
tư tưởng về một nền “pháp quyền nhân nghĩa”.
- Những giá trị truyền thống của dân tộc mà trước hết là chủ nghĩa yêu nước:
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình sỹ phu yêu nước, ở quê hương
giàu truyền thống cách mạng, trong một đất nước sớm định hình quốc gia dân
tộc, có chủ quyền lâu đời, trong đó tinh thần yêu nước là dòng chảy xuyên
suốt chiều dài lịch sử. Chính lòng yêu nước nồng nàn đã hối thúc Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước và chi phối suy nghĩ, hành động của Người
trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng.
- Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng sâu sắc của Nho giáo:

không hoàn thành được trách nhiệm của mình, còn nếu làm tốt hơn người khác
thì trở thành anh hùng, chiến sỹ thi đua, là những thánh nhân vậy” [ 45, tr.13].
Nho giáo đã nhận ra vai trò to lớn của nhân dân, sức mạnh của nhân
dân trong việc thực hiện các chính sách quản lý của nhà nước: “dân vi quý, xã
tắc thứ chi quân vi khinh” - dân là gốc của nước.
Hồ Chí Minh đã thấm nhuần các giá trị tiến bộ của Nho giáo khi khẳng định:
Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân [36, tr.879].
- Tư tưởng chính trị của Mặc gia cũng được Hồ Chí Minh kế thừa và
phát triển. Mặc gia chủ trương kiêm ái trong chính sách cai trị: nhà cầm 13
quyền phải yêu thương nhân dân, tận tụy vì những lợi ích của nhân dân.
Người đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ yêu thương nhân dân đó để đề ra yêu cầu
rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc đến dân làng đều là công bộc
của dân, có nghĩa là vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ của nhân dân.
- Hồ Chí Minh cũng tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong Phật giáo: lòng
vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, nếp
sống trong sạch giản dị, chăm lo làm điều thiện, tinh thần bình đẳng dân chủ,
đề cao lao động… để làm gương, để hình thành nên tư tưởng về một nhà lãnh
đạo chân chính, một nhà nước nhân ái, yêu thương con người, vì con người.
- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Nghiên cứu về Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa
Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước
ta.” [72].
Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân đã được Người rút gọn trong quốc
hiệu của nước ta: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Trong bài phát biểu tại kỳ họp
thứ hai, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh: “Chính phủ cố gắng làm đúng theo ba chính sách: Dân sinh, Dân

tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng giải phóng con người
khỏi thần quyền và sự thống trị của những quan hệ phong kiến đồng thời
Người cũng đánh giá đúng những hạn chế của nó. Người viết: “Cách mệnh
Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không
đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công
nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng
áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” [33, tr.274].
Chính vì không thỏa mãn với con đường dân chủ tư sản, Người đã tìm
con đường mới đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917, đã lập ra nhà nước
công nông đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người. Hồ Chí Minh đã hướng về cuộc cách mạng ấy và 15
từng bước tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin. Lần đầu tiên người đọc sơ thảo lần
thứ nhất luận cương về dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã tin tưởng và
vui mừng đến phát khóc. Người tìm thấy trong luận cương của Lênin phương
pháp và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, trong
đó có cách mạng Việt Nam. Không lâu sau đó Người tham gia thành lập Đảng
cộng sản Pháp và đứng hẳn về lập trường của Quốc tế cộng sản. Người nói:
“Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin,
vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [ 41, tr.128]. Người khẳng định
một cách dứt khoát: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản” [40, tr.314]. Từ đó cách mạng giải
phóng dân tộc Việt Nam được xác định đúng đắn là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã

làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta" [65, tr.13].
Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy
và tố cáo bộ mặt của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam - một chính
quyền phi pháp quyền. Một nhà nước chuyên sử dụng các tòa án đặc biệt như
một công cụ để đàn áp nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhận thấy nước
Pháp là một nước cộng hòa nhưng những hành động bóp nghẹt quyền tự do
dân chủ ở các nước thuộc địa lại là phi cộng hòa. “… cả một vực thẳm cách
biệt người Âu với người bản xứ. Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị như
người chủ tuyệt đối; còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi,
chỉ có quyền phải phục tùng, không được kêu ca; vì nếu anh ta dám phản đối
thì anh ta liền bị tuyên bố là kẻ phản nghịch hoặc là một tên cách mạng, và bị
đối xử đúng với tội trạng ấy” [32, tr.7].
Tiếng là khai hóa Văn Minh nhưng thực dân Pháp đối với người dân
bản xứ thì phải giữ họ vĩnh viễn trong ách nô lệ" [32, tr.4], "Nhà tù nhiều hơn
trường học và lúc nào cũng mở cửa và chật ních người" [32, tr.22], "Lúc đó 17
có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi
chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng. Ngay cả trước bức thư nổi
danh đó, người ta đã cho 12 triệu người bản xứ - kể cả đàn bà và trẻ con - nốc
23 đến 24 triệu lít rượu mỗi năm” [32, tr.26].
“Để truyền bá văn minh Pháp, bảo vệ danh dự lá quốc kỳ Pháp ở các
thuộc địa xa xôi, người ta dùng những đội quân gồm toàn những tên lưu manh,
những bọn lười biếng, những tên lọt lưới pháp luật, những tên giết người, nói
tóm lại, gồm các tinh hoa của những cặn bã, lượm lặt ở tất cả các nước châu
Âu” [32, tr.349] "Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ
nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó
bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, ” [32, tr.75].
Với sự phê phán, tố cáo, buộc tội chế độ Thực dân Pháp, bộ máy thống

hợp hiến, nó không có những giới hạn cho việc thực thi quyền lực. Vì vậy, mà
chính quyền thực dân đã cai trị tùy tiện theo ý muốn của họ. Và hậu quả là
người dân bản xứ bị coi như nô lệ, bị xâm hại các quyền tự do.
Thông qua những kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu lý luận, sau này
Hồ Chí Minh đã tổng kết vấn đề nhà nước và pháp quyền thành những bài học
về "Đường cách mệnh (1927)". Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng:
"Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền
làm ăn cho sung sướng Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân
chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác ".
Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách
mệnh, ai đụng đến Chính phủ!
3. Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công
nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai.
Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là
chưa phải cách mệnh đến nơi. 19
Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là
làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong
tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới
được hạnh phúc” [33, tr.270].
“Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản,
cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó
tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà
nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát
khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” [33, tr.274].
Trong khi Người đang nghiên cứu, tìm tòi con đường cách mạng cho
Việt Nam thì Cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917 đã làm thay
đổi tình thế bế tắc về con đường giải phóng dân tộc cho Người. Đặc biệt là

Nhà nước đầu tiên của quần chúng lao động; sự ra đời của Nhà nước đó mở
đầu thời đại mới trong lịch sử loài người" [38, tr.514].
Nhà nước Xô Viết đã đem lại cho nhân dân Nga nền dân chủ thực sự,
đã tỏ rõ sức sống của một chế độ mới. Lần đầu tiên trong lịch sự loài người,
nhân dân lao động đã bắt tay vào xây dựng xã hội không có bóc lột và áp bức.
Từ những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười, đầu năm
1930, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Đảng Cộng sản việt Nam để lãnh đạo nhân
dân làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội chủ
nghĩa. Đó là con đường cách mạng vô sản cho nhân dân Việt Nam. Nó phản
ánh mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề tổ chức nhà nước và tổ chức chính quyền luôn được quan tâm và
là mục tiêu lớn của cuộc cách mạng. Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
(1930) đã chỉ rõ:
Về phương diện chính trị:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông. [34, tr.1] 21
Ngay trong chính cương vắn tắt, Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt tới
việc dựng ra chính phủ công nông binh mà thực chất là chính phủ công nông
vì binh lính cũng từ nông dân mà ra. Đây là mô hình nhà nước kiểu Xô Viết
và trên thực tế đó là mô hình nhà nước "thu nhỏ" xuất hiện ở Việt Nam trong
cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 -1931. Nhiều nơi ở 2 tỉnh đã đánh đổ chính
quyền thực dân phong kiến và lập ra chính quyền Xô Viết công nông. Chính
quyền này tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng đã thể hiện là chính
quyền cách mạng vừa chống lại thực dân Pháp vừa xây dựng cuộc sống mới
cho quần chúng nhân dân.

chưa phù hợp. Đảng và Nhà nước Xô Viết (hay hiện nay cũng thế) mang bản
chất của giai cấp công nhân nhưng như vậy không có nghĩa là chỉ kết nạp vào
Đảng những người công-nông. Trong cao trào Xô Viết, chi bộ Đảng ở Nghệ-
Tĩnh đã mắc sai lầm, tuyệt đối hóa công nông khi chủ trương đuổi ra ngoài tất
cả những người thuộc tầng lớp trí, phú, địa, hào. Đó là khuynh hướng đề cao
chủ nghĩa thành phần, gây ảnh hưởng không tốt tới công tác Đảng và chính
quyền Xô Viết, dẫn tới sự tan vỡ của chính quyền Xô Viết.
Những sai lầm của chi bộ Đảng Nghệ-Tĩnh đã được Trung ương Đảng
kịp thời phê bình uốn nắn. Trong chỉ thị của Trung ương gửi xứ ủy Trung kỳ
có đoạn: "Xứ ủy Trung kỳ nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thay Đảng viết rõ
từng chữ: Thanh trừ trí phú, địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc
đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ
đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng” [14, tr.157]. Việc xây
dựng một chính quyền chưa phù hợp của Xô Viết Nghệ-Tĩnh là kinh nghiệm
quý báu đầu tiên cho Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chính quyền cách
mạng sau này.
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, tháng 1-1941, Hồ Chí Minh về
nước cùng Đảng ta trực tiếp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đánh đuổi
giặc ngoại xâm, giành và xây dựng chính quyền mới.
Trong Nghị quyết Trung ương VIII của Đảng đã đưa ra chiến lược "đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết thảy", "Sau lúc đánh đuổi được 23
Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân
chủ. Chính quyền của nhà nước dân chủ nhân dân mới ấy không phải của riêng
giai cấp nào mà là của chung toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai đế quốc
Pháp-Nhật, những bọn thù không được giữ chính quyền, còn ai là người dân
sống trên dải đất nước Việt Nam đều thảy được một phần tham gia những chính
quyền, phải có một nhiệm vụ giữ lấy vào bảo vệ chính quyền ấy" [15, tr.114].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status