ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ NHUNG
GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƢỚC CHO SINH VIÊN
CÁC TRƢỜNG DẠY NGHỀ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƢỚC THEO
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
Hà Nội- 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới, những kinh
nghiệm quý báu, là hành
trang cho chúng tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.
Luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo
cao học. Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban
giám hiệu, các thầy cô trong Khoa Khoa học chính trị cũng như các thầy, cô
giáo trong và ngoài trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn cô giáo, TS. Văn Thị Thanh Mai - người đã hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Cô đã cho tôi thêm nhiều kiến thức
chuyên ngành cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình
và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt
nhiệm vụ học tập trong suốt thời gian qua.
Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều trong quá trình làm luận văn, song không
thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và
giúp đỡ quý báu của các quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Nhung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề 3
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu
nƣớc 3
lƣợng giáo dục chủ nghĩa yêu nƣớc cho sinh viên các trƣờng dạy nghề………65
2.2.1. Những quan điểm cơ bản 65
2.2.2. Phƣơng hƣớng cơ bản 71
2.2.3. Nhóm giải pháp 74
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 91
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về nội dung: “Yêu nước đối với sinh viên nói chung
và sinh viên các trường dạy nghề nói riêng”
56
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về nội dung: “Em hiểu thế nào là chủ nghĩa xã hội?”
58
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về nội dung: “Một trong những nội dung cơ bản
của yêu nước ”
59
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về nội dung: “Học tập và rèn luyện đạo đức là
mục tiêu phấn đấu quan trọng nhất?”
60
thuyết cách mạng, khoa học của thời đại soi đường, chủ nghĩa yêu nước truyền
thống chân chính đã được kế thừa, phát huy, được nâng lên một tầm cao mới,
mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh. Vị trí, vai trò, sức mạnh của chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc từ cổ đại đến hiện
đại đã được Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.
Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị
xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một nàn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước” [47, tr.171].
2
Phát huy chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tinh thần đoàn kết của
mọi người dân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng
đầu, với một đường lối chính trị đúng đắn, phương thức tiến hành cuộc đấu
tranh cách mạng phù hợp, đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc
cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập, tự do sau hơn 80 năm
trời nô lệ. Tiếp đó, phát huy chủ nghĩa yêu nước, ý chí quyết tâm “thà hy
sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, dưới
ngọn cờ độc lập, tự do của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu, hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975)
đã giành thắng lợi. Hành trình 30 năm đấu tranh gian khổ, không quản ngại
hy sinh, vì một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của nhân dân ta là một biểu tượng sáng ngời nhất của chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh lịch sử.
Tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, bên cạnh những vận hội lớn,
chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, trong đó có sự
chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, chiến lược “diễn biến hoà
bình”, âm mưu “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng diễn ra ngày càng tinh
vi, phức tạp. Phát huy vai trò, sức mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa yêu nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sau 27 năm
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước
Cuốn sách Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên đường dân giàu
nước mạnh của Phạm Văn Đồng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993,
nghiên cứu tư tưởng và con người Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới.
Tác phẩm đã khẳng định: Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước, đồng thời là
một chiến sĩ cộng sản, với thông điệp nổi tiếng của Người: “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”.
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997, khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc đã phát triển thành
chủ nghĩa yêu nước. Chính chủ nghĩa yêu nước đã thúc đẩy Hồ Chí Minh
4
ra đi tìm đường cứu nước và trở thành một trong những nguồn gốc chủ yếu
của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cuốn sách Nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh của cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, cũng khẳng
định hành trang ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành là truyền
thống lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, với sức sống mãnh liệt
của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó là một nhận thức cơ bản trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, giúp ích cho mỗi người khi nghiên cứu chủ nghĩa yêu
nước Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.
Cuốn sách Chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh của Trần Xuân
Trường, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Với 6 chương, tác giả đi từ
nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước được tác giả lý giải
qua việc nêu và phân tích những nội dung về lao động, bảo vệ Tổ quốc,
chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa quốc tế.
Cuốn sách Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh của Nguyễn Mạnh
Tường, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, được hình thành trên cơ sở
Nội, 2008. Trong cuốn sách này, tác giả khẳng định: Chủ nghĩa yêu nước
Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển tất cả mọi giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, trong đó chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò nòng cốt. Bên cạnh
đó, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh còn là kết quả của sự tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại và dân tộc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam… Trong tất cả các yếu tố đó, chủ
nghĩa yêu nước truyền thống là cơ sở trực tiếp nhất, cốt lõi nhất.
Cuốn sách Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh thời kỳ mở cửa, hội nhập
quốc tế là kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ, gồm hai chương, theo đó,
Chương I: “Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh”, chương II: “Phát huy chủ
nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế”. Trong
đó, tác giả đã làm rõ một số khái niệm: Tình cảm yêu nước, chủ nghĩa yêu
nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh…;
6
hệ thống hóa nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam;
phân tích nội dung cơ bản và vai trò của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh;
phân tích cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế
giới WTO; làm rõ nội dung trong việc phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí
Minh trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế…
Dù tiếp cận ở những góc độ khác nhau, nhưng kết quả nghiên cứu của
các tác giả đi trước trong những nghiên cứu nêu trên đã giúp tôi một cách
nhìn tổng quan về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh…
để tôi tham khảo và kế thừa có chọn lọc trong quá trình thực hiện đề tài luận
văn của mình.
2.2. Những bài nghiên cứu về chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ
Chí Minh đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành
Nhóm các bài viết: Võ Nguyên Giáp,“Văn hóa Việt Nam - Truyền
thống cốt cách dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 15, 1998; Phan Huy Lê, “Chủ
nghĩa yêu nước nội lực tinh thần nền tảng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”,
xã hội nói chung và tầng lớp thanh niên, sinh viên các trường đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp nói riêng. Những kết quả nghiên cứu này giúp
tôi cách tiếp cận những vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn.
2.3. Một số đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ đề cập vấn đề giáo dục
chủ nghĩa yêu nước
Luận văn thạc sĩ: “Tìm hiểu quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
yêu nước” của Nguyễn Mạnh Tường (2000- Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh), với những nội dung về chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí
Minh… Luận văn thạc sĩ: “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho
thanh niên tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước” của Hoàng Văn Lực (2007- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh). Qua luận văn, tác giả góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề cơ bản
trong nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, làm rõ vai trò của chủ
nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong hình thành nhân cách cho thanh niên tỉnh
Thanh Hóa hiện nay. Luận văn tốt nghiệp: “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ
8
Chí Minh cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Ngô Xuân Dương (2009-
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ). Trong luận văn, tác giả góp phần
làm rõ khái niệm, nội dung chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh và thực trạng
của công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho học sinh trung
học phổ thông tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng
và những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chủ nghĩa
yêu nước Hồ Chí Minh cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh nói
riêng và góp phần đối với công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh
cho học sinh trung học phổ thông cả nước.
Những luận văn trên đã góp phần giúp tôi hiểu rõ hơn về đặc điểm, nội
dung và ý nghĩa của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, cũng như thực trạng
và việc cần thiết phải đẩy mạnh công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho
dục chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên các
trường dạy nghề ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày khái niệm, nội dung chủ nghĩa yêu nước từ truyền thống
đến tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho sinh
viên các trường dạy nghề qua khảo sát thực tế ở hai trường nêu trên.
- Nội dung, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
lượng giáo dục chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên các
trường dạy nghề ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên nền tảng của lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chủ nghĩa yêu nước,
giáo dục chủ nghĩa yêu nước.
10
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp lôgic, thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp;
- Phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thu nhập, phân tích số liệu;
- Kết hợp các phương pháp nêu trên.
6. Đóng góp của luận văn
- Kết quả của luận văn góp phần làm rõ lý luận của Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa yêu nước; góp phần đánh giá thực trạng công tác giáo dục chủ nghĩa yêu
nước của sinh viên các trường dạy nghề ở Việt Nam; đề xuất nội dung, phương
hướng và những giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng giáo dục chủ
nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên các trường dạy nghề ở
Thứ nhất, ở khía cạnh thiên nhiên, địa lý, nước chỉ non sông, giang sơn
gấm vóc, lãnh thổ với biên giới cương vực rạch ròi (chỉ đất nước).
Thứ hai, nếu chỉ có thiên nhiên, mảnh đất thuần túy không thôi, thì
cũng chưa thể gọi là “nước”, muốn có nước phải có những tộc người sống
trên đó và quan hệ giữa họ với nhau. Bởi vậy nước còn chỉ tộc người, dân tộc
và sự đoàn kết giữa các dân tộc.
Thứ ba, cụ thể hơn nữa, phải có những con người - chủ nhân đứng
trên mảnh đất này, nên “nước” còn bao gồm những con người, người dân…,
nhân dân, cái mà ở nước Việt Nam gọi là đồng bào, con người nắm chủ
quyền trên lãnh thổ của mình.
Thứ tư, từ con người hình thành nên gia đình, xã hội với những thiết
chế chính trị của mình, bởi vậy, “nước” còn bao gồm cả làng, xã, quê hương,
quốc gia, Tổ quốc, các tầng lớp, giai cấp với những chế độ chính trị xã hội
nhất định trong mỗi thời kỳ.
Thứ năm, một trong những yếu tố không thể thiếu để tạo nên một
diện mạo đất nước, đó là văn hóa, bởi vậy, “nước” còn bao gồm cả những
phong tục tập quán, truyền thống, lịch sử…
12
Năm yếu tố trên liên hệ mật thiết với nhau, nếu thiếu một trong năm
yếu tố thì khó có thể gọi là “nước” [27, tr.10].
Như vậy, “nước” bao gồm tổng hòa những yếu tố đất nước, dân tộc,
con người, nhân dân, quê hương, quốc gia, Tổ quốc, văn hóa (ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, lịch sử, truyền thống).
* Yêu nước
Nếu nước là tổng hòa các mối quan hệ về dân tộc, con người, quê hương,
Tổ quốc… luôn gắn tình yêu của mỗi con người với quê hương, Tổ quốc, thì “yêu
nước” theo V.I.Lênin là “một trong những tình cảm sâu sắc nhất được củng cố
qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm tồn tại của các Tổ quốc biệt lập” [80, tr.226].
Như vậy, yêu nước mang tính phổ biến của nhân dân các quốc gia, các dân tộc
vệ Tổ quốc chống lại mọi cuộc xâm lược. Chủ nghĩa yêu nước chân chính thể
hiện lòng trung thành với Tổ quốc vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân, bảo vệ sự
sinh tồn của dân tộc và đấu tranh cho sự phồn vinh của đất nước” [28, tr.518].
Như vậy cũng có thể hiểu: “Chủ nghĩa yêu nước là sự phát triển đến
đỉnh cao của lòng yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa tình cảm yêu nước
nhiệt thành và một hệ thống các tư tưởng về tình yêu, lòng trung thành với Tổ
quốc, ý thức phục vụ Tổ quốc [57, tr.21].
Những nội dung nêu trên cho thấy, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lấy
đạo lý (đạo nghĩa) yêu nước làm đầu (chủ yếu, cốt yếu, chính yếu, trụ cột).
Đối với nhân dân Việt Nam, nó thể hiện ở tinh thần và hành động sẵn sàng
hy sinh vì nước, vì dân tộc, giống nòi, bảo vệ đất nước… chủ nghĩa yêu
nước đích thực là đạo Việt Nam [20, tr.101].
1.1.2. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống là sản phẩm tinh thần cao quý nhất
của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng, giữ vị trí chuẩn
mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu bậc thang giá trị của dân tộc. Nhưng
một trong những đặc trưng nổi bật nhất của lòng yêu nước mang bản sắc
Việt Nam chính là yêu nước gắn liền với yêu hòa bình, hòa hiếu. Chỉ đến khi
14
kẻ thù hung bạo quyết phá vỡ nền hòa bình, hòa hiếu ấy thì cả dân tộc mới
buộc phải đứng lên đấu tranh để bảo vệ giang sơn của mình. Tinh thần đó đã
phát huy sức mạnh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và là mẫu số
chung, là lực nội sinh của cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong lịch sử của dân tộc Việt
Nam thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước truyền thống được hun đúc trong quá
trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử.
Theo đó, dựng nước là quá trình xác lập địa bàn lãnh thổ, tổ chức các
hình thức chính trị, kinh tế - xã hội, là xây dựng văn hóa, phong tục, lối sống,
ta thấy rõ rằng, chỉ có đoàn kết và gắn bó thành một khối thống nhất dưới một
sự chỉ huy chung mới đánh bại được kẻ thù, giữ vững độc lập và xây dựng xã
hội phồn vinh. Đó là bài học sâu sắc của lịch sử. Có thể nói, đây là giai đoạn
chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Ở thế kỷ XI,
biểu hiện sinh động của chủ nghĩa yêu nước là lời tuyên bố “Nam quốc sơn
hà, Nam đế cư” (Lý Thường Kiệt), và đến đầu thế kỷ XV, đó lại chính là lời
khẳng định nguyên lý ngang hàng với phương Bắc về văn hiến, lãnh thổ,
phong tục, lịch sử, nhân tài…trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi:
“Xét như nước Đại Việt ta,
Thật là một nước văn hiến,
Bờ cõi sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác,
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương,
Tuy từng lúc mạnh yếu khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu” [69, tr.63].
Không chỉ có vậy, lời Quang Trung khích lệ tướng sĩ ở Tam Điệp
trước khi tiến công tiêu diệt quân Thanh cũng thể hiện rõ tinh thần và lòng
yêu nước của nhân dân ta thời kỳ đó:
“Đánh cho để dài tóc,
Đánh cho để đen răng,
16
Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” [37, tr.353].
Thứ tư, là thái độ kiên cường bất khuất trước kẻ thù.
Cùng đó, tiếng thét hiên ngang “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm
vương đất Bắc” của Trần Bình Trọng (thế kỷ XIII) trước quân Nguyên; câu
nói nổi tiếng “đầu có thể chặt nhưng tóc không thể cắt” của Lê Quýnh (thế kỷ
Con đường “Đông Du” dựa vào Nhật đánh Pháp của Phan Bội Châu, cũng
không giải phóng được dân tộc, vì đó chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước
beo cửa sau”. Con đường giành độc lập cho dân tộc theo xu hướng cải lương
của Phan Châu Trinh (dựa vào Pháp đánh đổ nền quân chủ, xây dựng nền dân
chủ) chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương” cũng không thu được kết
quả. Con đường cứu nước có ý thức tư sản rõ rệt theo Việt Nam Quốc dân
Đảng của Nguyễn Thái Học không triệt để, không chú ý xây dựng lực lượng
cách mạng trong quần chúng, tổ chức thiếu chặt chẽ, hoạt động theo phương
châm “không thành công cũng thành nhân” đã thất bại. Cuộc khởi nghĩa nông
dân Yên Thế của người anh hùng Hoàng Hoa Thám kéo dài trong vòng 30
năm, mang tính tự phát, tính thiếu triệt để, chưa thoát khỏi sự chật hẹp của
một cuộc khởi nghĩa phong kiến, chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương, chưa
phát động được lòng yêu nước và sức ủng hộ nhiệt liệt của nhân dân cả nước
cũng bị dìm trong tan tác… Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định
rằng: phong trào khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo mang
“cốt cách phong kiến” và chính vì hạn chế ấy, đặt trong bối cảnh Việt Nam
lúc đó, phong trào khởi nghĩa không thể không thất bại trước sức tấn công
dồn dập và ác liệt của kẻ thù là thực dân Pháp đang ở trong thế áp đảo.
Những minh chứng nêu trên cho thấy, cho đến trước khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời, cha ông ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý thức dân
18
tộc và chủ nghĩa yêu nước truyền thống, đấu tranh bảo vệ giang sơn, xây dựng
và phát triển đất nước. Chúng ta có quyền tự hào về di sản tư tưởng của dân tộc
ta, trong đó có chủ nghĩa yêu nước truyền thống. Song, những minh chứng ấy,
nhất là các phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp những năm cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX cũng cho thấy rằng, các phong trào đấu tranh yêu nước của
nhân dân ta tuy có khác nhau về hình thức, mức độ chống thực dân Pháp, nhưng
cũng không thoát khỏi những sai lầm, hạn chế cơ bản, đó là: (1) Không nhận
thức rõ kẻ thù dân tộc là chủ nghĩa thực dân, bản chất thời đại quốc tế là chủ
cả những điều tôi hiểu, đó là tất cả những điều tôi muốn” như Người từng nói.
Trong những năm tháng gian nan ấy, lòng yêu nước chi phối suy nghĩ, hành
động của Người, giúp Người vượt qua mọi khó khăn, đồng thời là cơ sở tư
tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau này, Hồ Chí Minh khẳng
định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản
đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [51, tr.128].
Với Hồ Chí Minh, tư tưởng yêu nước sớm được hình thành không phải là
một ý niệm mơ hồ, trừu tượng, mà bắt nguồn từ tình thương yêu nhân dân sâu
sắc, niềm tự hào về truyền thống yêu nước, quật cường của dân tộc. Ở Người,
yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình dân, tình dân là
cái gốc của nghĩa nước. Ở Người, trung với nước, hiếu với dân, là hai mặt không
thể tách rời nhau. Người không chỉ thông cảm sâu sắc với đời sống lầm than,
khổ cực của quần chúng nhân dân trên đất nước mình mà là tất cả những người
nghèo khổ, những người lao động bị bóc lột ở tất cả những nơi mà Người đã đi
qua: “Chính do sự cảm thông, yêu thương những người cùng khổ và lòng căm
ghét bọn tư bản, đế quốc, thực dân mà tình cảm và ý thức giai cấp ở Người từng
bước được nảy nở. Người đau xót trước nỗi thống khổ của nhân dân lao động
trên khắp thế giới, kể cả nhân dân lao động Pháp” [73, tr.48]. Người đau nỗi đau
của họ, đứng về phía họ, tìm cách giúp họ thoát khỏi bị bóc lột, thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu và mọi nỗi khổ đau do chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây nên. Tinh