TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA GIO
Á DỤ
C CHNH
Í TRỊ
HỒĐÌNH NGŨ
GIÁO DỤC CHỦNGHĨA YÊU NƯỚC HỒCHÍ MINH CHO
THANH NIÊN ỞHUYỆN QUỲNH LƯU (NGHỆAN)
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CỬ NHÂN CHÍNH TRỊ - LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHÓA LUẬN
ThS.BÙI THỊ CẦN
NGHỆ AN - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận này, ngoài những cố gắng của bản thân,
tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Hội đồng khoa học Khoa
Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh;
Sự khích lệ, động viên, chia sẻ của gia đình, bạn bè và của người thân; Đặc
biệt là sự chỉ dẫn chu đáo, nhiệt tình của cô giáo, Ths. Bùi Thị Cần - Người
:
Hiện đại hóa
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
CNYN
:
Chủ nghĩa yêu nước
THPT
:
Trung học phổ thông
THCS
:
Trung học cơ sở
TNCS
:
Độc lập dân tộc
3
MC LC
Trang
M U........................................................................................................1
1. Tớnh cp thit ca ti..............................................................................1
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu liờn quan n ti..................................................3
3. Mc ớch v nhim v ca ti................................................................6
4. i tng v phm vi nghiờn cu..............................................................7
5. C s lý lun v phng phỏp nghiờn cu ca ti.................................7
6. Nhng úng gúp v khoa hc ca ti.....................................................8
7. Kt cu ti..............................................................................................8
CHNG 1. CH NGHA YấU NC H CH MINH - S HèNH
THNH V NI DUNG C BN.................................................................9
1.1. S hỡnh thnh ch ngha yờu nc H Chớ Minh....................................9
1.1.1. Ch ngha yờu nc - si ch xuyờn sut lch s dõn tc
Vit Nam.........................................................................................................9
1.1.2. Ch ngha yờu nc H Chớ Minh ra i l mt tt yu lch s..........18
1.2. Ni dung c bn ca ch ngha yờu nc H Chớ Minh.........................23
1.2.1. Không có gì quý hơn độc lập tự do ni dung xuyên suốt của
chủ nghĩa yêu nớc Hồ Chí Minh......................................................................23
1.2.2. Yêu nớc gắn liền với thơng dân..............................................................26
1.2.3. Yêu nớc cũng chính là yêu CNXH - Yếu tố đảm bảo cho ĐLDT
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam,
Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hoá kiệt xuất. Tư tưởng của
Người là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, là ngọn cờ thắng lợi
của cách mạng Việt Nam.
Trong hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh là người ý
thức sâu sắc về giá trị tinh thần Việt Nam, về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam. Người dạy "Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà
Việt Nam" [36, tr.221]. Tổng kết lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi
sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
[39, tr.171].
Rõ ràng, hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, mà đứng đầu là
chủ nghĩa yêu nước đã đóng một vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước,
giữ nước. Trong thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin như
một sự gặp gỡ diệu kỳ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với học thuyết
cách mạng và khoa học của thời đại, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin ánh
sáng soi đường cứu dân, cứu nước. Từ đó hình thành chủ nghĩa yêu nước Hồ
Chí Minh.
Trong quá trình phát triển lịch sử của dân tộc, thì chủ nghĩa yêu nước
Hồ Chí Minh góp phần làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ và bước đầu quá độ lên
CNXH mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một sự kiện chói lọi
1
nhất, một biểu tượng sáng ngời nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền
thống xuyên qua mọi thời đại.
nay là một việc làm rất quan trọng và cần thiết vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều đó sẽ tạo ra sức mạnh cực
kỳ to lớn để phát huy tiềm năng vô tận của con người Việt Nam trước những
thách thức của lịch sử, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước
Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo điều kiện đuổi kịp các nước
tiên tiến trong khu vực và thế giới.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nhân dân ta đang xây dựng đất nước gắn liền với giữ vững độc lập dân tộc,
kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó chứng tỏ rằng Đảng và
dân ta đã vận dụng sáng tạo phát huy những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về
chủ nghĩa yêu nước dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và trên lập trường
giai cấp vô sản.
Với những lý do cơ bản trên, tôi chọn vấn đề: "Giáo dục chủ nghĩa
yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên ở huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An)
trong giai đoạn hiện nay" để làm khóa luận tốt nghiệp đại học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau.
Các công trình đều đã đề cập đến nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên. Làm rõ sự cần thiết của công tác
giáo dục cho thanh niên, những nội dung cần giáo dục thanh niên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh; phương châm, phương pháp giáo dục thanh niên; đề ra
một số giải pháp hữu hiệu để giải quyết thực trạng cho thanh niên ngày nay
dựa vào căn cứ đặc thù của từng địa phương, từng vùng miền trên cơ sở vận
3
dụng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong quá trình giáo dục cho thanh
niên phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và công cuộc đổi mới đất nước.
năm với sức sống mãnh liệt của một dân tộc. Đó là một nhận thức cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp ta suy nghĩ tới việc nghiên cứu chủ nghĩa
yêu nước Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam" do Đại
tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 1997.
Tác giả đã khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc đã phát triển thành
chủ nghĩa yêu nước. Và chính chủ nghĩa yêu nước đó đã thúc đẩy Hồ Chí
Minh ra đi tìm đường cứu nước. Chủ nghĩa yêu nước là một trong những
nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- "Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh" của
GS.NGND Đinh Xuân Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Đã tập
hợp nhiều bài nghiên cứu. Có thể khai thác một số bài phục vụ cho đề tài như
"Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống
và thời đại", "Về con đường cứu nước của Hồ Chí Minh"...
- "Đến với tư tưởng Hồ Chí Minh" của Trần Bạch Đằng, Nxb Trẻ, 2004.
Tác giả đã khẳng định "tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ
nghĩa yêu nước, tắm mình sâu sắc trong tâm hồn dân tộc, là kết tinh truyền thống
nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam"...
Đặc biệt là trong các bài tạp chí, các bài viết ngắn đã tập trung nêu bật một
cách súc tích, ngắn gọn các tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, đề
cập đến những tư tưởng này của Người ở từng khía cạnh cụ thể, để mục đích là
vận dụng giải quyết những thực trạng của thanh niên ở từng địa phương cụ thể:
- Trong bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh với hoạt động của phong trào
thanh niên hiện nay” của tác giả Nguyễn Thu Thảo đăng trên tạp chí Giáo dục lý
luận số 9/2003, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - phân viện Hà Nội, đã
đề cập đến tầm quan trọng, những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên
5
- Đánh giá thực trạng đội ngũ thanh niên và công tác giáo dục thanh
niên huyện Quỳnh Lưu, đề xuất phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu
quả giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên Quỳnh Lưu
trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - những nội dung cơ bản.
- Thực trạng của công tác giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên huyện
Quỳnh Lưu - Nghệ An.
- Sự vận dụng giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh
niên huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh và
việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên ở huyện
Quỳnh Lưu trong tình hình hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, những quan điểm của Đảng về thanh niên và "Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau", về chủ nghĩa yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp, điều tra khảo
sát thực tiễn và các phương pháp chuyên ngành trong nghiên cứu và thể hiện
đề tài.
7
6. Những đóng góp về khoa học của đề tài
đô từ Việt Trì (Phú Thọ) về ngã ba sông Đuống - sông Hồng là vùng đất Cổ
Loa (huyện Đông Anh) xây thành, đánh dấu sự phát đạt của nền kinh tế vùng
đồng bằng (cả về mật độ dân số, về trình độ nông nghiệp, thủ công nghiệp và
thương nghiệp. Sự thành lập nước Âu Lạc là bước phát triển kế tục nước Văn
Lang với hai thành tựu nổi bật về kỹ thuật quốc phòng (đắp thành Cổ Loa và
cải tiến nỏ và tên nỏ) đáp ứng một nhu cầu bức xức chống ngoại xâm từ phía
Bắc tới. Thời đại Văn Lang và Âu Lạc là thời đại văn minh Sông Hồng, thời
đại các Vua Hùng và Vua Thục, một thời đại vô cùng quan trọng của lịch sử
Việt Nam. Đó là thời kỳ hình thành dân tộc với nền tảng là một đời sống kinh
10
tế chung cho toàn quốc, là thời kỳ hình thành Nhà nước đầu tiên. Đó cũng là
thời đại hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc độc đáo phi Hoa,
phi Ấn với một phong cách Đông Sơn rất đặc trưng, rất điển hình và có ảnh
hưởng lớn đến toàn vùng Đông Nam Á. Cộng đồng dân tộc Việt xây dựng từ
đó một lối sống riêng, có một bản lĩnh vững vàng, và trên nền tảng đó đã xây
dựng được một xã hội, một lối sống Việt Nam, một truyền thống Việt Nam.
Đó cũng là thời kỳ hình thành ý thức dân tộc được tổng hợp từ những tình
cảm gia đình, họ hàng, quan hệ đồng bào, tình làng nghĩa nước... để trở thành
một lòng yêu nước Việt Nam bất khả chiến bại, một ý thức về quyền sở hữu
chung của dân tộc, về địa bàn đất đai, đất nước, lãnh thổ để trên nền tảng đó ý
thức hệ của công cuộc giữ nước bắt đầu. Đó là kỷ nguyên bắt đầu dựng nước
của dân tộc Việt Nam, mở đầu truyền thống dựng nước và giữ nước oai hùng
của dân tộc, từ đó được nâng lên trình độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam hình thành rất sớm, do yêu cầu chống thiên nhiên,
chinh phục thiên nhiên và do sự cố kết nhau lại để chống ngoại xâm. Truyền
thống công xã nông thôn Việt Nam đã là một yếu tố đóng vai trò đáng kể
trong việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.
tục, trên khắp mọi miền đất nước. Đến đầu thế kỷ 10 (905), Khúc Thừa Dụ
đánh thắng quân phong kiến nước ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ.
Năm 930, nhà Nam Hán sang xâm chiếm, Dương Đình Nghệ lại đánh bại
chúng giành lại quyền tự chủ. Đến cuối năm 938 Ngô Quyền phá tan quân
Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1.000
năm. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu. Ngô Quyền lên ngôi
vua, đóng đô ở Cổ Loa, đánh dấu một bước phát triển mới của chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam.
Sau khi Ngô Quyền mất, chính quyền trung ương bị tan rã, các thế lực
phong kiến chia nhau hùng cứ các phương và tranh giành nhau quyết liệt, tạo
nên thế 12 sứ quân cát cứ các địa phương. Yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc đó
12
là phải khôi phục sự thống nhất của nước nhà. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng
đế (năm 968), đóng đô ở Hoa Lư, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Từ đó, trải
qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, suốt trong năm thế kỷ (từ thế
kỷ 10 đến thế kỷ 15), quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố, công cuộc
xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và
toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của Nhà nước phong kiến độc lập,
việc dựng nước gắn liền với giữ nước. Nhưng cũng trong năm thế kỷ đó,
không có thế kỷ nào dân tộc ta không phải chống ngoại xâm, thế kỷ 13 phải
tới ba lần chống Nguyên - Mông. Đến thế kỷ 15, nhà Trần đổ nát và bị nhà
Hồ thay thế. Nhưng cuộc kháng chiến do Hồ Quý Ly đứng đầu đã nhanh
chóng thất bại vì không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống
giặc giữ nước. Phong trào yêu nước dâng lên mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp,
mọi thành phần, phát triển rộng khắp dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn do Lê Lợi đứng đầu.
Sau 10 năm chiến đấu (1418 - 1428), với thắng lợi của cuộc kháng
Đầu thế kỷ 20, trong sự biến đổi sâu sắc của toàn thế giới, trong trào
lưu mới của đất nước, các sĩ phu yêu nước, các nhà trí thức tiến bộ như
Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền, Lương Ngọc Quyến,… - những
người con ưu tú của đồng bằng - người ra nước ngoài, kẻ ở lại trong nước mở
trường, lập hội, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, mở mang dân trí (Đông
Kinh Nghĩa Thục) … Đông đảo nhân dân vùng đồng bằng đã sôi nổi tham gia
mọi hình thức đấu tranh, từ tham gia vụ bạo động đầu độc binh sĩ Pháp ở Hà
Nội, giúp đỡ các hội viên Việt Nam Quang Phục hội đến tham gia các cuộc
biểu tình đồi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, giúp đỡ các đảng
viên Việt Nam Quốc dân đảng nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, tham
gia chống sưu thuế…
Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi trên khắp dải đất đồng bằng, nhưng
do thiếu một đường lối phù hợp với xu thế của thời đại, do chính sách đàn áp,
14
khủng bố chia để trị và ngu dân của kẻ thù nên tất cả những hình thức đó đều
không đạt hiệu quả. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Trong mấy mươi năm khi
chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra”.
Sau một thời gian chuẩn bị, tình hình đã cho phép thành lập một đảng
thống nhất, ngày 3-2-1930, đúng vào dịp Tết Canh Ngọ, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc - đại diện của Quốc tế cộng sản triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức
Cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại bán đảo Cửu Long,
Hương Cảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vô cùng
quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản
ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kỳ khủng
hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng kéo dài hai phần ba thế kỷ
từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta.
mạng dân tộc dân chủ nhân dân để hoàn thành giải phóng dân tộc thống nhất
Tổ quốc.
Ở miền Bắc, tiến hành khôi phục kinh tế trọng tâm là kinh tế nông
nghiệp, đồng thời tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ quan hệ bóc lột phong
kiến, đem lại quyền làm chủ cho nông dân ở nông thôn. Sau khi thu đựoc
những kết quả quan trọng trong khôi phục kinh tế, Hội nghị trung ương lần
thứ 14 đã vạch ra kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh
tế văn hóa.
Ở miền Nam, Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi chính quyền Sài
gòn thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ và giữ gìn lực lượng trước sự
khủng bố tàn bạo của kẻ thù. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn ở miền Nam đồng
chí Lê Duẩn đã soạn thảo "Đề cương cách mạng miền Nam". Tháng 1/1959
BCHTW đã ra nghị quyết 15 khẳng định con đường phát triển cơ bản của
cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay
16
nhân dân. Năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần III của Đảng đã hoàn
chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam.
Tinh thần yêu nước đó lan tỏa mạnh mẽ trong các giới đồng bào tham
gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ: “Đồng bào
ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc
bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những
đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai
cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt
trận chịu đói mấy ngày để bám sát giặc, tiêu diệt giặc, đến những công chức ở
hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi
tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến
sĩ chăm sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công
Chủ nghĩa yêu nớc truyền thống Việt Nam đóng vai trò lịch sử cực kì to
lớn, là động lực tinh thần chủ yếu của nhân dân ta trong quá trình lâu dài hàng
chục thế kỷ dựng nớc và giữ nớc, tuy nhiên từ giữ thế kỷ XIX khi dân tộc ta
đứng trớc sự xâm lợc của bọn Ch ngha t bn phơng tây, thì chủ nghĩa yêu
nớc ấy tỏ ra bất cập và bắt đầu bớc vào thời kỳ khủng hoảng kéo dài hơn na
thế kỷ.
Với sự xâm lợc của bọn thực dân Pháp, lần đầu tiên nhân dân Việt Nam
đơng đầu với một kẻ thù mới. Đối diện cho một xã hội cao hơn chế độ phong
kiến, nắm trong tay một nền kinh tế và k thuật hiện đại, với những thủ đoạn
tinh vi hơn. Chủ nghĩa yêu nớc truyền thống tuy vẫn tiếp tục đóng vai trò động
lực tinh thần trong những cuộc chiến đấu đầu tiên của nhân dân vì độc lập tự
do dân tộc, nhng đã tỏ ra kém hiệu lực hơn trớc. Thời đại mới và kẻ thù mới
đòi hỏi dân tộc phi có vũ khí tinh thần mới.
Chủ nghĩa yêu nớc truyền thống của dân tộc Việt Nam có đợc cái cốt
lõi nhân dân sâu sắc, nó bao hàm cả lý tởng dân chủ và công bằng xã hội.
Tuy nhiên trong điều kiện lịch sử, trong những giới hạn chật hẹp của hệ
t tởng phong kiến, lý tuởng về độc lập dân tộc, từ đó hạnh phúc của nhân dân
chỉ có thể tơng đồng với lý tởng về một quốc gia phong kiến độc lập, có vua
18
hiền tôi giỏi, thái bình thịnh trị, song sự thiếu nát triền miên của một chế độ
phong kiến suy tàn đã làm suy giảm trong lòng nhân dân niềm hi vọng về một
xã hội hoà bình, một xã hội Nơi thôn cùng, xóm vắng không có tiếng khóc
thơng. Tuy nhiên trong xã hội phong kiến nhà Nguyễn, lý tởng đó vẫn phát
triển cao trong tâm hồn bộ phận vua quan, biểu hiện bằng những thất bại liên
tiếp của các toan tính Cần Vơng khi ất nớc bị Pháp xâm lợc.
Chủ nghĩa yêu nớc với nội dung chính trị và lý tởng xã hội Cần Vơng
đã cỏo chung, nhng tình cảm yêu nớc mãnh liệt của nhân dân với những
truyền thống lịch sử bền vững thì vẫn còn đó. Cái tâm hồn khoẻ khoắn, bừng
đứng trớc sự lựa chọn quyết liệt. Quay trở lại vi hệ t tỏng phong kiến thì quá
lạc hậu tiến theo ngọn cờ tự do, bình đng, bác ái theo mô hình của nớc
Pháp đang thống trị mình thì cũng cha hứa hẹn điều gì là tốt đẹp, nếu tâm hồn
yêu nớc Việt Nam không gặp đợc hơi th của thời đại, không kết hợp đợc một
hệ t tởng chính trị tiên tiến thì chủ nghĩa yêu nớc truyền thống mãnh liệt của
dân tộc Việt Nam cú nguy cơ trở thành một chủ nghĩa yêu nớc thuần tuý tình
cảm.
1.1.2.2. Thời đại mới, hoàn cảnh mới đòi hỏi chủ nghĩa yêu nớc mới Chủ
nghĩa yêu nớc Hồ Chí Minh
Tình hình kinh tế trong những năm của đầu thế kỷ XX có những chuyển
biến lớn. Cách mạng XHCN tháng mời Nga thành công vào năm 1917 đã mở
ra con đờng giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, chính thời đại
mới bắt đầu từ thắng lợi của cách mạng tháng mời Nga đã quy định và chỉ ra
sự cần thiết phải kết hợp chủ nghĩa yêu nớc truyền thống với chủ nghĩa quốc
tế vô sản trong các cuộc cách mạng. Cách mạng tháng mi Nga đã tác động
vào dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ở khắp các lục địa, hớng của họ đi tới cách
mạng vô sản và liên minh với giai cấp vô sản. Nó là một tấm gơng đối với
nhân dân lao động thế giới, đặc biệt là đối với dân tộc phơng đông. Những dân
tộc mà bọn đế quốc đã nô dịch, kỡm hãm họ trong vòng đói khổ và luôn luôn
chà đạp lên tinh thần dân tộc của họ.
Chủ nghĩa yêu nớc Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nớc của dân tộc ở
thời hiện đại, đó là chủ nghĩa yêu nớc của dân tộc mang tên Ngời. Chủ nghĩa
yêu nớc truyền thống của dân tộc dới ánh sáng chủ nghĩa Mác - LêNin đã có
bớc nhảy vọt về chất vơn lên ngang tầm thời đại, trong bớc nhảy vọt đó Hồ
Chí Minh là ngời đặt nn móng đu tiên của việc hình thành một chủ nghĩa
yêu nớc kiểu mới ở giai đoạn mới của lch sử dân tộc, mà những đc điểm nổi
bật là thống nhất dân tộc với giai cấp, ĐLDT với CNXH, CNYN với chủ nghĩa
Quốc tế - Vô sản. T tởng yêu nớc của Ngời lớn dần từ truyền thng yêu nớc
20