ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN
GIÁO DỤC TẤM GƢƠNG TUỔI TRẺ HỒ CHÍ MINH
CHO THANH NIÊN TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội-2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LAN
GIÁO DỤC TẤM GƢƠNG TUỔI TRẺ HỒ CHÍ MINH
CHO THANH NIÊN TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY HẠNH
Hà Nội-2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
2.1.2.2. Về đạo đức lối sống .................................................................................... 50
2.1.2.3. Về văn hóa .................................................................................................. 53
2.1.2.4. Về học tập và nghiên cứu khoa học ............................................................ 56
2.1.2.5. Về việc làm, thu nhập ................................................................................. 58
2.1.3. Đánh giá .............................................................................................................. 60
2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm giáo dục, rèn luyện thanh niên ở tỉnh Bắc Giang hiện
nay theo tấm gương tuổi trẻ Hồ Chí Minh ........................................................................... 64
2.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức
đảng, hệ thống chính trị đối với công tác giáo dục thanh niên ............................................ 64
2.2.2. Đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến trong giáo dục, rèn luyện
theo tấm gương tuổi trẻ Hồ Chí Minh.................................................................................. 66
2.2.3. Đẩy mạnh tính tự giác học tập và rèn luyện theo tấm gương tuổi trẻ Hồ Chí Minh 67
2.2.4. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Đoàn, xây dựng tổ chức Đoàn
vững mạnh; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ đoàn đáp ứng yêu cầu
hiện nay ................................................................................................................................ 68
2.2.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng, của toàn hệ thống chính
trị nhằm phát huy có hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tấm gương tuổi
trẻ Hồ Chí Minh ................................................................................................................... 69
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 73
PHỤ LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Lan
Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN
APEC:
Asia-Pacific Economic cooperation
Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC
ATGT:
An toàn giao thông
BCH:
Ban Chấp hành
CTQG:
Chính trị quốc gia
CLB:
Câu lạc bộ
ĐVTN:
Đoàn viên thanh niên
GD-ĐT:
TNTP:
Thiếu niên tiền phong
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
UNESCO:
United NationsEducational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
UBND:
Ủy ban nhân dân
WTO:
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới WTO
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
sống thực dụng, buông thả, không chịu học tập, thiếu ý thức rèn luyện phấn
đấu vươn lên, suy thoái về đạo đức…
Vì vậy, việc học tập tấm gương Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay, nhất là với thế hệ trẻ - người nắm giữ vận mệnh của
đất nước thì việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc
biệt là học tập tấm gương tuổi trẻ của Người càng có ý nghĩa lớn lao. Do đó,
quán triệt và vận dụng những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh để phát
huy tốt hơn nữa vai trò của thanh niên là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa rất quan
trọng, thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
Bắc Giang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc có nhiều tiềm năng to
lớn về tài nguyên, đất đai, khoáng sản và du lịch, đồng thời còn là mảnh đất
giàu truyền thống văn hiến, anh hùng. Trong những năm qua, Đảng bộ và
nhân dân địa phương, trong đó có lực lượng thanh niên đã phát huy thế mạnh
của mình và khắc phục những khó khăn để từng bước đi lên hòa nhập cùng
với sự phát triển chung của đất nước. Vấn đề giáo dục đạo đức, lí tưởng sống
cho thanh niên được chú trọng và được đặt lên hàng đầu.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được của tỉnh Bắc Giang mới chỉ là
bước đầu, bước sang giai đoạn mới, toàn tỉnh đang ra sức phấn đấu thực hiện
thắng lợi các mục tiêu trong “Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. Để đưa sự nghiệp đó đến thành công
phải có sự cố gắng của nhân dân lao động trong tỉnh và vai trò của đội ngũ
thanh niên tỉnh Bắc Giang.
Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giáo dục tấm gương
tuổi trẻ Hồ Chí Minh cho thanh niên tỉnh Bắc Giang hiện nay” làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Những công trình nghiên cứu về tuổi trẻ Hồ Chí Minh
2
Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VI đã
đánh giá cao vai trò của thanh niên, đề nghị thực hiện một số biện pháp nhằm
phát triển Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và phát huy vai trò của thanh
niên; Toàn văn phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỉ niệm
80 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/03/1931
– 26/03/2011) và Đón nhận Huân chương Sao vàng lần II; “Thanh niên Việt
Nam với hội nhập khu vực và thế giới” của Hồ Đức Việt (Nxb. CTQG, Hà
Nội, 1997); Đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc công trình KX 03/06 – 10 do
Viện Việt Nam học và khoa học phát triển – Đại học quốc gia Hà Nội chủ trì
do PGS.TS Phạm Hồng Tung chủ nhiệm với đề tài: “Thực trạng và xu hướng
biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội
nhập quốc tế”.
Bên cạnh đó, có một số luận văn, luận án có liên quan đến đề tài thanh
niên như: Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Tuyết (2014) với đề tài:
“Đảng bộ quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác thanh
niên từ năm 2000 đến năm 2013”; Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị
Tú Oanh (1999) với đề tài: “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” và luận án Tiến sĩ của
Ngô Bích Ngọc (2004) với đề tài: “Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng đối
với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Hà Nội
giai đoạn hiện nay”.
Các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập tương đối đầy đủ và toàn
diện về thanh niên, tuổi trẻ Hồ Chí Minh cũng như Tư tưởng Hồ Chí Minh về
thanh niên. Tuy nhiên, nhìn chung các công trình đó mới chỉ đề cập tới vấn đề
tuổi trẻ Hồ Chí Minh và thanh niên một cách khái quát. Việc nghiên cứu về
tấm gương tuổi trẻ Hồ Chí Minh và việc vận dụng vào giáo dục thanh niên ở
tỉnh Bắc Giang hiện nay chưa có nghiên cứu nào. Để góp phần vào việc giáo
4
Minh từ 1890 – 1920. Thực trạng phong trào thanh niên Bắc Giang học tập và
làm theo tư tưởng tấm gương Hồ Chí Minh và việc vận dụng tấm gương tuổi
trẻ Hồ Chí Minh vào quá trình giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng thanh niên ở
tỉnh Bắc Giang hiện nay.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề thanh niên và giáo dục thanh
niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:
Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích,
tổng hợp, thống kê…
5.3. Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập) về những phẩm chất và hoạt động của
tuổi trẻ Hồ Chí Minh.
- Các báo cáo của BCH Tỉnh đoàn Bắc Giang về Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh và thanh niên.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa những phẩm chất của tuổi trẻ Hồ Chí Minh.
- Luận văn đánh giá đúng thực trạng về thanh niên ở tỉnh Bắc Giang hiện
nay và việc vận dụng tấm gương tuổi trẻ Hồ Chí Minh đối với thanh niên ở
tỉnh Bắc Giang hiện nay.
6
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục, rèn luyện tấm gương tuổi trẻ
Hồ Chí Minh cho thanh niên tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn mới.
dân ta diễn ra sôi nổi trên các lập trường giai cấp, các phương thức, biện pháp
đấu tranh, quan điểm tập hợp lực lượng khác nhau... nhưng cuối cùng các
cuộc đấu tranh trong thời kỳ này đều không đi đến thành công. Vì các con
đường cứu nước ở thời kỳ này đã không đáp ứng được nhu cầu bức thiết của
dân tộc và không còn phù hợp với thời đại.
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền
thống yêu nước, một miền quê quật khởi, anh hùng bất khuất chống giặc
ngoại xâm. Người chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cuộc sống lầm than,
khổ cực của nhân dân, bi kịch của một dân tộc mất tự do dưới ách thống trị,
bóc lột của thực dân Pháp và quan lại nhà Nguyễn. Kế thừa truyền thống yêu
8
nước, ý chí quật cường của quê hương, tinh thần cách mạng của gia đình, ở
Nguyễn Tất Thành đã sớm nảy nở tình cảm yêu nước, thương dân sâu sắc.
Lớn lên, càng đi vào cuộc sống của nhân dân lao động, Nguyễn Tất
Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của họ, lại được theo cha đi nhiều
nơi, gặp gỡ các chí sĩ yêu nước đương thời đã giúp Người mở rộng thêm tầm
nhìn và suy nghĩ. Vấn đề thời cuộc, quan hệ đến sự sống còn của dân tộc đã
ngày càng thấm sâu vào trái tim và khối óc cậu thiếu niên Nguyễn Tất Thành
để sớm “có chí đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào”. Câu hỏi “làm thế
nào để cứu nước” sớm được đặt ra trong trí óc người thiếu niên yêu nước.
Hoạt động yêu nước đầu tiên của Nguyễn Tất Thành là tham gia phong
trào chống thuế của nhân dân tỉnh Thừa Thiên (04/1908), ba năm liên tiếp mất
mùa, nông dân kéo nhau đến tòa khâm sứ đòi giảm sưu thuế. Thực dân Pháp
thẳng tay đàn áp những người nông dân, tù đày những người yêu nước,...
Những sự kiện mà Nguyễn Tất Thành được chứng kiến và tham gia đã khiến
Người phải suy nghĩ về những thất bại của một loạt phong trào yêu nước.
Khâm phục tinh thần yêu nước của các nhà cách mạng tiền bối nhưng Nguyễn
Tất Thành nhận ra những hạn chế của họ, bởi theo Người phong trào của cụ
niên Việt Nam đầy lòng yêu nước, thương dân, ôm ấp hoài bão cứu dân cứu
nước. Một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn mở ra trong cuộc đời Nguyễn
Tất Thành.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Người tìm hiểu các cuộc cách
mạng trên thế giới. Người đề cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền
con người của các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như cách mạng tư sản
Pháp, cách mạng tư sản Mỹ… nhưng Nguyễn Tất Thành cũng nhận thấy rõ và
phê phán bản chất không triệt để của các cuộc cách mạng này, bởi làm cách
mạng rồi mà người dân lao động vẫn cực khổ, vẫn chưa thoát khỏi thân phân
nô lệ, vẫn còn áp bức, bất công, họ vẫn mưu tính làm cách mạng thêm lần
10
nữa. Những khảo sát ấy đã giúp Người khẳng định một cách rõ ràng, dứt
khoát con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc
thực sự cho nhân dân các nước nói chung và nhân dân ta nói riêng, vì vậy
cách mạng Việt Nam không theo con đường cách mạng tư sản.
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp bởi Người nhận thấy
Pháp là nơi có điều kiện khách quan thuận lợi cho việc nắm bắt tình hình
trong nước, liên lạc với những nhà yêu nước lưu vong, đi sâu tìm hiểu kẻ thù
trực tiếp áp bức, bóc lột dân tộc mình để có thể lựa chọn con đường cứu nước
đúng đắn như Người mong muốn. Lúc này chiến tranh thế giới thứ nhất lên
đến đỉnh cao và cũng là lúc cách mạng Tháng Mười bùng nổ và giành thắng
lợi ở Nga, thúc đẩy cuộc khủng hoảng trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thêm
gay gắt, đi tới kết thúc chiến tranh vào tháng 11-1918. Thắng lợi của Cách
mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa vô cùng to lớn, đưa người dân Nga từ thân
phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, thiết lập ở nước Nga một chế độ
xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa, mở ra cho xã hội loài người một thời đại
mới: quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng
Mười còn đưa ra bài học kinh nghiệm, cổ vũ mạnh mẽ ý chí đấu tranh, chỉ
để giải phóng và thực hiện quyền tự quyết cho dân tộc thì Người chưa tìm
được câu trả lời rõ ràng.
Con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc đã
được Nguyễn Ái Quốc tìm thấy sau khi Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng
trên báo L' Humanité số ra ngày 16 và 17-7-1920. Luận cương chỉ ra rằng
phải làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả
các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ
bọn địa chủ và giai cấp tư sản; các phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa
12
phải gắn chặt với cuộc đấu tranh và chiến thắng của chính quyền Xô viết đối
với chủ nghĩa đế quốc thế giới; các Đảng Cộng sản phải trực tiếp ủng hộ
phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa. Tên đầu bài có liên quan đến
vấn đề thuộc địa lập tức thu hút được sự chú ý của Nguyễn Ái Quốc. Luận
cương đã giải đáp hầu hết những vấn đề Người đang trăn trở, đang tìm kiếm
và chỉ cho Người thấy con đường cứu nước, cứu dân tộc mình. Việc Nguyễn
Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về
đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng ở nước ta. Từ đây, cách mạng Việt
Nam đi theo một con đường mới - con đường cách mạng vô sản.
Sau khi đọc luận cương của Lênin, hình ảnh của Lênin và Quốc tế III
luôn là nguồn động lực tinh thần cổ vũ Người dũng cảm và vững bước đi trên
con đường đã xác định. Chính vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XVIII (12-1920) của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tội ác, thủ
đoạn áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương của bọn tư bản và yêu cầu Đảng
Xã hội Pháp phải có hoạt động thiết thực để ủng hộ những người dân bản xứ
bị áp bức, đồng thời yêu cầu Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong
các nước thuộc địa, phải đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa.
Người kêu gọi: “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng
đấu chống lại kẻ thù trong suốt chiều dài lịch sử. Chính chủ nghĩa yêu nước
đã thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tim đường cứu nước bởi “Tôi chỉ có một sự
ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước nhà được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành”[33, tr.187].
Thứ hai, là tinh thần trọng nhân nghĩa, hiền tài, nhân ái, tương thân
tương ái. Cùng với chủ nghĩa yêu nước, các truyền thống này cũng được hình
thành cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Người Việt
Nam sống gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong tình làng nghĩa xóm,
14
tắt lửa tối đèn có nhau. Điều này đã tác động đến ý nghĩ và hành động của
Người ngay từ thuở thiếu thời cũng như suốt quá trình hoạt động cách mạng.
Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống đoàn kết từ
lâu đời, nó trở thành triết lý nhân sinh của người Việt. Tính cố kết cộng đồng,
tinh thần giúp đỡ nhau trong cuộc sống đã tạo thành sức mạnh to lớn giúp dân
ta đánh bại hết kẻ thù này đến kẻ thù khác. Hồ Chí Minh là hiện thân cho
đoàn kết dân tộc, và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng.
Thứ tư, nhân dân ta từ xưa đến nay luôn luôn lạc quan yêu đời. Trong
cuộc sống người Việt Nam luôn gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng vẫn
động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”. Tinh thần lạc quan đó là
cơ sở hình thành niềm tin và sức mạnh của bản thân mình, tin tưởng vào một
tương lai tươi sáng, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa dù trước mắt
còn đầy gian truân khổ ải. Hồ Chí Minh chính là tấm gương sáng ngời của
truyền thống lạc quan đó.
Thứ năm, nhân dân ta luôn cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng,
kiên cường trong chiến đấu. Dân tộc Việt Nam hình thành và phát triển trong
điều kiện hoàn cảnh tự nhiên và xă hội không ít những khó khăn, khắc nghiệt
từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Để tồn tại và phát triển, người Việt Nam
học… Ở Nho giáo, Người cũng thấy được mặt hạn chế như yếu tố duy tâm,
lạc hậu, phản động, tư tưởng đẳng cấp, coi thường phụ nữ… để loại bỏ và
khắc phục
Thứ hai, về Phật giáo, Phật giáo có nhiều mặt tích cực để lại dấu ấn rất
sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của người Việt Nam. Triết lý
đạo Phật chứa đựng những tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn,
thương người như thể thương thân, tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác
chống lại mọi phân biệt đẳng cấp. Khuyên con người có nếp sống có đạo đức,
trong sạch, giản dị, chăm làm việc thiện, đề cao lao động, chống lười biếng, là
16
chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với nước… Gia
đình Bác Hồ cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn sâu đậm trong
nhân cách và phẩm chất Hồ Chí Minh.
Thứ ba, Lão giáo do Lão tử sáng lập, chủ trương đưa con người trở về
thiên nhiên, giao hòa với cảnh vật, thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc của danh
lợi, đồng thời, răn dạy con người sống lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên,...
Tư tưởng này cũng phần nào ảnh hưởng đến Người và điều này đã được thể
hiện rõ qua cuộc đời hoạt động cách mạng và cuộc sống hàng ngày của
Người.
Thứ tư, về chủ nghĩa Tam dân, từ nhỏ theo cha đàm đạo, Nguyễn Tất
Thành đã được nghe về Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa “Tam dân” nhưng chưa
hiểu. Sau này Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tư tưởng của Tôn Trung Sơn và
thấy nó cần thiết cho cách mạng Việt Nam, vì vậy Người đã tiếp thu những
giá trị phù hợp để vận dụng vào cách mạng nước ta góp phần đưa cách mạng
đến thắng lợi.
Có thể nói, những giá trị tinh hoa văn hóa phương Đông đã được Hồ
Chí Minh tiếp thu và phát huy góp phần hình thành nên đạo đức, nhân cách,
văn hóa cũng như những tư tưởng của Người sau này.
giá trị tiến bộ của tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh còn có sự vận
dụng, phát triển sáng tạo những giá trị tiến bộ đó lên một tầm cao mới hình
thành nên những tư tưởng mang dấu ấn con người Hồ Chí Minh.
Ba là, Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác ra đời (1848) đã giải đáp được những yêu cầu bức thiết
của lịch sử trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản đang phát triển và đáp ứng được
nguyện vọng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp
18