MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC GIÁ
3
TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
CHO THANH NIÊN TỈNH BẮC GIANG
1.1. Quan niệm và vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền
9
thống dân tộc cho thanh niên tỉnh Bắc Giang
1.2. Những nhân tố quy định việc giáo dục giá trị đạo đức
9
truyền thống dân tộc cho thanh niên tỉnh Bắc Giang
Chương 2 GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
33
DÂN TỘC CHO THANH NIÊN TỈNH BẮC GIANG
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1. Thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
42
tộc cho thanh niên tỉnh Bắc Giang hiện nay
vấn đề đặt ra.
Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một
phần rất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, thanh niên nói riêng. Liệu chúng ta
có thể giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị phai nhạt
lý tưởng, thiếu ý thức giữ gìn những giá trị truyền thống dân tộc? Trong
những điều kiện mới của đất nước, chúng ta đã chuẩn bị “hành trang” gì
cho họ? Điều tiên quyết và không thể thiếu đó là “truyền thống dân tộc”,
những truyền thống đáng tự hào của lịch sử mấy nghìn năm dựng nước
và giữ nước đã giúp chúng ta “hội nhập” mà không bị “hòa tan”, phát
triển mà không bị “mất gốc”, trọng truyền thống mà không bảo thủ, tất
cả những điều đó đã và đang giúp cho thanh niên Việt Nam nói chung thanh niên Bắc Giang nói riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình,
đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại.
Hiện nay, một bộ phận thanh niên chạy theo lối sống hưởng thụ, mà họ
cho là hợp thời, sành điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
Với các biểu hiện suy thoái đạo đức trong thanh niên như lôi kéo bè cánh để
3
đánh nhau (cả trai lẫn gái), thậm chí hành hung cả thầy cô giáo; bạn bè chém
giết lẫn nhau chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ, trẻ vị thành niên cũng gây ra nhiều
vụ án mạng. Những biểu hiện đó ở một bộ phận thanh niên đang làm xói mòn
những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho thanh niên tỉnh Bắc Giang là vấn đề hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện
nay. Đó cũng là lý do để tác giả của luận văn chọn đề tài: “Giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên tỉnh Bắc Giang hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức truyền thống dân tộc
Mảng đề tài về truyền thống và đạo đức truyền thống được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình, bài viết có giá trị. Đó
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho thanh niên Tỉnh Bắc Giang, (thanh niên học đường từ 15 đến 22 tuổi);
thời gian khảo sát từ năm 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức
truyền thốngdân tộc. Ngoài ra, luận văn có tham khảo, kế thừa các thành tựu
của một số công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn quá trình quán triệt, thực hiện các quan điểm, tư tưởng chỉ
đạo, xây dựng thanh niên vững mạnh về mọi mặt; đặc biệt là thực trạng giáo
dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên tỉnh Bắc Giang hiện
nay, từ kết quả điều tra khảo sát của tác giả.
7
* Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó chú trọng phương pháp logic và lịch sử, phân
tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, điều tra xã hội học, phương pháp
chuyên gia…
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo trong nghiên cứu và giảng dạy đạo đức học. Đề tài cũng có ý nghĩa
đối với công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên tỉnh Bắc Giang
hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, hai chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người
nhất định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định và
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền thống là tinh hoa đã được
9
chắt lọc qua thử thách của thời gian và được nâng cao dần theo trình độ phát
triển mọi mặt của con người và xã hội mà không xa rời nguồn cội. Trải qua
hàng ngàn năm lịch sử, những truyền thống đó đã tạo nên bản sắc của dân tộc
Việt Nam, tâm hồn và bản lĩnh của con người Việt Nam.
Giá trị truyền thống, theo quan điểm lịch sử và biện chứng, ở một thời
điểm lịch sử nhất định, truyền thống bao giờ cũng có tính hai mặt: mặt tích
cực và mặt tiêu cực. Mặt tích cực bao gồm những yếu tố ưu việt, tiến bộ, phù
hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc;
còn mặt tiêu cực là hiện thân của sức ỳ, của sự bảo thủ, lạc hậu, có ảnh hưởng
tiêu cực tới sự phát triển của xã hội. Hai mặt mâu thuẫn đó cùng tồn tại song
song trong di sản truyền thống và có khi đan xen, chồng chéo lên nhau. Tuy
nhiên, khi nói đến giá trị truyền thống là ta muốn nói tới những mặt tốt đẹp,
mặt tích cực, là đặc trưng cho bản sắc dân tộc trong truyền thống và đã trở
nên ổn định, lâu bền, có khả năng trao truyền lại qua không gian và thời gian,
là những gì mà chúng ta cần duy trì và phát triển. "Nói đến giá trị tức là muốn
khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi
giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái có khả năng
thôi thúc con người hành động và vươn tới"[10, tr.16]. Hơn nữa, "Không phải
cái gì tốt thì mới được gọi là giá trị, mà phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản,
có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự
nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới được mang danh là giá trị
truyền thống" [22, tr.50].
Trong hệ thống giá trị văn hóa, tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
ta, nổi bật nhất là đạo đức truyền thống. Đạo đức truyền thống "Đã được gìn giữ
nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh
đã dạy: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên” [45,
tr.383]. Ở tỉnh Bắc Giang, việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho thanh niên là nhằm trang bị cho họ hệ thống những giá trị đạo đức cao
đẹp của dân tộc Việt Nam đã được gìn giữ và phát triển qua bao thế hệ
12
Người Việt. Đây là điều kiện thuận lợi để thanh niên có nền tảng vững chắc
cho sự hình thành phát triển nhân cách của mình.
Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là hoạt động có mục
đích của các chủ thể và đối tượng giáo dục, nhằm trang bị những giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên, thông qua hệ thống nội
dung, hình thức, biện pháp khoa học, góp phần hoàn thiện phẩm chất
nhân cách cho thanh niên tỉnh Bắc Giang.
Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên tồn tại
như một hệ thống luôn ở trạng thái vận động, phát triển không ngừng, diễn
ra trong môi trường nhà trường và xã hội. Sự vận động, phát triển đồng bộ,
tổng hợp của các thành tố tạo nên sự vận động, phát triển của quá trình giáo
dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên Bắc Giang. Đó là quá
trình tương tác hợp quy luật giữa giáo dục và đào tạo của Nhà trường với sự
tự giáo dục, rèn luyện của người học nhằm hình thành, phát triển ở họ những
chuẩn mực đạo đức cách mạng theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Quan niệm
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên Bắc Giang biểu
hiện trên những nội dung sau:
Một là, mục đích giáo dục nhằm trang bị cho người học hệ thống giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam; hình thành, phát triển ở họ những phẩm
chất đạo đức cách mạng trên cơ sở, nền tảng giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc; đồng thời để hình thành, phát triển bản lĩnh chính trị, năng lực, phong cách
của người thanh niên theo mục tiêu đào tạo. Mục đích giáo dục giá trị đạo đức
tượng giáo dục, vì vậy giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc phải đi
sâu nghiên cứu đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức, nhu cầu của đối tượng để
có các biện pháp giáo dục cho phù hợp.
Bốn là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là quá trình tác
động có hệ thống, liên tục của các chủ thể giáo dục. Quá trình tác động có hệ
14
thống, liên tục nhằm hình thành, phát triển ở thanh niên Bắc Giang những
chuẩn mực đạo đức của dân tộc.
Năm là, những nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
thanh niên tỉnh Bắc Giang được thông qua dưới nhiều hình thức, biện pháp với
những phương tiện giáo dục tác động phong phú linh hoạt. Thông qua việc thực
hiện các hình thức tổ chức dạy học như: diễn giảng, thảo luận, xêmina, làm bài tập
thực hành, thực tập, kiểm tra, các hoạt động rèn luyện ngoại khoá; các hoạt động
chính trị - xã hội; thông qua sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp, phương
tiện của công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách; thông qua quá
trình tự tu dưỡng, rèn luyện của người học theo các chuẩn mực đạo đức xã hội. Tất
cả những hình thức, biện pháp đó đều có vị trí, vai trò quan trọng đối với việc
thực hiện các nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
thanh niên Bắc Giang, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, liên hệ
nhau trong chỉnh thể của phương thức giáo dục. Vì vậy, không được coi nhẹ
hoặc tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức, biện pháp nào.
Sáu là, thông qua giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
thanh niên nhằm hoàn thiện phẩm chất nhân cách của họ. Các giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc có vai trò quan trọng trong giáo dục nhân cách, khái
quát lại ở những điểm cơ bản sau: là cơ sở nền tảng để phát triển nhân cách
mới cho thanh niên tỉnh Bắc Giang nói riêng và thanh niên Việt Nam nói
chung; là động lực, là ngọn nguồn phát triển dân tộc, tạo nên sức mạnh tinh
thần và bản lĩnh cho thế hệ thanh niên vươn lên trong giai đoạn mới; các giá
quốc, của nhân dân lên trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương đất nước, sẵn
sàng chống đô hộ và xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và
phát huy văn hóa dân tộc. Lòng yêu nước của dân tộc ta đã trở thành triết lý
sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu nước như giáo sư Trần Văn
Giàu đã viết: “Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt
Nam được bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương
mình tiến lên thành lý tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức
16
đúng sai, tốt xấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và
bảo vệ nước nhà” [23, tr.7]
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lịch
sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, yêu nước trước hết là nêu cao tinh thần
chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Điều này đã được chứng minh
qua lịch sử đấu tranh của dân tộc ta để bảo vệ độc lập dân tộc xây dựng đất
nước. Trải qua hơn một nghìn năm dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến
phương Bắc, cha ông ta vẫn kiên cường giữ nước, giữ làng. Mỗi làng xóm
Việt Nam là một thành trì vững chắc chống lại chính sách đô hộ của bọn
ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Khi đất nước đã hoàn toàn giải
phóng, truyền thống yêu nước được thể hiện trong điều kiện tồn tại của nhà
nước phong kiến độc lập. Trong khoảng thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV, nhân
dân cả nước thực sự bắt tay vào xây dựng đất nước. Công cuộc khai khẩn
đất đai, xây dựng các công trình thủy lợi, phát triển nông nghiệp, mở mang
nhiều ngành nghề đã góp phần hình thành một nền kinh tế tự chủ, đáp ứng
phần lớn các nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong nước và đặt cơ sở cho
việc ngoại giao với các nước khác. Trên cơ sở kinh tế đó, nhà nước phong
kiến được củng cố và phát triển với đầy đủ các thiết chế chính trị, quân sự,
văn hóa ý thức dân tộc do đó cũng được tăng cường và củng cố thêm.
Truyền thống đó một lần nữa lại được phát huy cao độ trong cuộc chiến
bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm. Tinh thần ấy thể hiện
từ rất sớm ngay trong truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con”. Nhờ đoàn kết
mà cha ông ta đã sáng tạo nên nền văn minh Sông Hồng, đặt cơ sở cho toàn
bộ tiến trình về sau của lich sử. Đoàn kết đã giúp nhân dân ta vượt qua những
thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, phát triển sản xuất để phục vụ đời sống
của mình. Tinh thần đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân
ta đánh thắng mọi thế lực xâm lược.
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện trong
gia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn thể cộng đồng các
18
dân tộc Việt Nam. Có lẽ, hiếm có một dân tộc nào mà tinh thần đoàn kết lại
được biểu hiện nhiều và đa dạng như ở những làng quê Việt Nam. Ở bất cứ
lĩnh vực gì người ta cũng tạo ra sự nhất trí cao như Đào Duy Anh đã nhận xét:
“Ở trong một làng người ta thấy những cuộc đoàn kết nhỏ như hội tư văn gồm
những người có chức tước khoa danh, hội văn phả gồm những người nho học
mà không có phẩm hàm khoa mục gì, hội võ phả gồm những người quan võ,
hội đồng môn gồm có tất cả học trò của một thầy. Ngoài ra còn có vô số các
đoàn thể khác, như hội mua bán dùng cách gắp thăm hay bỏ tiền úp bát mà
lần lượt góp tiền cho nhau trong việc khánh hỷ, cùng là những hội bách nghệ
họp các thợ thủ công đồng nghiệp, hội chư bà họp các bà vãi lễ phật, hội đồng
quan họp những bà thờ đồng thánh, hội bát âm họp các tài tử âm nhạc, cho
đến hội chọi gà, hội chọi chim…xem thế thì thấy người nhà quê ta rất ham lập
hội” [1, tr.144].
Tinh thần cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh thần đoàn kết dân
tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Từ kinh nghiệm thực tế ông cha ta đã khẳng định rằng “Đoàn kết thì sống,
chia rẽ thì chết”, rồi “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn
núi cao” và chắc rằng mỗi người trong chúng ta đều không thể quên được câu
đùm bọc nhau “anh em như thể tay chân”. Truyền thống nhân ái còn xuất phát
từ tình yêu quê hương đất nước, từ lòng yêu thương con người “thương người
như thể thương thân” của người dân Việt Nam.
Lòng nhân ái, yêu thương con người của người Việt còn thể hiện ở lòng
vị tha, cao thượng, không cố chấp với những kẻ lầm đường, lạc lối. Trong
Bình ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã từng viết: “Lấy đại nghĩa để thắng hung
tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo”.
Người Việt Nam luôn lấy tình yêu thương làm cách xử thế ở đời, lấy
lòng nhân nghĩa để quy phục người khác. Đối với kẻ thù còn mở đường hiếu
sinh khi chúng thua trận như vua Quang Trung khi đánh bại quân Thanh còn
cấp lương thảo và phương tiện cho đám tàn quân trở về nước. Sau này trong
20
các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta cũng luôn lấy tinh
thần đó để đối xử với họ, chính điều này đã đem đến sự cảm kích và thức tỉnh
lương tâm của nhiều người lính khi tham gia chiến trận ở Việt Nam.
Lòng nhân ái, yêu thương con người còn thể hiện ở sự yêu chuộng hòa
bình, khao khát hòa bình không chỉ cho dân tộc ta mà cho tất cả các nước trên
thế giới. Trong quan hệ bang giao với các nước láng giềng, nhân dân ta bao
giờ cũng trọng tình hòa hiếu, cố gắng tránh những xung đột dẫn đến đổ máu,
tận dụng mọi cơ hội để giải quyết hòa bình cuộc xung đột giữa nước mình với
các nước khác. Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng nói: Dân tộc ta là một dân tộc
giàu lòng bác ái, và chính Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, bao
dung, yêu thương đó.
Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam theo lập trường chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lòng nhân ái, bao dung của dân
tộc ta được nâng lên một tầm cao mới. Lý tưởng nhân đạo của giai cấp công
nhân là giải phóng người lao động thoát khỏi chế độ bóc lột, giải phóng các
dân tộc bị áp bức, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Vì thế, nó mang
đất nước. Quốc Tử Giám là một kiểu trường đại học quốc lập đầu tiên ở Việt
Nam được thành lập để đào tạo nhân tài. Trên bia số 1 của văn miếu đã ghi
“Hiền tài là nguyên khí của đất nước. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và
vươn cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp. Bởi vậy, các đấng
thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén chọn
kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí làm việc đầu tiên” [53, tr.19].
Người Việt ta có câu: Mồng một tết cha, mồng hai tết chú, mồng ba tết
thầy, “cơm cha, áo mẹ, nghĩa thầy”, “không thầy đố mày làm nên”. Để con cái
chuyên tâm vào học hành, các bậc cha mẹ rất chú trọng giáo dục con cái nhận
thức được ý nghĩa, lợi ích của sự học, “vàng chất bằng non, chẳng bằng cho
con đi học”.
22
Biết bao tấm gương vượt khó trong học tập như Nguyễn Ngọc Ký - một
người bị liệt cả hai tay từ nhỏ, nhưng đã quyết tâm học tập, tốt nghiệp cử
nhân khoa văn, làm giáo viên dạy văn ở một trường phổ thông. Bằng quyết
tâm lớn và lòng kiên trì, dũng cảm phi thường, anh đã làm điều khó có thể tin
là sự thật, anh viết bằng chân lên trang giấy.
Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta rất quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, coi giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người phấn đấu cho mục đích là
làm sao “ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành”.
Trong “Thư gửi cho học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay
không, dân tộc Việt Nam ta có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc, năm châu được hay không chính là nhờ phần lớn vào công học
tập của các em” [46, tr.23].
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu,
cho nhau để tạo nên nét riêng trong nhân cách con người Việt. Chính vì lẽ đó,
những truyền thống tốt đẹp này đã được lưu giữ và phát huy qua nhiều thế hệ
cho đến ngày hôm nay.
Bên cạnh đó cần giáo dục cho thanh niên hiểu rõ bản chất, nắm vững
những phạm trù cơ bản của đạo đức như lẽ sống, hạnh phúc, lương tâm, cái
thiện và cái ác theo đạo đức học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.1.2. Vai trò của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
thanh niên tỉnh Bắc Giang
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước do Đảng ta lãnh đạo, nhằm xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng trở nên
giàu đẹp thì chúng ta cần có nguồn lực con người vững mạnh, đó phải là
những con người mới, những con người phát triển toàn diện về mọi mặt, trong
đó, đức là gốc, là nền tảng để sử dụng hữu ích tài năng giúp mình, giúp nước
25
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: có đức mà không có tài thì không có đủ
năng lực điều hành công việc. Có tài mà không có đức dẫn tới hỏng việc, có
hại cho cách mạng. Với chiến lược phát triển con người toàn diện phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thế hệ trẻ là đối tượng cần phải chú ý
đầu tiên, bởi lẽ, họ “là người chủ tương lai của nước nhà” và “muốn hồi sinh
dân tộc, trước hết phải hồi sinh thanh niên”.
Chính vì vậy, việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
thanh niên tỉnh Băc Giang có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt, khẳng định
điều đó là do:
Một là, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên
tỉnh Bắc Giang xuất phát từ vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thuật ngữ thanh niên dùng để chỉ những người đang học tập ở các
trường trung học phổ thông, cao đẳng và đại học,