LUẬN văn THẠC sĩ GIÁO dục TRUYỀN THỐNG dân tộc VIỆT NAM CHO SINH VIÊN tại THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH hội NHẬP QUỐC tế - Pdf 39

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội hợp tác để Việt Nam
có những điều kiện cần thiết phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời cũng là
cơ hội để chúng ta giao lưu văn hoá với các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, trong hội nhập kinh tế phải tích
cực, chủ động, có nguyên tắc nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tạo
cơ sở để thực hiện mục tiêu “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI). Trong giao lưu văn hoá, quan điểm của chúng ta là hòa nhập nhưng
không hòa tan, thực hiện mục tiêu xây dựng “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc”. Để thực hiện mục tiêu đó có nhiều phương thức, bao gồm
nhiều nội dung, trong đó việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho
lớp trẻ nhất là sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước rất quan
trọng, vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Sau hơn 25
năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng kể
từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan
trọng, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển trở thành nước trong nhóm
quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình và tham gia mở cửa, hợp tác
quốc tế khá thành công. Xu thế hội nhập quốc tế không chỉ giúp chúng ta có
điều kiện tranh thủ các yếu tố thuận lợi bên ngoài học hỏi kinh nghiệm, hợp
tác, chuyển giao kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại, phát huy lợi thế so
sánh trong nước để phát triển kinh tế mà trong lĩnh vực văn hoá chúng ta có
được cơ hội để giao lưu, tiếp nhận những tinh hoa văn hoá tiên tiến của các
dân tộc khác phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên,
xu thế hội nhập quốc tế cũng đang đặt ra cho chúng ta những thách thức, nguy


2


3

cực đối với sự phát triển của thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng, đồng
thời nâng cao ý thức độc lập tự chủ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong quá trình trực tiếp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với hoạt động nghiên cứu khoa học về các vấn
đề xã hội tác động đến việc học tập, rèn luyện của sinh viên, xuất phát từ nhận
thức tầm quan trọng và sự cần thiết của việc giáo dục các giá trị truyền thống
dân tộc đối với sinh viên trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, bản thân đã
xác định vấn đề nghiên cứu, mong muốn góp phần tìm ra giải pháp nhằm giữ
gìn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong đời sống thực tiễn, chính
vì thế chúng tôi đã chọn đề tài Giáo dục giá trị truyền thống dân tộc Việt
Nam cho sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập
quốc tế cho hoạt động nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bàn về vấn đề giá trị truyền thống dân tộc và giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc Việt nam trong giai đoạn hiện nay có nhiều công trình nghiên
cứu của các tác giả như: GS. Trần Văn Giàu với Giá trị tinh thần truyền thống
của dân tộc Việt Nam (1980); GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn: Hội nhập quốc
tế - cơ hội và thách thức đối với các giá trị truyến thống trong điều kiện toàn
cầu hoá hiện nay (2004); PGS.TS. Phạm Duy Đức (chủ biên) với Những
thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
(2006); TS. Mai Thị Quý: Toàn cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị
truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (2009)… các
công trình này chủ yếu nêu ra những thách thức của hội nhập quốc tế và toàn
cầu hóa đối với việc giữ gìn các giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân
tộc. Bên cạnh đó còn có một số tác giả nghiên cứu các giá trị truyền thống
trong các lĩnh vực cụ thể như lối sống văn hóa truyền thống, đạo đức truyền
thống hay gia đình truyền thống trước tác động của xu thế hội nhập quốc tế

thì chưa thể giải quyết được những yêu cầu của đời sống đặt ra trước thực
trạng rất đáng lo ngại trong nhận thức, hiểu biết của sinh viên về các giá trị


5

truyền thống dân tộc bên cạnh sự biến đổi theo hướng tiêu cực trong thái độ,
hành vi, lối sống của sinh viên trong việc tiếp nhận các yếu tố văn hóa ngoại
lai. Thực tế hiện nay đòi hỏi cần có thêm công trình nghiên cứu về đề tài sinh
viên cũng như sự quan tâm nhiều hơn nữa của các nhà nghiên cứu, nhà giáo
dục, các cấp chính quyền, cơ quan quản lý lĩnh vực văn hóa - giáo dục của địa
phương, các đoàn thể, tổ chức - xã hội, gia đình nhằm phân tích rõ thực trạng
các mặt, các yếu tố của xu thế hội nhập quốc tế ảnh hưởng đến đời sống sinh
viên, tình hình giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho sinh viên ở các
trường đại học, cao đẳng, chỉ ra nguyên nhân những hạn chế của thực trạng
và sự cần thiết phải giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho sinh viên,
trên cơ sở đó tìm ra giải pháp thiết thực để tăng cường và nâng cao hiệu quả
việc giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho sinh viên ở các trường đại
học, cao đẳng tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong xu thế hội nhập quốc tế
hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam và thực trạng công tác giáo
dục các giá trị truyền thống dân tộc cho sinh viên.
4. Phạm vi nghiên cứu, khảo sát
Một số trường đại học, cao đẳng tiêu biểu cho các loại hình, lĩnh vực
đào tạo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử - lôgíc.
- Phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, (phần cơ sở lý


7

Chương 1
GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
1.1. Giá trị truyền thống và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
1.1.1. Quan niệm về giá trị và giá trị truyền thống dân tộc
1.1.1.1. Khái niệm giá trị và giá trị truyền thống
Mỗi quốc gia dân tộc đều trải qua quá trình phát triển lâu dài, trong quá
trình đó, mỗi bước phát triển đều để lại dấu ấn không chỉ ở các di chỉ địa chất
mà còn lưu đọng trong không gian, thời gian và tâm khảm của cộng đồng
trong suốt chiều dài lịch sử. Cho dù thời gian trôi đi, vạn vật theo quy luật
“nước chảy đá mòn”, nhưng những dấu ấn đó không mất đi mà vẫn được hun
đúc, giữ gìn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành những giá
trị riêng có của dân tộc, đó là những giá trị truyền thống dân tộc.
Khái niệm “Giá trị”, xuất hiện rất sớm trong lịch sử ngôn ngữ nhân
loại, theo tiếng Anh là valuers; tiếng Pháp là values. Hiện nay khái niệm giá
trị đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau và
trong mỗi ngành khoa học, khái niệm giá trị được hiểu theo những nội dung
khác nhau. Trong Từ điển tiếng Việt, giá trị có nghĩa là “cái làm cho một vật
có ích lợi, có ý nghĩa; là đáng quý về mặt nào đó” [73, 502]. Chủ nghĩa Mác Lênin nhìn nhận từ phương diện văn hóa - triết học, nội dung của khái niệm
giá trị được xác định một cách khái quát nhất, giá trị là hiện tượng xã hội đặc
thù và mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng.
Theo Giáo sư Vũ Khiêu: “giá trị là những thành tựu của con người đóng góp
vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc
của con người. Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ xã hội giữa chủ thể với đối
tượng” và “được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát
từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn” [24, 10].

cũng như "nếu không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không
thể có châu Âu hiện đại được" [66, 1780]. Như vậy, theo Ph. Ăngghen, không


9

thể áp đặt một quan niệm về phẩm chất của giá trị cho mọi không gian, mọi
thời gian, với mọi hoàn cảnh và mọi dân tộc.
“Truyền thống” vốn là một từ Hán – Việt, đó là những yếu tố của di tồn
văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập
quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình
thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác
và được lưu giữ lâu dài [7, 9]. Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác,
truyền thống cũng do tồn tại xã hội, phương thức sản xuất, đời sống vật chất
quyết định. Do điều kiện lịch sử - xã hội luôn vận động, biến đổi nên những
truyền thống được hình thành trên đó cũng không nhất thành bất biến, mỗi khi
hoàn cảnh lịch sử thay đổi thì truyền thống cũng biến đổi theo, vì thế việc
thừa nhận và đánh giá truyền thống phải có quan điểm lịch sử - cụ thể. Truyền
thống có tính hai mặt, những yếu tố truyền thống đẹp là cốt cách tinh túy,
được xem là “thuần phong mỹ tục” thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng;
ngược lại, những truyền thống đã trở nên lỗi thời vốn là những thói quen mà
cộng đồng tạo ra một thời kỳ rất dài, ăn sâu vào nếp sống con người, đến thời
kỳ sau vẫn tiếp tục tồn tại “đè nặng như quả núi lên đầu óc của những người
đang sống” [38, 145]. Trên thực tế, truyền thống vốn là những gì của thế hệ
trước lưu truyền lại cho thế hệ sau, nên truyền thống là một trong những yếu
tố bền vững, bảo thủ và khó thay đổi, thậm chí là vật cản đối với sự phát triển
của cộng đồng.
“Giá trị truyền thống” là khái niệm tổng hợp của khái niệm giá trị và
khái niệm truyền thống, những yếu tố truyền thống tốt đẹp được xã hội đánh
giá là đúng đắn và được được kiểm nghiệm qua thực tiễn, hiển nhiên trở thành

“con trâu đi trước, cái cày đi sau”, “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, cùng
với phong tục tập quán, gắn với cách sinh sống làng – xã, nhất là quan niệm
về đạo đức và tôn ti trật tự của lễ giáo, nên giá trị truyền thống dân tộc phản
ánh các thành tố đó một cách rõ nét. Trong khi đó các nước phương Tây, sự ra
đời của các quốc gia – dân tộc gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa và chịu sự quy định của cách thức lao động công nghiệp vì thế mà các


11

giá trị là sự phản ánh các thành tố đó trong sản xuất, quan hệ xã hội cũng như
trong tác phong, lối sống công nghiệp của con người.
Tuy nhiên, cho dù là dân tộc nào với những nét đặc thù riêng và có quá
trình lịch sử ra sao, thì những giá trị truyền thống dân tộc đó đều có những
đặc tính cơ bản, đó là tính lịch sử; tính giao thoa – tiếp biến; tính kế thừa và
phát triển; tính tác động hai mặt đối với xã hội hiện tại.
Tính lịch sử của giá trị truyền thống dân tộc được hiểu là giá trị truyền
thống của một dân tộc được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, do
điều kiện kinh tế - xã hội quy định, nó không phải là cái có sẵn, tồn tại vĩnh
cữu. Giá trị truyền thống của dân tộc cũng không phải là cái do con người
nghĩ ra hay do cộng đồng tự tạo dựng một cách chủ quan, tự phát mà nó được
hình thành, xây dựng bởi chính những điều kiện lịch sử, những yếu tố kinh tế
- xã hội mà dân tộc đó trải qua. C. Mác đã viết: “Cả một kiến trúc thượng tầng
những cảm giác, những ảo tưởng, những lối sống và quan niệm sống khác
nhau và độc đáo đã mọc lên trên những hình thức sở hữu khác nhau, trên
những điều kiện sinh hoạt xã hội…Một cá nhân, qua truyền thống hoặc do
giáo dục mà tiếp thu được những tình cảm và quan điểm ấy” [38, 179-180].
Như vậy, giá trị truyền thống được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
mà những điều kiện khách quan luôn vận động, biến đổi, vì vậy khi điều kiện
lịch sử thay đổi thì giá trị truyền thống cũng được nhìn nhận, đánh giá theo

trong sự giao tranh đó, các dân tộc có năng lực tiếp biến giá trị khác nhau, có
dân tộc đã bị mất quê hương, bản quán của tổ tiên, đồng thời chấp nhận
những giá trị áp đặt của thế lực đồng hóa. Ngược lại, có những dân tộc dẻo
dai chống trả cường quyền và uyển chuyển trong sự giao thoa - tiếp biến văn
hóa để vượt qua khó khăn mà vẫn gìn giữ được các giá trị truyền thống dân
tộc và trường tồn. Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam trong thời Bắc
thuộc, quyền lực của kẻ xâm lăng chỉ thắng bằng bạo lực, cướp đoạt những tài
sản vật chất chứ không cưỡng đoạt được giá trị tinh thần và vì thế họ đã thất
bại trong việc thực hiện mưu đồ đồng hóa. Chính trong khó khăn đó, dân tộc
ta đã “ló cái khôn” chịu sự va đập và uyển chuyển tiếp biến hài hòa để tồn tại.


13

Tính kế thừa và phát triển, đặc tính này thể hiện thang bậc cao hơn của
tính giao thoa - tiếp biến. Cũng vì giá trị truyền thống có tính lịch sử, cho nên
khi điều kiện lịch sử - xã hội thay đổi, các giá trị truyền thống cũng có sự biến
đổi theo. Những truyền thống đã lỗi thời, trở thành vật cản, níu kéo sự phát
triển bị đào thải, loại bỏ; những truyền thống tích cực, tiến bộ được giữ gìn,
bổ sung để kế thừa, rồi hình thành những giá trị mới phát triển phù hợp với
điều kiện lịch sử mới. Giá trị truyền thống dân tộc là những yếu tố được thế
hệ trước truyền lại cho thế hệ sau, nhưng trên thực tế truyền thống là một
trong những yếu tố bền vững, khó thay đổi, vì nó được hun đúc, tôi luyện và
sàng lọc qua thời gian, được thử thách trong suốt quá trình phát triển của dân
tộc. Chính vì thế, cho dù điều kiện lịch sử đã biến đổi, thì các giá trị truyền
thống không thay đổi kịp, thậm chí bảo thủ và trì trệ, trở thành “quả núi” đè
nặng lên thế hệ sau. Do đó, để duy trì những truyền thống có giá trị, các dân
tộc phải có cách kế thừa, phát huy và tiếp nhận những yếu tố cần thiết như
“hạt nhân hợp lý” để phát triển. Như đã nói ở trên, sự khôn ngoan của dân tộc
Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa trước giặc phương Bắc đã biết

1.1.2. Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
1.1.2.1. Dân tộc Việt Nam và những yếu tố cấu thành giá trị truyền
thống dân tộc
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, do có vị trí tự
nhiên đặc biệt, hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động và chịu tác động, ảnh
hưởng của các quốc gia, dân tộc khác trong khu vực mà quá trình hình thành,
phát triển của dân tộc ta chứa đựng những yếu tố phức tạp. Dân tộc Việt Nam
hình thành rất sớm, trên bốn nghìn năm dựng nước, giữ nước, dân tộc ta trải
qua những bước phát triển thăng trầm, trong quá trình đó các cộng đồng dân
tộc Việt nam đã xây dựng, tạo lập nhiều giá trị truyền thống, đó là cơ sở, động
lực để dân tộc Việt Nam trường tồn và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử.
Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc cũng đồng thời là quá trình tạo
ra những yếu tố cấu thành nên các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia dân tộc hình thành rất sớm trong thời
đại phong kiến, phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa


15

nước, với hai nhân tố - yêu cầu phát triển chủ yếu là trị thủy và chống ngoại
xâm. Ngay từ thời dựng nước, cư dân Việt cổ đã phải đối mặt với những điều
kiện tự nhiên khắc nghiệt, chống chọi với thiên tai lam lũ, vất vả để sinh tồn,
vì thế tạo nên tính cách lao động cần cù, chịu thương, chịu khó. Đồng thời,
đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên phong phú lại ở vị trí địa lý
khá thuận lợi, nơi giao lưu kinh tế, văn hóa của cả vùng và là con đường
thông thương, tiếp giáp với nhiều cộng đồng dân tộc mà thời cổ là những dân
tộc lớn. Những ưu thế về vị trí chiến lược và nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên
khiến nước ta trở thành mục tiêu thôn tính của các thế lực xâm lăng, hiếu
chiến, hung hãn nhiều thời đại với sức mạnh hơn hẳn dân tộc ta gấp bội lần.
Do quá trình hình thành và phát triển quốc gia dân tộc thường diễn ra trong

với các dân tộc khác và tác động của sự giao thoa, tiếp biến hòa hợp, các dân
tộc vẫn giữ được sắc thái riêng độc đáo của mình và khi hòa nhập vào văn hóa
của cả dân tộc đã tạo nên sự đa dạng phong phú nhưng đậm đà bản sắc trong
tính thống nhất. Tuy nhiên, đặc tính này không chỉ tạo nên nét đặc sắc của văn
hóa Việt mà còn gây sự tác động đôi khi trái chiều, khi mà những nét đặc sắc
với tư cách là truyền thống riêng có của tộc người được hình từ xa xưa, trong
điều kiện đời sống thấp kém, phản ánh trình độ nhận thức chưa cao, nhưng vì
các yếu tố truyền thống đó đã có từ lâu đời, ăn sâu vào nếp nghĩ, lối sống
“thâm căn cố đế”, hiện không theo kịp với đời sống hiện tại, cần bị loại bỏ,
nhưng vẫn tiếp tục duy trì, càng làm cho các dân tộc đó có khoảng cách ngày
càng xa đối với các dân tộc khác và trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển
tiến bộ, văn minh của cả quốc gia – dân tộc.
Tóm lại, những nét khái quát về sự hình thành, phát triển của dân tộc và
những đặc trưng chủ yếu trong mối quan hệ dân tộc ở nước ta là điều kiện tiền
đề và cũng là các yếu tố cấu thành nên những giá trị truyền thống của dân tộc
Việt Nam, đó không chỉ là cơ sở tồn tại của dân tộc, là động lực phát triển của
quốc gia mà còn là biểu hiện những phẩm chất tuyệt vời của người Việt Nam.
1.1.2.2. Những giá trị truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
* Giá trị truyền thống yêu nước và ý chí độc lập, tự chủ


17

Yêu nước là giá trị hàng đầu trong bảng giá trị và là truyền thống quý
báu của dân tộc Việt Nam. Do đặc điểm quá trình dựng nước và giữ nước dân
tộc Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với thiên tai và giặc ngoại xâm.
Thêm vào đó, với xã hội nông nghiệp và yếu tố quần cư sớm, trong đời sống
xã hội có nhiều mối quan hệ phức tạp: giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với
cộng đồng và tùy vào quan hệ thân thuộc hay xã giao mà có các mối quan hệ
cụ thể như: gia đình – gia tộc – dòng họ, làng – xã – nước, bạn bè – đồng

với nhau như anh em một nhà. Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam được
thể hiện ở mọi quan hệ từ trong gia đình, đến cộng đồng làng xã và trong toàn
thể cộng đồng quốc gia - dân tộc, nó không ngừng được củng cố, nâng cao
trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, gắn với quá trình phát triển của
quốc gia - dân tộc. Bởi vì vậy mà tinh thần cố kết cộng đồng đã trở thành triết
lý sống của người Việt “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” và nhờ đó dân tộc
Việt Nam đã duy trì được sự hài hoà trong các quan hệ xã hội, làm hạn chế
phần nào tính vị kỷ, tạo được sức mạnh chung cho sự sinh tồn, chế ngự thiên
tai và chiến thắng ngoại xâm. Lịch sử đã cho thấy, nếu dân tộc Việt Nam
không tạo được sự đoàn kết, nhất trí cao thì làm cho vận nước suy yếu và đặt
quốc gia trước nguy cơ nước mất. Thất bại của nhà Hồ trước quân Minh ở thế
kỷ XV là một minh chứng, điển hình nhất là cuối thế kỷ XIX, do nội bộ nhà
Nguyễn bất hòa, xâu xé lẫn nhau, không đoàn kết được dân chúng, nên vận
nước suy yếu và dẫn đến việc mất nước vào tay thực dân Pháp. Lịch sử dân
tộc ta cũng chứng minh rằng, khi trên dưới một lòng thì tạo ra sức mạnh to
lớn, chiến thắng mọi kẻ thù, năm xưa việc tổ chức “Hội nghị Diên hồng” và
lời hiệu triệu “Hịch tướng sỹ” đã giúp nhà Trần nhất trí toàn dân đè bẹp quân
Nguyên – Mông, rồi nghĩa sỹ Lam Sơn đã “hòa nước sông chén rượu ngọt
ngào” mà tạo nên sức mạnh của quân dân Đại Việt để chiến thắng quân Minh.
Trong thời đại cách mạng, đoàn kết trở thành chiến lược của Đảng, là nhiệm
vụ cách mạng, phải gắn bó để “một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ
nhân dân, phục vụ Tổ quốc” [40, 9]. Nhờ đoàn kết chặt chẽ toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu,
chấn động địa cầu”, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc
ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đoàn kết làm nên một


20

“Đại thắng mùa xuân 1975”, thống nhất đất nước đưa cả dân tộc ta tiến vào


phê phán thói lười biếng “ăn không ngồi rồi” với lời cảnh báo “nhàn cư vi bất
thiện”, vì thế mà lao động cần cù luôn gắn với tiết kiệm. Với người Việt Nam,
cần cù chịu thương chịu khó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều
kiện đủ trong hoàn cảnh sống thường xuyên bị thiên tai, địch họa. Trong cuộc
sống, người Việt luôn nhắc nhở nhau: “được mùa chớ phụ ngô khoai, đến khi
thất bát lấy ai bạn cùng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu rõ mối quan hệ
mật thiết giữa “cần” và “kiệm”, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người,
“cần mà không kiệm như gió vào nhà trống” [42, 104-105]. Chính vì vậy mà cần
cù, chịu thương chịu khó và tiết kiệm là những phẩm chất, đức tính đặc trưng
đáng quý của người Việt và cũng là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
* Các giá trị truyền thống nhân văn
Nhân văn, hiểu theo nghĩa chung nhất là lòng yêu thương, quý trọng
con người, sự khoan dung, độ lượng, chống lại cái ác, hướng thiện vì hạnh
phúc con người. Trong bảng giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, truyền
thống nhân văn là một trong những giá trị đáng quý và đáng tự hào nhất, bởi
một dân tộc mà suốt chiều dài lịch sử của mình phải thường xuyên đối mặt
với khó khăn trong đời sống cùng với chiến tranh triền miên và chịu nhiều
đau thương, mất mát, nhưng lại là dân tộc yêu hòa bình, giàu lòng nhân ái,
khoan dung mà khó có một dân tộc nào khác sánh bằng.
Do luôn phải đương đầu với những thử thách khắc nghiệt của tự nhiên
cũng như kẻ thù xâm lược, nên một cách rất tự nhiên, những con người trong
cùng một cộng đồng dân tộc Việt Nam đã hình thành lối sống nhân ái, vị tha,
nương tựa, đùm bọc lẫn nhau. Phương châm sống của người Việt Nam là
“thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… tình yêu thương
ấy trước hết dành cho những con người sinh ra “cùng một bọc”, hay “người
trong một nước phải thương nhau cùng”, lòng nhân ái còn dành cho những
người từng lầm đường lạc lối, nhưng đã biết ăn năn hối cải, để giúp họ trở về
với lẽ phải, với chính nghĩa, khi ấy tình yêu thương con người đã trở thành


độc lập, tự chủ. Tinh thần yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của dân tộc


23

ta bắt nguồn từ truyền thống yêu thương con người, vì con người và cũng bởi
dân Việt nhân ái, hiền lành. Khi cần thì cầm vũ khí để chiến đấu đến cùng,
nhưng khi thắng lợi rồi, thì “súng gươm vứt bỏ, lại hiền như xưa”. Với người
Việt, không có sự tôn trọng, yêu thương con người nào được thể hiện một
cách thiết thực hơn bằng việc quan tâm đến mạng sống và lợi ích của con
người. Ngày nay, tư tưởng nhân văn ấy đã trở thành một quan điểm thể hiện
mục tiêu của xã hội mới – tư tưởng “vì dân”, đó cũng là một tiêu chuẩn để
đánh giá sự văn minh, tiến bộ của xã hội.
Giá trị nhân văn của dân tộc ta còn được thể hiện ở việc coi trọng đạo
lý làm người, sống thuỷ chung, trọng tình nghĩa, đó là truyền thống “uống
nước nhớ nguồn”, “ăn ở như bát nước đầy”. Trong bất cứ giai đoạn lịch sử
nào của dân tộc, người Việt cũng đều thể hiện lòng biết ơn đối với cộng đồng,
xã hội, xưa kia là tri ân với tổ tiên và với những người có công với làng nước; ngày nay truyền thống ấy vẫn tiếp tục duy trì, đặc biệt là ghi công
những anh hùng liệt sỹ, đền ơn đáp nghĩa với gia đình có công, đó là thái độ
tri ân và là việc làm thiết thực của cộng đồng trong cuộc sống, đồng thời phản
ánh đời sống tâm linh sâu sắc của dân tộc ta. Trong mối quan hệ cộng đồng,
người Việt luôn coi trọng sự thân tình, đồng thuận gắn bó với những người
sống xung quanh mình “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, hàng xóm “tối
lửa, tắt đèn” có nhau; với thế hệ trước là “ăn quả nhớ người trồng cây”. Thêm
vào đó là sự đề cao lối sống cao đẹp hướng đến các giá trị chân – thiện – mỹ
để luôn giữ trọn phẩm hạnh trong mọi hoàn cảnh: “chết vinh còn hơn sống
nhục”, “đói cho sạch, rách cho thơm”, … đó chính là những biểu hiện cụ thể
cho giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc Việt Nam.
* Giá trị truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, quý người hiền – tài
Cùng với truyền thống yêu nước – đoàn kết – nhân nghĩa, từ ngàn đời

chí trong tam cương xưa, còn đặt người thầy trên trước người cha đẻ của mình
(Quân - Sư - Phụ). Ngày nay, chuyện học hành không phải là vùi mài kinh sử,
học sách thánh hiền hoặc là để văn hay chữ tốt mà học để có kiến thức, để biết
ứng xử và sống cho phải đạo, “học ăn, học nói; học gói, học mở”; đồng thời


25

học để làm việc, do đó việc rèn luyện kỹ năng học một cách chuyên nghiệp
“nhất thân vinh, nhất nghệ tinh”, “lấy tự học làm cốt” [42, 273] càng là một
điều cần thiết. Hơn nữa, trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay, học không chỉ
để “thân vinh” mà còn để chấn hưng dân tộc, như Bác Hồ từng nói: “Một dân
tộc dốt là một dân tộc yếu” [41, 8]. Vì vậy, muốn thực hiện mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”, trước hết phải
nhờ vào công học hành của thế hệ trẻ.
* Giá trị truyền thống ứng xử linh hoạt và khiêm nhường
Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người
trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định
được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm
đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Trong giao tiếp
ứng xử, người Việt rất linh hoạt, khôn khéo, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được
tình thế khó khăn trước mọi hoàn cảnh, đây là đặc điểm quan trọng của trí
khôn ngoan trong ứng xử của người Việt.
Người Việt nhận thức được sự đa dạng, phức tạp của cuộc sống, nên có
quan niệm không chấp nhất, trái lại luôn thừa nhận sự khác biệt để thích ứng
“cầu đồng tồn dị” (lấy cái chung hạn chế sự khác biệt để cùng tồn tại). Tục
ngữ nói nhiều đến cái lý của sự khác biệt để khuyên con người đừng câu nệ
một cách nguyên tắc mà phải tuỳ, phải chọn lựa, phải liệu: Tùy cơ ứng biến;
Lựa lời mà nói; Liệu cơm gắp mắm… Sự thông minh trong nhận thức để rồi
xoay sở, thoát khỏi sự khó khăn, bó buộc, biến cái khó bó cái khôn thành cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status