luận văn thạc sĩ bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
***

DIỆP THẾ DÂN

BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DIỆP THẾ DÂN

BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Nguyên Khánh


khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
2.3. Nguyên nhân hạn chế trong bảo đảm quyền làm việc của người
khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tiểu kết chương 2


Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM
VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
3.1. Phương hướng bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ


thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực
tiễn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật được coi là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương
nhất. Vì tình trạng khuyết tật nên họ phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phương
diện của đời sống xã hội, như sức khỏe kém hơn, học vấn thấp hơn, mức độ tham
gia kinh tế ít hơn và nghèo khổ hơn, so với những người không khuyết tật.
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phát huy truyền thống
nhân ái của dân tộc, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn quan tâm chăm sóc và giúp đỡ


"Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thịi ở Việt Nam" của Lê Bạch Dương,

Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung và Robert Leroy Bach [16].
- "Luật người khuyết tật" của Hà Đình Bốn [8].
-"Bảo đảm việc làm và thu nhập cho người khuyết tật" của Đinh Thị Cẩm

[21].
- "Bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật" của Ngọc Điệp [20].
-

"Thực trạng các quy định về việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam

hiện nay" của Hồng Kim Khun [22].
-

"Chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp của thương binh và người khuyết

tật: Còn nhiều bất cập" của PV [30]. Bài viết đánh giá Doanh nghiệp "tàn nhưng
khơng phế" đó là tên gọi mà giới doanh nhân Việt Nam đặt cho doanh nghiệp của


thương binh và người khuyết tật với bao tình cảm trân trọng và khâm phục. Bởi lẽ,
lực lượng lao động trong loại hình doanh nghiệp này thiệt thịi đủ thứ: vừa yếu về
sức khỏe, thiếu về vốn và kiến thức... so với lực lượng lao động bình thường trong
xã hội, song họ lại có nghị lực kiên cường dám vượt lên số phận.
-

"Bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam và


5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Liên hợp quốc, quan điểm của Đảng, Nhà


nước Việt Nam về quyền con người, quyền của người khuyết tật và quyền làm việc
của người khuyết tật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận
văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, khảo cứu tài liệu, … Đồng thời, luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên
cứu, số liệu phân tích của các cơng trình khoa học đã được công bố.
6.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn nghiên cứu một cách tồn diện có hệ thống những vấn đề lý luận và
thực tiễn về bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay. Từ đó, Luận văn góp phần làm phong phú thêm
những vấn đề lý luận về quyền làm việc của người khuyết tật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
-

Luận văn cung cấp thêm kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất các giải

pháp mới có giá trị tham khảo cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh trong q trình
thực hiện trách nhiệm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
-

khiếm khuyết được gọi là khuyết tật và tàn tật [55]. Theo đó, khuyết tật là bất kỳ
giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực
hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường của một người;
tàn tật là tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực
hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã
hội và văn hóa.
Tại Khoản 1, Điều 1 Công ước số 159 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về
phục hồi chức năng và việc làm (người khuyết tật) năm 1983 có định nghĩa về
người có khuyết tật như sau: "Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả
năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với cơng việc đó và thăng tiến với nó bị


giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được
thừa nhận" [48].
Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên
hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007: Người khuyết tật bao gồm những người có
khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác
với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn
vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [26].
Như vậy, Theo Cơng ước quốc tế về quyền của người khuyết tật thì khái niệm
người khuyết tật được hiểu là một khái niệm mở, có sự tiến triển theo thời gian và
điều kiện xã hội, là kết quả của sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết và
những rào cản về thái độ và mơi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy
đủ và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác
trong xã hội. Mặc dù, vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu
thành khái niệm "người khuyết tật", tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa
về "người khuyết tật" được xác định trong luật nhân quyền quốc tế. Điều này có ý
nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của người khuyết tật.



được làm việc có vị trí rất quan trọng, vì quyền được làm việc là cốt lõi để thực hiện
các quyền con người khác và tạo nên một phần quan trọng không thể tách rời tự
nhiên của nhân phẩm. Quyền làm việc chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực
hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói
chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá... Chỉ khi quyền làm việc
được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý nghĩa.
Theo pháp luật quốc tế, tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
đã ghi nhận: Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất
nghiệp; Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không
phân biệt đối xử; Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để
bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu
cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác [24].
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 cũng xác
định các yếu tố của quyền có việc làm: Các quốc gia thành viên Công ước này thừa


nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm
sống bằng cơng việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi
hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này; Các quốc gia thành viên Công
ước phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai
các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ
thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hố, tạo cơng ăn
việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính
trị và kinh tế của từng cá nhân."; "Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận
quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi,
đặc biệt đảm bảo: Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo: (i)
Tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những cơng việc có giá trị như
nhau, khơng có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ nữ phải được đảm bảo những
điều kiện làm việc không kém hơn đàn ông, được trả công ngang nhau đối với

người khuyết tật trước khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích
của họ.
Các tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn, giới thiệu việc làm cho
người khuyết tật. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh nếu có từ 30% trở lên
tổng số lao động là người khuyết tật thì được hỗ trợ cải tạo điều kiện, mơi trường
làm việc phù hợp, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, được vay vốn với lãi suất
ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt
bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất
kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao
động và quy mô doanh nghiệp. Doanh nghiệp có sử dụng từ 10 người khuyết tật trở
lên làm việc ổn định sẽ được hưởng ưu đãi về cải tạo điều kiện, môi trường làm
việc; ưu đãi về vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển kinh doanh từ ngân hàng chính
sách xã hội. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết
tật trở lên làm việc ổn định được hưởng chính sách về cải tạo điều kiện, môi trường
làm việc…
Thứ hai, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật bao hàm sự bảo đảm cả
về mặt thể chế và về mặt thực tế


Việt Nam, trong thời gian qua Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản

quy phạm pháp luật như Luật Người khuyết tật (2010), Bộ luật Lao động (2012,sửa
đổi 2019), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Luật Việc làm (2013), Luật Xây dựng
(2014), Luật Giao thông đường bộ (2008), Luật Bảo hiểm y tế (2008, sửa đổi bổ
sung năm 2014), Luật An toàn, vệ sinh lao động (2015)...đều ghi nhận việc đảm bảo
quyền làm việc của người khuyết tật. Trên cơ sở pháp luật ghi nhận về quyền làm
việc của người khuyết tật, Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm


của người khuyết tật, khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo ra việc

khiếm thính đảm nhận cơng việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và lập báo cáo, còn vị trí
cơng việc phải giao tiếp với khách hàng dành cho người có khả năng giao tiếp tốt.
Mua sắm, thay đổi, bổ sung các thiết bị, dụng cụ phù hợp với đặc điểm khuyết
tật của lao động là người khuyết tật. Ví dụ, bố trí bàn làm việc thấp cho người lao
động phải ngồi xe lăn, mua sắm máy tính phù hợp với người khiếm thị…
Ban hành, sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy tắc lao động trong nội bộ
doanh nghiệp hoặc tổ chức nhằm bảo đảm có những chính sách, quy tắc lao động
phù hợp với đặc điểm riêng của khuyết tật của người lao động. Ví dụ, chính sách về
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi áp dụng đối với người khuyết tật khơng có khả
năng duy trì cường độ làm việc 8 giờ/ngày.
Cần có người chuyển ngữ trong nội bộ doanh nghiệp hoặc tổ chức nhằm giúp
người sử dụng lao động với người lao động có khuyết tật (khơng có khả năng nói,
nghe, và/hoặc nhìn) cũng như người lao động có khuyết tật (khơng có khả năng nói,
nghe và/hoặc nhìn) với người lao động khác.
Thứ tư, khi tham gia vào quan hệ lao động, ngoài các quyền, nghĩa vụ như mọi
người trong tất cả các lĩnh vực, người khuyết tật cịn được hưởng các chính sách
mang tính chất đặc thù của lao động là người khuyết tật như pháp luật quy định
người lao động là người khuyết tật có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng
lao động thì được nghỉ 14 ngày làm việc (thay vì 12 ngày làm việc đối với lao động
là người không khuyết tật); họ không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy
hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định; bị suy giảm khả
năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm; được
người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng một lần…
1.1.2.2. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật


Thứ nhất, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật xuất
phát từ ý nghĩa việc làm và vai trò của mỗi người đối với phát triển kinh tế và xã
hội.

hồn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi khơng có việc làm sẽ ảnh hưởng đến
lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã
hội. Ngồi ra khi khơng có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu
nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình
chính trị.
Vai trị của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng. Vì
vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của tồn xã hội địi hỏi Nhà nước phải có
những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
Thứ hai, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật là một trong những
chính sách quan trọng của mỗi quốc gia và có sự tác động lớn đến sự phát triển kinh
tế và đời sống xã hội. Đối với người khuyết tật, việc làm ln đóng vai trị quan
trọng. Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập để nuôi sống bản thân, ổn định
cuộc sống. Thông qua công việc được làm, người lao động khuyết tật có thể tự
khẳng định về bản thân, khơng phải phụ thuộc vào gia đình, xã hội.
Trước đây, người khuyết tật thường được nhìn nhận dưới góc độ đạo đức, là
đối tượng cần trợ giúp. Thì ngày nay tiếp cận người khuyết tật dưới góc độ về quyền
con người thì họ có đầy đủ các quyền, trong đó có quyền làm việc để tạo ra của cải
vật chất, nuôi sống bản thân, cống hiến cho xã hội. Nếu bảo đảm được quyền làm
việc cho người khuyết tật sẽ góp phần thay đổi nhận thức về khả năng lao động của
người khuyết tật, có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của
người khuyết tật và gia đình họ.
Bảo đảm quyền làm việc khơng chỉ giúp người khuyết tật có thu nhập, ổn định
đời sống mà điều quan trọng hơn đó là giúp người khuyết tật được hòa nhập với
cộng đồng và tự tin trong cuộc sống.
Trong thực tế đã có rất nhiều trường hợp, dù bản thân khuyết tật nhưng họ vẫn
ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, họ biết tự vươn lên trong cuộc
sống, học tập và lao động như những người khơng khuyết tật khác, thậm chí là tạo




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status