DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chính trị quốc gia
Đạo đức cách mạng
Nhà xuất bản
Trung học phổ thông
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
CTQG
ĐĐCM
Nxb
THPT
XHCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN
1.1.
NAY
cách mạng cho học sinh trung học phổ thông ở nội
2.2.
thành thành phố Hà Nội hiện nay
Giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục đạo
48
đức cách mạng cho học sinh trung học phổ thông ở nội
thành thành phố Hà Nội hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
53
78
80
84
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức cách mạng là yếu tố cốt lõi trong phẩm chất nhân cách của con
người, có vai trò định hướng, điều chỉnh hoạt động của họ theo những giá trị
chuẩn mực xã hội - XHCN. Người có ĐĐCM là ngọn nguồn cho mọi thành
công của những lý tưởng, ước mơ chân chính, đồng thời là nền tảng nuôi
dưỡng trí tuệ, tài năng cho họ. Sinh thời, Chủ tịnh Hồ Chí Minh đã dạy: Phải
quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc
làm cần kíp. Giáo dục ĐĐCM cho thế hệ trẻ là một nội dung căn bản trong
chiến lược xây dựng con người mới XHCN “vừa hồng vừa chuyên” đáp ứng
ĐĐCM cho học sinh THPT và hệ quả tiêu cực của nó đang đòi hỏi hoạt động
này phải được nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc, khách quan và xác định những
nguyên tắc, phương pháp giáo dục phù hợp, ngày càng nâng cao chất lượng
hiệu quả. Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Giáo dục đạo đức cách
mạng cho học sinh trung học phổ thông ở nội thành thành phố Hà Nội hiện
nay” làm luận văn thạc sĩ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Từ trước đến nay, vấn đề đạo đức nói chung, giáo dục ĐĐCM nói
riêng đã có nhiều công trình khoa học ở nước ngoài và trong nước bàn đến
với các góc độ tiếp cận khác nhau. Trong đó, một số công trình nghiên cứu
nổi bật sau:
* Các công trình khoa học ở ngoài nước.
Trong cuốn sách “Đạo đức học” của G.Bandzeladze, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1985, tác giả đã tập trung luận giải 2 vấn đề tổng quát là đặc trưng
của đạo đức và quy luật phát triển của đạo đức, từ đó xác định những nguyên
lý, nguyên tắc của đạo đức Cộng sản chủ nghĩa.
Trong cuốn sách “Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng” của Giáo sư La Quốc
Kiệt, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, tác giả trình bày một cách hệ thống những
yêu cầu chuẩn mực đạo đức và phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.
4
Trong cuốn sách “Thế nào là quân nhân có đạo đức”, của Đ.A. Vôn-côgô-nốp (1977), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1982, tác giả đã đưa ra những
khái niệm cơ bản của đạo đức học Mác – Lênin, chỉ rõ nội dung và những khía
cạnh biểu hiện của đạo đức quân nhân, luận giải những phẩm chất đạo đức cần
thiết của người chiến sĩ Xô Viết. Đồng thời, xác định phương pháp, tu dưỡng rèn
luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người quân nhân cách mạng.
* Các công trình khoa học ở trong nước
Trong cuốn sách “Phát triển con người toàn diện thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước” của Phạm Minh Hạc, Nxb CTQG, Hà Nội,
trò của đạo đức xã hội, những tác động của điều kiện lịch sử mới đến sự phát
triển đạo đức của con người Việt Nam, của cán bộ, đảng viên, thế hệ trẻ trong
thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xác định
phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức mới trong điều kiện mới.
Luận án: “Vai trò của đạo đức với sự hình thành nhân cách người Việt
Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay”của Lê Thị Thủy, Hà Nội 2011; cuốn
sách:“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” do Phó Giáo sư Thành Duy làm
chủ biên, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996… các công trình trên đã nghiên cứu một
cách có hệ thống và sâu sắc về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh khẳng định vai
trò, giá trị to lớn của nó trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Một số cuốn sách: “Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ Đảng
viên hiện nay - Thực trạng và giải pháp” của Tiến sĩ Đào Duy Quát (chủ biên),
Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tác giả đã đưa ra các quan điểm, nhận thức đúng
đắn và bổ ích về đạo đức, lối sống đúng đắn lành mạnh trong xã hội chúng ta
hiện nay; “Giáo dục đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới” (Chương trình bồi
dưỡng chuyên đề dành cho cán bộ, đảng viên và nhân dân) của Ban Tuyên giáo
Trung ương, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2008, cuốn sách đã đưa ra một hệ
thống các khái niệm đạo đức cơ bản nhằm xây dựng nền tảng tinh thần của xã
hội, phát huy vai trò của đạo đức trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
6
Đề tài: “Giáo dục đạo đức cách mạng cho quân nhân ở đơn vị cơ sở hiện
nay - thực trạng và giải pháp”, đề tài cấp Viện Khoa học xã hội nhân văn quân
sự - Bộ Quốc Phòng, Mã số: KH.B5.01, 2000, do Đoàn Mô - Chủ biên. Trong
công trình này tác giả đã làm rõ các vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận nhằm
xây dựng đạo đức của người cán bộ quân đội hiện nay, phân tích làm rõ bản chất
quá trình phát triển ĐĐCM, đánhgiá thực trạng và đề xuất các giải pháp có tính
phương pháp luận để phát triển ĐĐCM.
Một số công trình đã phân tích, luận giải khá sâu sắc cả về phương diện lý
luận, thực tiễn thể hiện tính khoa học, tính chính trị, thực tiễn của vấn đề
nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề
giáo dục ĐĐCM cho học sinh THPT một cách toàn diện, hệ thống dưới góc
độ chính trị - xã hội. Vì thế, đề tài: “Giáo dục đạo đức cách mạng cho học
sinh trung học phổ thông ở nội thành thành phố Hà Nội hiện nay” mà tác giả
lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp không trùng lặp với các công
trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục
ĐĐCM cho học sinh các trường THPT ở nội thành Thành phố Hà Nội; đề
xuất một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ĐĐCM
cho học sinh các trường THPT nội thành thành phố Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận giáo dục ĐĐCM cho học sinh THPT ở
nội thành thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đánh giá thực trạng giáo dục đạo ĐĐCM cho học sinh THPT ở nội
thành thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất yêu cầu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng,
giáo dục ĐĐCM cho học sinh các trường THPT ở nội thành thành phố Hà
Nội hiện nay.
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục ĐĐCM cho học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động giáo dục ĐĐCM cho học sinh
1.1. Một số vấn đề lý luận về đạo đức cách mạng và
giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh trung học phổ
thông ở nội thành thành phố Hà Nội hiện nay
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức và đạo đức cách mạng
* Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức và đạo đức cộng sản
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của
lịch sử xã hội loài người. Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học
đã hình thành hơn 26 thế kỉ trước đây trong triết học phương Đông như: Trung
Quốc, Ấn Độ… và triết học phương Tây như: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại…
Đạo đức theo tiếng Latin là từ ghép của movis có nghĩa là lề thói và
moralis nghĩa là đạo nghĩa, hay còn gọi đạo đức với nghĩa dùng để chỉ những
lề thói và tập tục của xã hội được mọi người thừa nhận và chi phối các hành
vi giao tiếp hàng ngày. Trong triết học Trung Quốc cổ đại, đạo đức được xem
là khái niệm luân thường đạo đức của con người, nó được hiểu là các vấn đề
tốt – xấu, đúng – sai trong lương tâm con người.
Trước C.Mác và Ph.Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và
duy vật) đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo
đức. Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận
động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng. Do vậy, đạo đức với tính
cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội được nhìn
nhận một cách tách rời cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó. Các nhà
triết học, đạo đức trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở
ngay chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài
10
con người, bên ngoài xã hội. Nét chung của các lý thuyết này là không coi
đạo đức phản ánh cơ sở xã hội, hiện thực khách quan. Trái với các quan điểm
Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người dù tự giác hay không tự giác rút cuộc
đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn
đang làm cơ sở cho giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong đó
người ta sản xuất và trao đổi”. [30, tr.136].
Đạo đức được rút ra từ nguyên tắc lợi ích, đó là thứ đạo đức bị giới
hạn bởi lợi ích giai cấp. Mặc dù vậy cũng thừa nhận mối liên hệ giữa lợi
ích và đạo đức được xem là một bước tiến chung về đạo đức. Nó cho thấy,
đạo đức có cơ sở đời sống hiện thực của con người. C.Mác viết: “Nếu như
lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức
làm cho cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của
toàn thể loài người” [29, tr.199-200].
Theo quan điểm này, vấn đề không phải ở chỗ hợp một cách tách rời
giữa lợi ích và đạo đức, mà là giải quyết như thế nào quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội để hành vi thực hiện lợi ích của con người trở thành
hành vi có đạo đức. Lợi ích cá nhân khi phù hợp với lợi ích xã hội thì trở
thành một bộ phận của lợi ích xã hội và trong trường hợp đó, hành vi thực
hiện lợi ích cá nhân là chính đáng về mặt đạo đức. Tuy nhiên, trong điều kiện
xã hội còn phân chia giai cấp, thì lợi ích cá nhân khó có thể phù hợp với lợi
ích xã hội một cách phổ biến. Vì vậy, ra sức làm cho lợi ích của cá nhân cá
biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người chính là ra sức điều hành cho
sự hình thành xã hội Cộng sản Chủ nghĩa. Ở đó, lợi ích cá nhân hoàn toàn
thống nhất với lợi ích toàn thể xã hội, của loài người.
Về giáo dục đạo đức, C.Mác đã nêu ra quan niệm và vai trò của nó đối
với sự hình thành nhân cách và nhân cách đạo đức. Lần đầu tiên trong lịch sử,
C.Mác đã nêu ra khái niệm giáo dục đạo đức một phạm vi khái quát rộng lớn
với tư cách là qúa trình hình thành và phát triển những năng lực, những phẩm
chất đạo đức của con người; do đó, làm cho nó có nội dung đầy đủ và phong
12
Sự hình thành nền đạo đức mới, suy cho cùng, phải thể hiện ở những
nhân cách đạo đức, là những chủ thể của các quan hệ, các hoạt động người.
Vì thế, giáo dục đạo đức nhằm hình thành và phát triển những năng lực đạo
đức cá nhân đáp ứng yêu cầu của xã hội, hơn là quan tâm của các học
thuyết về đạo đức.
* Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và giáo
dục, rèn luyện đạo đức cách mạng
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn
diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc
công, từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học
tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng bàn đến
đạo đức ở mọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc
gia đến quốc tế. Người đã xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện, khách
quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời sống xã hội và mỗi
con người, từ đó, khái quát thành tư tưởng đạo đức mang tên mình.
Chủ tịch Hồ chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng
trong sử dụng thuật ngữ đạo đức được dùng với 3 nghĩa: Rộng, hẹp, và rất
hẹp. Nghĩa rộng, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự
giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính
người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng.
Nghĩa hẹp, đạo đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con
người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống. Nghĩa rất
hẹp đó là hành vi đạo đức, hành vi đạo đức là hành động cá nhân thể hiện
quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể
hiện lương tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù
không lặp lại. Hồ Chí Minh tập trung bàn nhiều về đạo đức theo nghĩa hẹp
với 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với
việc) và ĐĐCM.
“Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ” là “Vô luận trong hoàn cảnh
15
nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, “là hòa
mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng
nghe ý kiến của quần chúng” [46, tr.609].
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng,
cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Người còn ví
đạo đức đối với người cách mạng như sức khỏe của người gánh nặng và đi xa.
Theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ cách mạng không dễ dàng, đơn giản mà bao giờ
cũng khó khăn, phức tạp. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đòi hỏi người cách
mạng phải có quyết tâm phấn đấu thật cao, phải dám hy sinh, phải kiên trì bền
bỉ “thắng không kiêu, bại không nản”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng lấy đạo đức làm gốc, không có nghĩa là
tuyệt đối hóa mặt đức, xem nhẹ mặt tài. Đức là gốc, nhưng đức và tài, “hồng”
và “chuyên” phải kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể thiếu
mặt này hay thiếu mặt kia.
Như vậy, theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đạo đức cách
mạng là toàn bộ những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh những
hành vi của con người trong quan hệ với người khác, với cộng đồng và với
bản thân mình theo mục tiêu lý tưởng của cách mạng XHCN. Dựa vào những
chuẩn mực đó, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm
về thiện và ác, về cái không được làm và nghĩa vụ phải làm.
Về giáo dục, rèn luyện ĐĐCM, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm
chăm lo mọi mặt cho thanh, thiếu niên, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ thành đội hậu
bị vững chắc của Đảng. Người luôn nhắc nhở Đảng và Nhà nước phải giáo
dục lý tưởng, ĐĐCM, văn hóa, khoa học kỹ thuật, rèn luyện năng lực thực
tiễn cho thanh niên… Ngay từ khi hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn thế hệ trẻ nước nhà tiếp thu một nền giáo
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, tức là
phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa… Đạo đức xã hội chủ nghĩa
là cần kiệm xây dựng nước nhà” [48, tr.542].
17
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dành nhiều công sức cho việc đào tạo, bồi dưỡng các thế cách mạng Việt
Nam. Với tấm lòng yêu thương bao la, với trí tuệ sâu sắc và kinh nghiệm
phong phú, Người đã dìu dắt thế hệ trẻ, trực tiếp tổ chức công tác đào tạo thế
hệ trẻ và tự mình nêu gương sáng về mọi mặt cho thanh thiếu niên noi theo.
Trước lúc đi xa người còn căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta: “Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [49, tr.622].
Con đường hình thành ĐĐCM theo tư tưởng Hồ Chí Minh là con
đường giáo dục, rèn luyện, kết hợp tự giáo dục, tự rèn luyện thông qua hoạt
động thực tiễn và phải tu dưỡng kiên trì, bền bỉ suốt đời. Bởi vì, “Đạo đức
cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ
hàng ngày mà phát triển và cũng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong”. Mặt khác, đạo đức của con người “phần nhiều
do giáo dục mà nên”, vì thế, phải kết hợp việc giáo dục của các tổ chức với
phát huy cao độ vai trò tự giáo dục rèn luyện của mỗi người.
1.1.2. Đặc điểm, nội dung, vai trò về giáo dục đạo đức cách mạng cho
học sinh trung học phổ thông ở nội thành thành phố Hà Nội hiện nay
* Đặc điểm học sinh trung học phổ thông ở nội thành Thành phố Hà Nội
Học sinh THPT ở nội thành Thành phố Hà Nội là một bộ phận của học
sinh THPT của Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, vì thế họ
vừa có biểu hiện đặc điểm chung, vừa có những nét đặc thù bởi sự quy định,
tác động của các điều kiện, hoàn cảnh môi trường xã hội, gia đình đến quá
trình học tập, tu dưỡng và phát triển nhân cách. Học sinh THPT ở nội thành
thành phố Hà Nội có thể khái quát một số đặc điểm sau:
sống. Bởi vì, nguồn gốc xuất thân và điều kiện học tập của đa số học sinh
được bảo đảm tốt. Đa phần học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội đều
được sinh ra và lớn lên ở Thủ đô – trung tâm chính trị, xã hội của cả nước,
nên họ có điều kiện học tập tốt hơn so với học sinh ở ngoại thành và các địa
phương khác. Họ có điều kiện không chỉ tiếp cận nguồn tri thức chủ yếu qua
19
thầy cô và sách vở, mà còn tiếp cận dễ dàng thông qua các phương tiện truyền
thông hiện đại như báo trí, truyền hình, mạng internet...những kho tàng tri
thức của nhân loại.
Mặc dù học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội có điều kiện tiếp
cận các nguồn thông tin tri thức nhanh, nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi
những tác động tiêu cực của mặt trái xã hội, như tệ nạn xã hội, môi trường
sống, mặt trái của nền kinh tế thị trường...
Ba là, phần lớn học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội có sự
phát triển nhanh về tâm lý, ý thức và sớm hình thành thế giới quan.
Họ là những người có thay đổi, phát triển nhanh đời sống tâm lý, nhạy
cảm trước những tích cực và tiêu cực của xã hội. Học sinh THPT thuộc lứa
tuổi giàu ý chí, khát vọng, tình cảm và cảm xúc; ham hiểu biết, hăng hái tham
gia các hoạt động của Đoàn, hoạt động xã hội, có nhu cầu về tình bạn, tình
yêu. Những đặc điểm này tác động tích cực tới việc xây dựng và phát triển
nhân cách của học sinh, giúp các em làm phong phú thêm đời sống nội tâm và
thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội. Đây cũng là lứa tuổi có những hạn
chế nhất định. Đó là tâm lý ít nghe, ít bàn luận đến các vấn đề chính trị, thời
sự. Các em còn thiếu kinh nghiệm sống nên đời sống tâm lý dễ bị chi phối, dễ
mơ hồ về chính trị, dễ bị kẻ xấu lợi dụng.
Thực tiễn cuộc sống trong nội thành, bên cạnh những cái đáng tự hào của
Thủ đô thì còn vô số những điều thị phi liên quan đến mọi mặt của đời sống xã
hội, vì vậy nó tác động đến sự tiếp nhận và xử lý thông tin của học sinh THPT
sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội hạn chế hơn so với học sinh THPT
ở ngoại thành Hà Nội và các vùng nông thôn, xuất thân từ nông dân. Đa phần
học sinh ở nội thành có điều kiện vật chất đầy đủ, tinh thần phong phú, nhiều gia
đình có điều kiện kinh tế, mức sống cao đáp ứng mọi nhu cầu học tập và vui
chơi của con cái mình. Do vậy, mỗi khi gặp khó khăn trong học tập, trong quan
hệ với bạn bè, thầy cô thì sự kiên trì vượt khó không cao.
Nghiên cứu, xem xét đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT là một trong
những căn cứ quan trọng để xác định nội dung, cách thức giáo dục ĐĐCM
21
phù hợp, góp phần thực hiện tốt chương trình, mục tiêu giáo dục THPT trong
quá trình hình thành nhân cách những công dân Thủ đô trong giai đoạn mới.
* Quan niệm về giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh trung học
phổ thông ở nội thành thành phố Hà Nội
Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng là quá trình trao đổi và chuyển giao tri
thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích,
yêu cầu định sẵn. Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành
nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo
dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động
một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng
nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực
như yêu cầu đề ra.
Dưới góc độ triết học, có thể hiểu rằng, giáo dục ĐĐCM cho học sinh
THPT ở nội thành thành phố Hà Nội là một quá trình tương tác lẫn nhau giữa
hai mặt của một vấn đề. Một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng
giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hóa nhân loại thông qua các chủ thể sư
phạm đến mọi hoạt động của học sinh). Mặt khác, thông qua sự tác động này,
đối tượng giáo dục (học sinh THPT) tiếp thu, tự biến đổi, tự hoàn thiện phẩm
phải có lòng kiên trì, bền bỉ, tâm huyết, say mê với nhiệm vụ.
Từ những phân tích tích trên đây, tác giả quan niệm: Giáo dục ĐĐCM
cho học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội là hoạt động tương tác có
tổ chức, có kế hoạch, quy trình của các chủ thể giáo dục và học sinh, thông
qua quá trình truyền thụ, lĩnh hội và rèn luyện theo những nguyên tắc, chuẩn
mực của người cách mạng, góp phần hoàn thành tốt chương trình, mục tiêu
giáo dục của nhà trường, hình thành nhân cách công dân, phát triển nguồn
nhân lực trẻ của Thủ đô và đất nước.
Mục đích giáo dục ĐĐCM là: Xây dựng những nguyên tắc, chuẩn
mực của người cách mạng cho học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà
Nội, tạo nền tảng tinh thần, để họ thực hiện tốt nhiệm vụ học tập và tu
23
dưỡng, phấn đấu trở thành người thanh niên, người công dân Thủ đô có
đức, có tài, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển nguồn nhân lực trẻ
của Thủ đô và cả nước.
Chủ thể giáo dục: Hoạt động giáo dục ĐĐCM cho học sinh THPT ở
nội thành thành phố Hà Nội là các tổ chức, các lực lượng sư phạm, quản lí
giáo dục của nhà trường, xã hội và gia đình học sinh. Mỗi lực lượng có vị trí,
vai trò khác nhau và phương pháp tác động riêng đối với quá trình hình thành
ý thức, hành vi ĐĐCM của học sinh. Tuy nhiên, các lực lượng đó có mối
quan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề, điều kiện hổ trợ cho nhau, tạo nên sức
mạnh tổng hợp tác động đến nhận thức và hành động của học sinh. Trong các
lực lượng ấy thì đội ngũ giáo viên ở trường THPT ở nội thành thành phố Hà
Nội giữ vai trò chủ đạo, quyết định đến quá trình hình thành nên phẩm chất
ĐĐCM của học sinh.
Đối tượng giáo dục: Học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội là
đối tượng của hoạt động giáo dục ĐĐCM. Họ chịu sự tác động của các lực lượng
giáo dục, tiếp nhận, lĩnh hội các tri thức ĐĐCM một cách chủ động, tích cực, sáng
nội dung biểu hiện của ĐĐCM theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Đạo đức Hồ Chí
Minh); quan điểm chỉ đạo của Đảng . Tại Nghị quyết Trung ương Chín khóa
XI, Đảng ta khẳng định: “ Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con
người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo
đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ
công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc,
lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng
đồng, xã hội và đất nước” [17, tr. 47]. Tuy vậy, tùy từng đối tượng cụ thể để
xác định những nội dung cụ thể sao cho phù hợp. Đối với học sinh THPT cả
nước nói chung, học sinh THPT ở nội thành thành phố Hà Nội nói riêng, nội
dung ĐĐCM được xác định là: Lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân
tộc, lý tưởng XHCN và niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng do Đảng
lãnh đạo; lòng nhân ái, biết quý trọng lao động và các thành quả lao động; về
tính trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, lời nói đi đôi với việc làm; về ý thức
25