BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐÌNH CƯỜNG
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CHO
THANH NIÊN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐINH THẾ ĐỊNH
Nghệ An, 10/2014
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ giảng viên các
nhà khoa học, khoa Giáo dục chính trị, Phòng đào tạo Sau đại học trường Đại
học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đinh Thế Định đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn.
Chân thành cảm ơn Ban Chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN
Việt Nam thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, cấp ủy chính quyền và thanh niên thị
xã Hồng Lĩnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, tham gia đóng góp nhiều
ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng do điều kiện
nghiên cứu và khả năng còn hạn chế, luận văn chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót về nội dung và hình thức. Tác giả rất mong nhận được sự nhận
xét, đóng góp của Hội Đồng để công trình được hoàn thiện hơn.
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Thanh niên nước ta có lòng yêu nước nồng nàn, luôn phát huy truyền thống
tốt đẹp của các thế hệ cha anh, khẳng định niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách
mạng và sự lãnh đạo của Đảng. Có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên
quyết chống lại những biểu hiện sai trái, âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hành
vi gây tổn hại đến sự phát triển đất nước của các thế lực phản động, thù địch.
Luôn quan tâm đến các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Có ý chí
vươn lên trong học tập, lao động và công tác, mong muốn đất nước sớm thoát
khỏi nghèo nàn, lạc hậu, được cống hiến nhiều nhất cho công cuộc chấn hưng
5
đất nước. Sẵn sàng vì lợi ích dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tình nguyện vì
cộng đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ TN có lối sống đua
đòi, buông thả chưa chuyên tâm vào việc học tập, rèn luyện, tự lực vươn lên và
cống hiến cho đất nước. Việc giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng đối
với TN chưa sâu sắc, tổ chức Đoàn chưa có nhiều biện pháp và hình thức phong
phú, linh hoạt trong công tác tuyên truyền và giáo dục TN, phong trào TN phát
triển không đồng đều.
Trong những năm qua, công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho TN
thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã có sự chuyển biến tích cực, với nhiều hình
thức phù hợp với đặc thù của địa phương. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay,
đất nước hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa quốc tế đã có tác động rất
mạnh mẽ đến một bộ phận không nhỏ TN, những mặt trái của nền kinh tế thị
trường đã có ảnh hưởng tiêu cực và làm thay đổi cách nhìn nhận về truyền thống
cách mạng của Đảng và của dân tộc, một bộ phận TN phai nhạt lý tưởng cách
mạng, giảm sút niềm tin, sống thực dụng, vị kỉ, xa rời truyền thống văn hóa dân
tộc, vọng ngoại, chủ nghĩa cá nhân. Một số ít TN dao động, tin theo những luận
điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, làm mất ổn định chính trị và trật tự an
toàn xã hội, cổ suý cho lối sống không lành mạnh, hoài nghi con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội, hoài nghi vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.
Trước thực trạng đó đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục
Minh; Nghị quyết của Bộ Chính trị, số 25-NQ/TW, ngày 9/2/1991, Về đổi mới
và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên; Nghị quyết
hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày
14/01/1993, Về công tác thanh niên trong tình hình mới; Nghị quyết hội nghị lần
7
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Các công trình trên đã khẳng định vị trí, vai trò của TN trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, TN là chủ nhân tương lai của đất nước, là người kế tục
sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Đồng thời các công trình trên
cũng đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ trong việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục
TN trong điều kiện hội nhập quốc tế, giúp TN có bản lĩnh chính trị vững vàng,
sẵn sàng nhận và hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì khi Đảng và Tổ quốc yêu cầu.
Vấn đề giáo dục truyền thống cách mạng cho TN đã có nhiều tác giả nghiên
cứu. Tiêu biểu là các công trình:
Tháng 2/1998, GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn đăng bài viết Vấn đề khai thác
các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, trên Tạp chí Triết học. Bài viết đi
sâu vào các phần chính như: Truyền thống, cội nguồn của truyền thống, khai
thác truyền thống trong những điều kiện khác nhau. Trên cơ sở phân tích, biện
luận, tác giả đi đến kết luận: “Công cuộc phát triển đất nước theo định hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những chỉ đòi hỏi chúng ta khai thác, sử
dụng những mặt tích cực của truyền thống và các giá trị truyền thống mà còn đòi
hỏi chúng ta phát triển các giá trị đó, đồng thời phải biết tiếp thu tất cả những gì
tốt đẹp, những gì là mới và quý giá của các dân tộc khác và của thời đại” [3].
Cũng trên Tạp chí Triết học, tháng 4/1998, GS.TS. Nguyễn Văn Huyên cho
đăng bài viết Giá trị truyền thống- nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát
triển đất nước, dân tộc. Bài viết đã đề cập đến một số giá trị truyền thống tiêu
biểu của dân tộc, đồng thời phân tích và làm rõ vai trò, vị trí của nó trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.
hưởng của nó đến sinh viên hiện nay, Tạp chí Giáo dục, số 4-2006; TS. Đoàn
Minh Duệ, Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống
9
cho thanh thiêu nhi tỉnh Nghệ An; TS. Đinh Thế Định, Những giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục truyền thống cho sinh viên Đại học Vinh; GS Phan Huy
Lê, Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất nước;
Lương Ngọc, Giáo dục truyền thống cho thanh niên; TS Nguyễn Lương Bằng,
Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở
Việt Nam hiện nay.
Các công trình nêu trên đã đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh,
dưới những góc độ khác nhau về truyền thống, giáo dục truyền thống cách mạng
cho TN, vị trí và vai trò của TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm định hướng, giáo dục TN kế thừa và
phát huy những giá trị truyền thống của Đảng, của dân tộc trong điều kiện hội
nhập quốc tế.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu nêu trên mới
chỉ đề cập đến từng mặt, từng khía cạnh dưới nhiều góc độ khác nhau, chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và có hệ thống việc
giáo dục truyền thống cách mạng cho TN thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong
giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên những công trình đó đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp tác giả có sự kế thừa, phát triển để hoàn thành tốt luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cách mạng cho TN, góp phần
xây dựng thế hệ TN đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục truyền thống cách
mạng cho TN và tầm quan trọng của việc giáo dục truyền thống cách mạng cho
TN trong giai đoạn hiện nay.
tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục truyền thống cách mạng đối
với thanh niên thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
-Về lý luận: Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo
dục truyền thống cách mạng đối với thanh niên thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
trong giai đoạn hiện nay.
-Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng đưa ra các giải pháp có tính khoa học và
tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục truyền thống cách
mạng đối với thanh niên thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện
nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng, Đoàn thanh
niên, Hội LHTN trong công tác tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện thanh niên.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục truyền thống cách mạng cho
thanh niên.
Chương 2: Thực trạng giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh niên thị
xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục
truyền thống cách mạng cho thanh niên thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong
giai đoạn hiện nay.
12
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG
CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN
1.1. Truyền thống cách mạng và những truyền thống cách mạng cần giáo
dục cho thanh niên
1.1.1. Truyền thống cách mạng
thống” các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau trên những
phương diện khác nhau. Song điểm chung nhất ở họ là đều dựa trên thế giới
quan khoa học và phương pháp luận biện chứng để xem xét, qua định nghĩa đó
có thể nhận dạng truyền thống có các đặc trưng sau:
Thứ nhất: Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con
người trong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập
quán, thói quen trong tư duy
Thứ hai: Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng
người đồng thời là bản sắc của cộng đồng người đó.
Thứ ba: Truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của môi
trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất
và kết cấu kinh tế xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môi
trường văn hóa khu vực và trên thế giới.
Thứ tư: Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau,
nó ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục tập quán, nếp nghỉ của con người. Tuy
nhiên trước và sau không hoàn toàn giống nhau, đồng nhất với nhau nhưng về
căn bản thì không khác biệt.
Như vậy truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền.
Nhưng đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi những cơ
sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm hay muộn những
14
nội dung của truyền thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh mới, hay những truyền thống mới được hình thành và phát triển. Cho
nên truyền thống sẽ có tính hai mặt đối lập nhau đó là truyền thống tốt và truyền
thống xấu, hai mặt này luôn luôn tồn tại, mâu thuẫn biện chứng với nhau trong
quá trình lịch sử. Truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền
lại từ lịch sử, nó tồn tại ở các lĩnh vực chế định xã hội, phong tục, chuẫn mực
hành vi, tư tưởng, văn hóa Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến
hành vi xã hội của con người biểu hiện tính kế thừa của lịch sử.
Truyền thống là mối liên hệ lịch sử giữa quá khứ và hiện tại của các hiện
bảo, có niềm tin vào quá trình đổi mới và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp
văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của
các thế lực thù địch nhằm chia rẽ, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Nội dung giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh niên trong giai
đoạn hiện nay
1.1.2.1. Truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc
Truyền thống yêu nước lòng tự hào dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ
lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, yêu nước trở thành một triết lý xã hội
và nhân sinh của người Việt Nam, là giá trị hàng đầu, định hướng các giá trị đạo
đức truyền thống của Việt Nam, đó là một giá trị bền vững của dân tộc Việt
Nam, là tài sản vô giá đã được các bậc tiền nhân và các thế hệ mai sau vun đắp
trong suốt hàng ngàn năm lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước. Dẫu cho
xã hội trãi qua bao biến cố thăng trầm, truyền thống yêu nước lòng tự hào dân
tộc luôn luôn cháy mãi trong tim của mọi người dân yêu nước. Truyền thống
yêu nước, phản ánh những tư tưởng, tình cảm, ý chí và hành động của một quốc
gia, dân tộc, của một giai cấp, một cộng đồng xã hội nhằm bảo vệ nền độc lập tự
16
do, toàn vẹn lãnh thổ và những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà dân tộc và
cộng đồng đó đã tạo nên trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước.
Truyền thống yêu nước được hình thành gắn với nền kinh tế nông nghiệp, trong
trị thủy, trong khai khẩn đất hoang, lập xóm làng và trong quá trình khai thiên
lập địa mở mang bờ cõi. Chính nền tảng là quê hương xứ sở đã vun đúc nên
truyền thống yêu nước lòng tự hào dân tộc, truyền thống đó càng được thể hiện
khi có núi sông bở cõi, yêu nước gắn liền với yêu quê hương xứ sở, yêu bờ cõi,
yêu bản sắc văn hóa bốn ngàn năm của tiên tổ. Chính vì vậy Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đúc kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần
ấy lại sôi nỗi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua
và hành động theo tiếng gọi bất diệt của nó. Trong buổi nói chuyện với cán bộ
Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308 ngày nay), tại Đền Hùng tỉnh Phú Thọ
trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “Các
vua hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”, đó
là lời căn dặn của vị Cha già dân tộc đối với con cháu trước anh linh quốc tổ đã
thôi thúc thế hệ trẻ đi theo tiếng gọi bất diệt của tổ quốc. Theo Giáo sư Trần Văn
Giàu “Yêu nước là một tình cảm và tư tưởng phổ biến, dân tộc nào cũng có
riêng gì Việt Nam, vậy nói rằng yêu nước là một tình cảm và tư tưởng lớn nhất,
quán thông cổ kim của dân tộc Việt Nam, phải chăng là nêu lên một chân lý
không cần nói ai cũng biết, phải chăng là dành về ta một đức tính phổ biến mà
cuộc sống rộng lượng ban cho bất kì một quốc gia dân tộc nào”. “Quả thật yêu
nước là một tình cảm và tư tưởng tự nhiên phổ biến, chim luyến tổ, cá quen
đồng, người sao không yêu quê hương, quê hương nhỏ là bản làng, nơi đó có
cha mẹ, anh chị em, mồ mả tổ tông, quê hương lớn là nước nhà, ở đó có tất cả
đồng bào cùng tiếng nói, phong tục, có đồng rộng sông dài, đủ làm nơi sinh tụ
18
cho giống nòi ta, quê hương lớn cũng gọi là Tổ quốc, người Việt Nam yêu nước
Việt Nam cho dù nước nhà cỏ cháy, đồng khô” [26; 102].
Là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam,
nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trong xu thế hội nhập quốc tế, khi các thế lực thù địch ra sức phô diễn sức mạnh
quân sự, sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, hòng làm thay đổi hiện trạng
quốc gia, nhất là vấn đề chủ quyền biển đảo, do vậy hơn ai hết bản thân mỗi
người dân Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh, tỉnh
táo, biểu thị lòng yêu nước đúng cách, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng
lòng yêu nước gây mất ổn định chính trị và phá hoại nền kinh tế quốc gia. Dù
trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, dòng máu Lạc Hồng luôn
chảy mãi trong tim người dân đất Việt, mỗi khi chủ quyền thiêng liêng của tổ
quốc bị đe dọa thì lòng yêu nước lại sôi sục, mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,
đất nước trước nguy cơ xâm lăng của kẻ thù, trước sự đồng hóa của phong kiến
phương bắc, đoàn kết trong trị thủy, đoàn kết trong xây dựng và phát triển đất
nước. Đến nữa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, dân tộc Việt Nam phải đương đầu
với kẻ thù là chủ nghĩa thực dân phương tây, đứng trước một cuộc chiến không
cân xứng, dân tộc Việt Nam đã biết khơi nguồn sức mạnh từ chủ nghĩa yêu nước
chân chính và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân đứng lên đánh đuổi
giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi gian sơn.
Trong thời đại Hồ Chí Minh đã nâng truyền thống đại đoàn kết dân tộc lên
một tầm cao mới, một chất mới. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”, nó mang
một sức mạnh mới làm nên chiến thắng hào hùng của dân tộc. Để tăng cường
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng biên độ
khái niệm quần chúng đến tất cả những ai cùng gốc tích Việt Nam, người chung
20
một nước, con Rồng cháu Tiên, tiếng gọi “đồng bào” trong tư tưởng Hồ Chí
Minh thiêng liêng mà gần gũi, là điểm quy tụ, mẫu số chung của toàn dân tộc.
Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa II, ngày 8/12/1956 Chủ tịch Hồ
Chí Minh nêu rõ: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới
không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [33; 276]. Sức mạnh
đoàn kết đó là lẽ sinh tồn của dân tộc, là một chân lý lớn của thời đại. Chính nhờ
sức mạnh đoàn kết của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc
kháng chiến toàn dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Nhà
nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, cùng chiến thắng lịch sử Điện
Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân, là pho tượng sống của một nhân cách
mới, thông qua cuộc sống bình dị làm toát lên những phẩm chất cao quý và
thiêng liêng. Người thương con người một cách chân thành, không giới hạn
tiếng nói màu da. Người quan tâm đến mọi người ở trong nước cũng như ở
ngoài nước, triết lý của người là lòng khoan dung độ lượng, truyền thống đó lại
được nhân lên khi đất có thiên tai, lũ lụt, hay hoạn nạn, thể hiện tình thương yêu
nhân để thực hiện đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong học tập, trong lao động
sản xuất, đoàn kết vì một mục đích chung là phấn đấu đưa đất nước Việt Nam
trở thành hùng cường và thịnh vượng theo như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tinh thần đó đã trở thành điểm tựa vững chắc, một động lực mạnh mẽ
trong sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc. Vận dụng tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam là đại hội
của “Trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc: “Kế thừa truyền thống quí báu của dân tộc, Đảng ta luôn luôn
giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Đó là đường lối chiến lược, là nguồn
sức mạnh và động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [18; 44].
22
Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định:
“Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm,
định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau
không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống
nhân nghĩa, khoan dung Để tập hợp đoàn kết mọi người vào mặt trận chung,
tăng cường đồng thuận xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải
quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong
Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân”
[24; 239-240].
Trong xu thế hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa quốc tế, đảm bảo
quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc. Văn kiện lần thứ XI của Đảng khẳng
định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập
làng, đánh giặc và giữ nước, chính trong giai đoạn đó, những phẩm chất cần cù
và tiết kiệm đã thôi thúc con người tồn tại và phát triển. Nhờ siêng năng trong
lao động sản xuất, cần cù vượt khó, sáng tạo, mà ông cha ta đã xây dựng được
cái nôi dân tộc từ châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã tạo thành nơi
sinh sống của giống nòi, từ khai hoang, đắp đập, lấn biển, dựng làng đến dựng
nước và giữ nước. Đức tính này được thể hiện bằng những câu ca dao tục ngữ,
mà nhân dân ta đã ca tụng:
24
“Mặt trời sắp lé rạng đông
Anh ơi thức dậy ra đồng kẻo trưa
Cơm ăn bao quản muối dưa
Việc làm bao quản nắng mưa dãi dầu” [26; 153].
Để có bát cơm manh áo, người nông dân phải một nắng hai sương, bán mặt
cho đất, bán lưng cho trời, hình ảnh nói lên sự vất vả của người nông dân còn
đó: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Đức tính
cần cù gắn liền với tiết kiệm, nên tổ tiên thường nhắc con cháu: “Được mùa chớ
phụ ngô khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”, hay “Khi có mà không ăn de,
đến khi ăn hết thì dè chẵng ra”, và đưa ra kinh nghiệm: “Buôn tàu buôn bè
không bằng ăn dè lỗ miệng”.
Nhà thơ Hoàng Trung Thông có câu:“Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức
người sỏi đá cũng thành cơm”. Trong lúc đó khí hậu là nắng lắm, mưa nhiều,
nên sẽ rất bất lợi trong lối canh tác truyền thống, kèm theo các hiện tượng thiên
nhiên cực đoan như lốc, lũ lụt, hạn hán Chính do điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt như thế buộc con người không ngừng lao động và sản xuất, cải tạo thiên
nhiên, chính vì vậy lao động không chỉ là mục đích của cuộc sống mà xa hơn
nữa là duy trì giống nòi. Việt Nam có vị trí địa chính trị rất quan trọng nên đất