1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________
NGUYỄN THỊ HỒNG DỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG SÓC
TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ĐỒNG THÁP, NĂM 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________
NGUYỄN THỊ HỒNG DỆ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
SÓC TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PP DH BỘ MÔN GIÁO DỤC
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1
BGD
Bộ giáo dục
2
CBQL
Cán bộ quản lý
3
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
4
CNCS
Chủ nghĩa cộng sản
5
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
5
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII nêu rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt
Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy
thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh
niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” [4,tr.7]. Công tác thanh niên
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; trong đó vai
trò của Nhà nước rất quan trọng. Thực tiễn hiện nay đòi hỏi tăng cường quản
lý nhà nước về công tác thanh niên nhằm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng và tạo
điều kiện tốt hơn cho sự phát triển của thanh niên và phát huy cao tiềm năng,
lực lượng thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đảng ta khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều
kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [4, tr.5]. Đây những nhiệm vụ trọng yếu, nền
tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đội ngũ trí thức có
nhân cách đạo đức trong sáng, làm chủ về chuyên môn nghiệp vụ, khỏe mạnh
về thể chất đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Điều đó sẽ tạo ra hệ điều chỉnh bên trong, tự giác, tự nguyện; làm
cho sự quan tâm của con người đối với người khác cũng như đối với lợi ích
của xã hội trở thành nhu cầu và sự thôi thúc từ nội tâm. Đây là yếu tố kích
Công trình: Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn
viên thanh niên, Nhà xuất bản Thanh niên của Văn Tùng đã nghiên cứu khái
quát về tình hình thanh niên nước ta trong mấy năm đầu bước vào thế kỷ thứ
XXI, và từ đó bồi dưỡng đạo đức cánh mạng trong mối quan hệ với giáo dục
toàn diện theo năm điều Bác Hồ dạy thanh niên.
7
Trong bộ sách kỷ niệm 120 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh- “Hồ
Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” ( Hỏi- đáp), Nhà xuất
bản Thanh niên, của Tiến sĩ Trần Văn Miều và Cử nhân Nguyễn Việt Hùng,
đã nghiên cứu những nội dung về: Tuổi trẻ, những năm tháng đi bôn ba tìm
đường cứu nước, cứu dân và những năm tháng lãnh đạo nước Việt Nam trong
thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và chống đế quốc Mỹ, xây dựng nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ năn 1890 đến năm
1969); tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác chăm
sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng
tuổi trẻ cả nước học tập và làm theo lời Bác.
Các bài phát biểu của nguyên tổng bí thư Đỗ Mười trong cuốn Lý
tưởng của thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, Nhà xuất bản Thanh niên, gồm các bài nói về tuổi trẻ Việt Nam phải
xây dựng cho mình hoài bảo, trí tuệ, đạo đức và ý chí cách mạng (bài phát
biểu tại đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI); Lịch sử dân tộc chứng minh thanh
niên luôn luôn đi đầu đáp ứng những đòi hỏi của đất nước; Thanh niên phải
xây dựng cho mình hoài bảo, trí tuệ, đạo đức và ý chí cách mạng; Trách nhiệm
của thế hệ trẻ Việt Nam trước nhiệm vụ lịch sử trọng đại của dân tộc; Vì sự
nghiệp đổi mới của đất nước, Đoàn thanh niên phải tiếp tục đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của mình
Trong cuốn Quản lý Nhà nước về công tác thanh niên trong thời kỳ
tác giáo dục đạo đức cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. Thế nhưng chưa có công
trình nào nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở tỉnh Sóc
Trăng. Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn hiện
9
nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và
phương pháp dạy học bộ môn chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của luận văn là trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lý
luận và thực tiễn của công tác giáo dục đạo đức, tác giả hướng tới việc đề xuất
một hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong điền kiện
phát triển kinh tế thị trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm rõ hơn một số vấn đề về đạo đức, công tác giáo dục đạo đức cho
thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng, vai trò và ý nghĩa của việc nâng cao
hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Làm rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên
Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng những năm gần đây.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng trong giai đoạn
hiện nay.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trăng trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
và vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh
viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng nói riêng, các trường cao đẳng
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng
Chương 2: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng hiện nay
12
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG SÓC TRĂNG
1.1. Cơ sở lý luận của giáo dục đạo đức
1.1.1. Quan niệm về đạo đức
Ở phương Đông, phạm trù “đạo” “đức” xuất hiện trong các học thuyết
chính trị- xã hội của Nho giáo, Lão giáo… Theo Lão tử “đạo” là bản nguyên,
là con đường sinh thành, biến hoá của vạn vật, cũng còn có nghĩa là con
đường sống của con người trong xã hội. Mở rộng phạm trù “đạo” trong quan
hệ chính trị xã hội, Lão tử đã đề ra thuyết “vô vi”, có nghĩa là con người cần
phải “hành động theo lẻ tự nhiên, thuần phác, không hành động theo tính chất
giả tạo, gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình”. Để làm được điều đó con
người phải sống khoan dung, khiêm nhường, không phô trương, thái quá.
Trong Triết học Trung Quốc cổ đại, phạm trù “đạo” luôn được xem xét trong
triết học cổ điển Đức với những triết gia tiêu biểu như: Kant, Hegel,
Feuerbach…. Kant một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử triết
học phương Tây đã đứng trên lập trường duy tâm tiên nghiệm khi bàn về các
vấn đề triết học trong đó có đạo đức. Ông cho rằng, nguyên tắc đạo đức là
phải tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối và chính mệnh lệnh này sẽ hướng con
người vào hoạt động cộng đồng, tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác,
sống đúng với trách nhiệm công dân trong xã hội. Hegel là nhà triết học mặc
dù có thế giới quan duy tâm, nhưng ông vẫn được lịch sử tư tưởng thừa nhận
là một nhà biện chứng lỗi lạc. Khi bàn về đạo đức, Hegel cho rằng, con người
chỉ thực hiện các hành vi đạo đức khi có sự thôi thúc bên trong, từ niềm tin
14
của chính mình, mà không ai có thể ra lệnh hay cưỡng bức, nói cách khác
trong quan hệ đạo đức Hegel đề cao vai trò chủ thể của con người.
Nói chung, các nhà triết học trước Mác kể cả phương Đông hay phương
Tây đã bàn nhiều về đạo đức và mặc dù đã có những đóng góp nhất định
nhưng nhìn chung đều rơi vào quan điểm duy tâm khi bàn về vấn đề con
người, về các mối quan hệ xã hội có quan hệ đạo đức. Họ đã không thấy đạo
đức được hình thành trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, đó chính
là lao động, trong lao động con người có nhu cầu gắn bó với nhau và chính
trong mối quan hệ này con người ý thức được rằng bản thân cần phải làm gì
hay không nên làm gì để phù hợp với chuẩn mực chung của cộng đồng, của xã
hội. Nhưng thiếu sót lớn nhất của các nhà triết học trước Mác là không nhìn
thấy mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò quyết
định của tồn tại xã hội với ý thức xã hội trong đó có ý thức đạo đức, không
thấy được cơ sở kinh tế của các quan hệ đạo đức trong xã hội.
Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương
tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng, danh dự, lòng tự trọng, ước mơ, ý
chí, lý tưởng... và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa
trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp
bức” [2, tr.15].
Hiện nay ở một số nước Tư bản phương Tây đang có quan niệm
sai lầm cho rằng, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ đã hình thành một kiểu đạo đức mới không có tính giai cấp.
Người ta đặc biệt nhấn mạnh đến đạo đức tôn giáo như một thứ đạo
đức duy nhất có khả năng chỉ cho toàn thể loài người con đường phát
triển đi lên.
16
Đạo đức cộng sản được hình thành trong cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân, bắt nguồn từ đạo đức cách mạng của giai cấp công
nhân. Đạo đức cộng sản kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp
của loài người, trước hết là của nhân dân lao động. Đạo đức cộng sản
phản ánh mối quan hệ kinh tế của xã hội mới không còn áp bức, bóc lột
giai cấp và chỉ đạo mọi hành vi đạo đức của con người. Nó đòi hỏi sự
hài hòa trong sự phát triển cá nhân và tập thể, coi trọng sự phát triển tự
do và toàn diện của cá nhân, đồng thời chống mọi biểu hiện của chủ
nghĩa cá nhân, tách rời đi tới đối lập lợi ích cá nhân và lợi ích cộng
đồng.
Sự hình thành đạo đức cộng sản là kết quả của một quá trình giáo
dục, đấu tranh xây dựng xã hội mới lâu dài, bền bỉ. Hơn nữa xã hội
mới – xã hội XHCN, là xã hội vừa thoát thai từ xã hội cũ, trong lòng
nó còn mang dấu ấn cả về kinh tế, lẫn tinh thần đạo đức của xã hội cũ.
Do đó để hình thành đạo đức mới phải đấu tranh xóa bỏ dần những tàn
dư lỗi thời của đạo đức cũ.
1.1.2. Nguồn gốc đạo đức
* Các quan niệm trước Mác về nguồn gốc đạo đức
Trước Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật)
Những người theo quan điểm Đác-Uyn xã hội đã tầm thường hóa chủ
nghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là
đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật. Đối với họ, đạo đức về
thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ
xã hội.
18
* Quan điểm Mácxít về nguồn gốc đạo đức
Quan niệm khoa học về nguồn gốc của đạo đức là quan niệm của chủ
nghĩa Mác – Lênin:
Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác, Ăngghen đã quan niệm đạo
đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch
sử.
Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, Mác, Ăngghen cho rằng “lao động là điều kiện cơ
bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [2, tr.41] Rằng “người ta phải
ăn, ở, mặc, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật…”. Xuất phát
từ con người thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con
người sinh học, hai ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết định
đối với toàn bộ các hoạt động của con người, xã hội loài người. Trong “Lời
tựa” của tác phẩm “Góp phần phê phán chính trị - kinh tế học”, Mác viết:
“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội,
chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định
sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của
họ” [2, tr.13]. Luận điểm này chính là chìa khóa để khám phá tất cả các hiện
tượng xã hội trong đó có đạo đức.
Như vậy, đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên
ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu
hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người. Với
cảnh gần nhất có thể cảm giác được. Đạo đức đã tự khẳng định mình là một
20
hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội. Đây là một
bước tiến, làm đạo đức phát triển so với xã hội nguyên thủy. Tuy nhiên, bước
phát triển này cũng làm nảy sinh những cái ác, tham lam, ích kỷ, lừa dối… mà
loài người phải đấu tranh hàng ngàn năm nay để chống lại nó.
Về mặt hình thức, đạo đức của xã hội văn minh đã phát triển vượt bậc.
Do nhận thức của loài người vượt bỏ tư duy cụ thể, chuyển tư duy lý luận…
Nội dung đạo đức được thể hiện dưới hình thức kinh nghiệm, khái niệm, lý
tưởng, chuẩn mực và đánh giá đạo đức, do đó đạo đức ngày càng phát triển về
cấu trúc. Và đến lượt mình, sự hoàn thiện cấu trúc làm cho phản ánh và điều
chỉnh đạo đức trở nên sâu sắc, tự giác. Nội dung của đạo đức được thể hiện
dưới những hình thức cụ thể.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra
trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất,
trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát
triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các
quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng
phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan
hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả
của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng
có đạo đức. Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào
con người còn tồn tại” [2, tr. 43]
21
chứng cho bản chất xã hội của đạo đức bằng cách cử chỉ ra tính thời đại, tính
dân tộc và tính giai cấp của đạo đức.
Trong tác phẩm “ Chống Đuy- Rinh” Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ
của các thời đại đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức với tính cách
là biểu hiện về mặt đạo đức của các thời đại kinh tế.
Phê phán quan điểm của Đuyrinh về những chân lý đạo đức vĩnh cửu,
Ăngghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các
chuẩn mực, các quan điểm đạo đức chẳng qua là sản phẩm của các chế độ
kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi. Lấy ví dụ về nguyên tắc không được ăn
cắp, Ăngghen cho rằng đó không phải là một nguyên tắc, một chân lý vĩnh
cửu gắn liền với bản chất trừu tượng của con người. Nguyên tắc này có cơ sở
kinh tế của nó và nó sẽ mất ý nghĩa khi cơ sở kinh tế của nó không còn nữa.
Trước khi có sở hữu tư nhân, không thể có nguyên tắc đạo đức không được
trộm cắp. Cũng như vậy, “trong một xã hội mà mọi động cơ trộm cắp bị loại
trừ” nghĩa là trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, lời răn đạo đức đó sẽ không có
ý nghĩa nữa.
Tính qui định của thời đại đối với đạo đức cho ta quan niệm khoa học
về loại hình đạo đức. Mặc dù đạo đức có qui luật vận động nội tại, có sự kế
thừa, có sự lệch pha nào đó đối với cơ sở sản sinh ra nó nhưng về căn bản,
tương ứng với một chế độ kinh tế, mỗi phương thức sản xuất và do đó mỗi
hình thái kinh tế - xã hội là một hình thái đạo đức nhất định. Đạo đức nguyên
23
thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau đó,
đạo đức Cộng sản chủ nghĩa là những thời đại tiến triển dần dần của đạo đức
nhân loại.
Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản
chất xã hội của đạo đức. Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc
thù tính thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau. Không phải các học
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi
làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá
nhân và cộng đồng.
Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó
có chính trị, pháp quyền và đạo đức…
Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia
bằng các biện pháp đặc trưng như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…
Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá
nhân với cộng đồng bằng các biện pháp đặc trưng là pháp luật và dư luận xã
hội, lương tâm. Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.
Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhau ở mức độ đòi
hỏi và phương thức điều chỉnh.
Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấp thống trị buộc
mọi người phải tuân theo. Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện
bằng ngăn cấm và cưỡng bức (quyền lực công cộng cùng với đội vũ trang đặc
biệt, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù…). Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của
mỗi cá nhân sống trong cộng đồng.
25
Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân.
Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn
mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến
khích.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và
lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc
trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng
xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức.
Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo
nên quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng