Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật của hội liên hiệp phụ nữ hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sỹ khoa - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Nghệ An - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH THẾ ĐỊNH



MỤC LỤC
A
B
Chương 1:
1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.3
1.3.1
1.3.2
1.3.3
Chương 2:
2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.2
2.3
2.3.1
2.3.2

Chương 3:

MỞ ĐẦU
NỘI DUNG

Hạn chế, khó khăn
Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo

Trang
6
12
12
12
12
19
22
22
25
29
32
32
36
37
40
40
40
47
51
52
58
58
62
69



Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục
pháp luật của Hội LHPN Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Xây dựng đội ngủ cán bộ hội từ tuyến tỉnh xuống xã làm
công tác giáo dục pháp luật theo hướng chuyên nghiệp
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho
cán bộ, hội viên phụ nữ
Kết hợp giáo dục pháp luật với việc nâng cao trình độ mọi
mặt, đặc biệt là giáo dục phẩm chất đạo đức cho phụ nữ
Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, hội
viên phụ nữ thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng
Thành lập các trung tâm tư vấn pháp luật cho phụ nữ
Thực hiện có hiệu quả chương trình cấp miễn phí các ấn
phẩm báo, tạp chí phụ nữ hàng quý
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCV

Báo cáo viên

CNTT
HĐND
LHPN
PBGDPL
TTPBGDPL

Công nghệ thông tin
Hội đồng nhân dân

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiển đã khẳng định, trong xã hội loài người, phụ nữ là
cái nôi nối tiếp cho sự sống muôn đời, là người thầy đầu tiên của con người,
là một trong những nguồn lực chính để phát triển xã hội và đã có những đóng
góp lớn lao vào sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia dân tộc. Cùng với biết
bao thăng trầm thịnh suy của lịch sử nhân loại, nhưng hình ảnh người phụ nữ
vẫn luôn là biểu tượng cao đẹp của con người. Vì thế, vấn đề của phụ nữ
không phải là vấn đề riêng biệt của từng quốc gia, mà trở thành vấn đề chung
của toàn nhân loại, toàn cầu.


8

Ở nước ta, ngay sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã đặt
vấn đề giải phóng phụ nữ thành một nhiệm vụ quan trọng, là một trong những
mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự
phát triển của đất nước. Trong Luận cương chính trị của Đảng đã chỉ rõ: “Đảng
cần tổ chức ra đoàn thể phụ nữ, phụ nữ hiệp hội, mục đích là mưu quyền lợi
cho phụ nữ, làm cho phụ nữ triệt để giải phóng” [22; 34].
Ngày nay, xã hội đang trên đà phát triển, tư tưởng ngày càng tiến bộ và
pháp luật đang tự hoàn thiện mình, phụ nữ được quyền tham gia mọi hoạt
động xã hội, họ có quyền bình đẳng. Quyền bình đẳng của phụ nữ được khẳng
định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992:
“Công dân Việt Nam có quyền ngang nhau về mặt chính trị, kinh tế, xã hội...
Nhà nước tạo mọi điều kiện để phụ nữ nâng cao mọi mặt, không ngừng phát
huy vai trò của mình trong xã hội” [23; 98]. Vì vậy, phụ nữ cần phải được
trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về chính trị, pháp luật để đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới cũng như để bảo vệ các quyền, lợi
ích hợp pháp của phụ nữ.

góp một phần công sức giúp tổ chức Hội nâng cao chất lượng, thực hiện tốt
công tác giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ nhận thức cho phụ nữ về pháp
lý. Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng giáo dục
pháp luật của Hội LHPN Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” làm luật văn
Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Vấn đề giáo dục pháp luật đã có nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước
ban hành: Chỉ thị số 02/1998 CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng chính
phủ “Về tăng cường công tác phổ biến pháp luật”; Quyết định số: 03/1998
ngày 19/6/1998 của Bộ tư pháp hướng dẫn các ngành, chính quyền địa
phương các cấp về “Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho
nhân dân”; Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng (khoá IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,


10

nhân dân”; Thông báo số 74-TB/TW, ngày 11/5/2007 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng (khoá X) về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 2160/2010/QĐ-TTg, ngày 26/11/2010
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường công tác phổ biến
giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho Thanh thiếu niên giai
đoạn 2011 – 2015; Chỉ thị số 17/2010/CT-UBND ngày 12/10/2010 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc tăng cường công tác phổ biến giáo dục
pháp luật trên địa bàn tỉnh; Luật phổ biến giáo dục pháp luật số
14/2012/QH13 của Quốc Hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua ngày 20/6/2012.

nữ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện,
đầy đủ, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, nhằm tìm ra phương hướng,
giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật của Hội liên hiệp phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn này được nghiên cứu, xây dựng từ những vấn đề thực tiễn đặt
ra trong môi trường công tác của bản thân tác giả, qua khảo sát kết quả công
tác giáo dục pháp luật cho phụ nữ của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh và không
trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật của tổ chức Hội cho phụ nữ,
góp phần xây dựng ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho cán bộ, hội viên
phụ nữ, từng bước đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu ra trên đây, luận văn tập trung
giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:


12

- Làm rõ cơ sở lý luận và tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp
luật của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác giáo dục pháp
luật của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh và ý thức chấp hành pháp luật của phụ
nữ.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục pháp luật của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc
thành 3 chương:
Chương I: Giáo dục pháp luật- một trong những nhiệm vụ cơ bản của
Hội liên hiệp phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
Chương II: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật của Hội liên hiệp
phụ nữ Hà Tĩnh.
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
pháp luật của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.


14

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT - MỘT TRONG NHỮNG NHIỆM VỤ CƠ
BẢN CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1. Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật
Theo từ điển tiếng việt của nhà xuất bản Thanh niên, pháp luật được
hiểu: “Pháp luật là quy tắc, hành vi của công dân do Nhà nước quy định, ban
hành buộc phải tuân theo, không được trái phạm” [14; 268].
Theo tài liệu pháp luật trên hệ thống thư viện điện tử, pháp luật được
định nghĩa như sau: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều
chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp
cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước”.
Theo tài liệu cẩm nang nghiệp vụ công tác phụ nữ thời kỳ hội nhập
WTO của nhà xuất bản Văn hóa thông tin, pháp luật được định nghĩa như sau:

đích, nội dung chính trị của nó. Do đó, Nhà nước nào pháp luật ấy. Những
thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy phạm, tính cưỡng chế, tính khách
quan, tính Nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn định.
Như vậy, Pháp luật được hiểu một cách cụ thể nhất là hệ thống các quy
tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể
hiện ý chí của giai cấp cầm quyền có tính bắt buộc chung và được thực hiện
lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức là sự phản ánh thế giới xung quanh vào bộ óc con người, ý thức
có kết cấu phức tạp bao gồm các yếu tố cơ bản như: cảm xúc, nhu cầu, ý chí,
tri thức... trong đó tri thức là quan trọng nhất và là phương thức tồn tại của ý
thức. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan
điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống... nảy sinh từ tồn tại


16

xã hội và phản ảnh tồn tại xã hội trong những giai đoạn nhất định.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng đời sống tinh thần xã hội hình
thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn
gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong
đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất. Sự biến đổi của một thời
đại nào đó cũng không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại
ấy. C.Mác viết:... “Không thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế
căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những
mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng xung đột hiện có giữa các lực lượng sản
xuất xã hội và những quan hệ xã hội” [21; 15]. Luận điểm đã chỉ rõ rằng, tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội,
phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất

đó, mỗi chế độ xã hội, mỗi Nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai
cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp
khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của
giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật không những phụ thuộc vào sức
mạnh cưỡng chế của Nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết và
tâm lý pháp luật của xã hội.
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, về cấu trúc bao gồm
hai bộ phận: Tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật. Tâm lý pháp luật hình
thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, tâm trạng, cảm xúc đối với các
hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội. Tư tưởng pháp luật là tổng
hợp các quan điểm, quan niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng pháp
luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa
học. Ý thức pháp luật của một người có vai trò rất quan trọng trong việc thực
hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Vì vậy, nâng cao ý thức pháp luật là trách
nhiệm của mỗi công dân.
Ý thức pháp luật là nhận thức của con người về hành vi pháp luật. Đặc
điểm cơ bản của ý thức pháp luật là có hành vi tích cực: đó là sự hiểu biết và
tôn trọng pháp luật, tôn trọng hiến pháp; hành vi tiêu cực: là tất cả những hành


18

vi do vô tình hay cố ý xem thường pháp luật. Vấn đề xây dựng ý thức pháp
luật ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm và trở thành một trong những cơ
sở quan trọng của công tác tuyên truyền pháp luật.
1.1.1.3. Khái niệm giáo dục pháp luật
Sự phát triển của lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, đặc
biệt là trong những năm đổi mới đã đi đến khẳng định giáo dục pháp luật là
một dạng giáo dục có tính độc lập tương đối trong hệ thống giáo dục nói
chung. Điều này cho phép nghiên cứu giáo dục pháp luật trên các nội dung

triển xã hội ấy” [21; 158]. Sự thay đổi của điều kiện đó sẽ tạo khả năng phát
triển đời sống tinh thần của quần chúng và do đó ảnh hưởng của giáo dục
cũng khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khách quan
tác động lên việc hình thành ý thức con người đã được các nhà giáo dục quan
tâm trước khi tiến hành hoạt động giáo dục.
Tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối
với việc hình thành ý thức con người nhưng các nhà kinh điển lại nhấn mạnh
tác động hàng đầu cực kỳ quan trọng của nhân tố chủ quan, mà trước hết là
hoạt động giáo dục định hướng, có tổ chức, có chủ định của các cơ quan
Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội. C.Mác đã viết: Con người chính là sản
phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Do đó con người thay đổi vẫn là sản phẩm
của hoàn cảnh, giáo dục đã thay đổi. V.I.Lênin cũng đã nhấn mạnh ý thức
chính trị, ý thức pháp luật được hình thành trong quá trình giáo dục của con
người. Ông cho rằng giáo dục là phương pháp hoạt động chính của các tổ
chức Đảng và các cơ quan Nhà nước.
Trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác định rõ vấn đề giáo
dục con người, Người viết: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện; tỉnh dậy phân ra
kẻ dữ - hiền; hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”
[22; 107]. Người cũng đã nhiều lần nhấn mạnh: Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã
hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa.
Như vậy sự hình thành ý thức cá nhân con người là sản phẩm của một
quá trình phức tạp, trong đó có nhiều yếu tố cùng ảnh hưởng và tác động.


20

Trong đó điều kiện khách quan là nhân tố ảnh hưởng còn nhân tố chủ quan là
nhân tố tác động. Nhân tố ảnh hưởng (khách quan) có thể tự phát theo chiều
này hoặc chiều khác, còn nhân tố tác động (chủ quan) bao giờ cũng là tự giác,
có ý thức, có chủ định theo một hướng xác định.

Nét đặc thù của giáo dục pháp luật khác tương đối so với các dạng giáo
dục khác ở những điểm sau:
Một là: Giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình. Đó là hoạt
động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy
định của pháp luật, làm cho công dân tự giác tuân thủ, có ý thức pháp luật
cao, góp phần tăng cường hiệu quả của pháp luật.
Hai là: Giáo dục pháp luật có nội dung riêng. Đó là sự tác động có định
hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải từ tri thức về Nhà nước và pháp luật
mà trong đó pháp luật thực định hiện hành của Nhà nước là bộ phận cơ bản
quan trọng nhất.
Ba là: Xét về yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương
pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra nét đặc thù riêng của giáo dục pháp luật.
Chẳng hạn như so với các dạng giáo dục thì giáo dục pháp luật là quá trình tác
động thường xuyên, liên tục, lâu dài hơn chứ không phải là sự tác động một
lần như là đối tượng giáo dục. Vì thế giáo dục pháp luật trở thành hoạt động
thường xuyên trong các gia đình, nhà trường, các tập thể lao động, các tổ chức
Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội.
1.1.2. Mục đích, chủ thể, đối tượng của giáo dục pháp luật
- Mục đích của giáo dục pháp luật
Mục đích của giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo nên cấu
trúc bên trong của giáo dục pháp luật. Việc xác định đúng đắn các mục đích
cần đạt được trong quá trình giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong
lý luận và thực tiễn giáo dục pháp luật. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay
giáo dục pháp luật được xác định có những mục đích cơ bản sau:
+ Thứ nhất: trang bị kiến thức.


22

Nâng cao dân trí nói chung, trình độ văn hóa pháp lý nói riêng, hình


luật, giáo dục lòng tin sâu sắc để từ đó tạo ra sự tự nguyện tuân thủ pháp luật
là hết sức quan trọng, nhằm hình thành thói quen và động cơ đúng đắn cho
các hành vi hợp pháp trong tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng
pháp luật.
- Chủ thể của giáo dục pháp luật
Như đã nêu ở trên giáo dục pháp luật về cơ bản là sự tác động có mục
đích và định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục. Do vậy, tất
cả những cá nhân, tổ chức đã tham gia góp phần vào thực hiện các mục tiêu
giáo dục pháp luật được gọi là chủ thể của giáo dục pháp luật. Chủ thể giáo
dục pháp luật được phân ra làm hai loại: Chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể
không chuyên nghiệp.
+ Chủ thể chuyên nghiệp: Là những người mà nhiệm vụ chủ yếu, trực
tiếp thường xuyên thực hiện giáo dục pháp luật như các báo cáo viên, tuyên
truyền viên về pháp luật ở hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã
hội các cấp, các phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên của các cơ quan
thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh truyền hình, tạp chí về chuyên mục
pháp luật và các nội dung liên quan đến pháp luật), các giảng viên dạy pháp
luật ở các trường, cán bộ và chuyên gia nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục pháp
luật tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức nghề nghiệp ngành luật, các tổ chức xã
hội. Đây là lực lượng nòng cốt của các chủ thể giáo dục pháp luật.
+ Chủ thể không chuyên nghiệp: Là những người làm việc ở nhiều lĩnh
vực với mục tiêu khác nhau, nhưng trong đó có nhiệm vụ thực hiện các mục
tiêu giáo dục pháp luật như: Đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND các cấp, cán
bộ các cơ quan hành pháp, cán bộ là thành viên của các tổ chức chính trị xã
hội, Đảng và đoàn thể, các Luật gia, Luật sư đang hành nghề dịch vụ, tư vấn
pháp luật, cán bộ nhân viên các ngành kinh tế, quản lý Nhà nước, công dân.
Như vậy, Hội liên hiệp phụ nữ cũng là một chủ thể của giáo dục pháp
luật - chủ thể không chuyên nghiệp.




25

Hội phụ nữ là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, thu hút, tập
hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ thành lực lượng mạnh mẽ thực hiện hai
chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
đang đứng trước những thời cơ và thách thức, nền kinh tế thị trường, sự phân
hóa giàu nghèo, vấn đề việc làm, đặc biệt sự thiếu hiểu biết về pháp luật của
các tầng lớp phụ nữ ... đang là vấn đề đặt ra cho tổ chức Hội phụ nữ trong thời
gian tới.
- Chức năng của Hội liên hiệp phụ nữ
Chức năng của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là: Đại diện, chăm lo,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia
xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Đoàn kết, vận động phụ nữ thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
vận động xã hội thực hiện Bình đẳng giới.
- Nhiệm vụ của Hội liên hiệp phụ nữ
1. Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng,
phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước;
2. Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận
động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh
phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ;
3. Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát
việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status